MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Nước là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá mà tự nhiên ban tặng cho con người, không có nước thì không có sự sống và cũng không có một hoạt động kinh tế nào có thể tồn tại được. Nước là khởi đầu và là nhu cầu thiết yếu của sự sống; là yếu tố quan trọng của sản xuất; là nhân tố chính để bảo đảm môi trường. Tuy vậy, nguồn tài nguyên nước đang ngày càng khan hiếm, khối lượng và chất lượng nước ngày càng suy giảm, hạn hán, lũ lụt xảy ra gay gắt ở cả quy mô, mức độ và thời gian trong khi nhu cầu sử dụng nước ngày càng tăng và đó chính là nguyên nhân đã gây ra khủng hoảng về nước ở nhiều nơi trên thế giới.
Trong những năm qua Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể về kinh tế, tốc độ phát triển kinh tế cao vì thế nhu cầu khai thác sử dụng nguồn nước phục vụ cho sản xuất, sinh hoạt cũng ngày càng tăng. Tuy nhiên, việc khai thác, sử dụng không đi kèm với công tác bảo vệ, phát triển bền vững thì trong tương lai tình trạng suy thoái cạn kiện nguồn nước là hậu quả không thể tránh khỏi. Để phát triển kinh tế - xã hội một cách bền vững thì công tác bảo vệ môi trường, bảo vệ tài nguyên nước cần được chú trọng. Hùng Sơn là thị trấn huyện lỵ của huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.
Thị trấn được thành lập vào ngày 13 tháng 12 năm 2013 bằng việc sáp nhập xã Hùng Sơn vào thị trấn Đại Từ và đổi tên thị trấn Đại Từ thành thị trấn Hùng Sơn. Sau khi điều chỉnh địa giới, thị trấn Hùng Sơn có diện tích 14. Nay thị trấn Hùng Sơn là một thị trấn lớn của huyện Đại Từ. Có khu tái định cư Nam sông Công.
Các khu tái định cư này phát triển kéo theo nhu cầu về nước sạch tăng cao. Nguồn nước sạch được lấy từ nhiều nguồn khác nhau như nước giếng đào, nước giếng khoan, nước từ xí nghiệp nước sạch Đại Từ được đặt ở khu tái định cư Nam sông Công. Để bảo vệ và sử dụng nguồn tài nguyên nước một cách hợp lý n 2 đồng thời có các biện pháp xử lý các nguồn nước trước khi sử dụng phục vụ sinh hoạt là điều hết sức cần thiết. Xuất phát từ thực tế tại huyện Đại Từ, tỉnh Thái nguyên đặc biệt là thị trấn Hùng Sơn, dưới sự hướng dẫn của TS.
Hà Xuân Linh, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá hiện trạng và đề xuất biện pháp xử lý nước sinh hoạt theo quy mô hộ gia đình tại thị trấn Hùng Sơn, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên” nhằm đánh giá chất lượng nước trên địa bàn nghiên cứu và đưa ra những kiến nghị trong việc khai thác, sử dụng đảm bảo chất lượng môi trường. Mục tiêu của đề tài 1. Mục tiêu chung Đánh giá được hiện trạng sử dụng và chất lượng nước sinh hoạt trên địa bàn thị trấn Hùng Sơn, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên. Mục tiêu cụ thể - Điều tra tình hình phát triển kinh tế - xã hội tại thị trấn Hùng Sơn, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.
- Đánh giá thực trạng quản lý khai thác và sử dụng nước sinh hoạt trên địa bàn thị trấn Hùng Sơn, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên. - Phân tích, đánh giá chất lượng nước sinh hoạt tại thị trấn Hùng Sơn, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên. - Đề xuất một số biện pháp xử lý nhằm nâng cao chất lượng nước sinh hoạt trên địa bàn thị trấn Hùng Sơn, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên. Ý nghĩa của đề tài 1.
Ý nghĩa khoa học - Cung cấp cơ sở lý luận của việc đánh giá chất lượng các nguồn nước phục vụ sinh hoạt trên địa bàn nghiên cứu. Ý nghĩa thực tiễn Những kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ là cơ sở cho công tác quản lý khai thác và sử dụng nguồn nước sinh hoạt trên địa bàn thị trấn Hùng Sơn, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên nói riêng và của tỉnh Thái Nguyên nói chung. n 3 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở pháp lý của đề tài - Luật tài nguyên nước số: 17/2012/QH13 Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 51/2001/QH10.
Đã được Quốc hội nước CHXHCNVN khóa XIII, kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 21/6/2012. - Luật bảo vệ Môi trường số 55/2014/QH13 được Quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 23/06/2014 và chủ tịch nước ký xác lệnh ban hành ngày 01/01/2015. - Nghị định số 162/2003/NĐ- CP ngày 19 tháng 12 năm 2003 của chính phủ ban hành quy chế thu thập, quản lý khai thác sử dụng dữ liệu thông tin về tài nguyên nước. - Nghị định số 117/2007/NĐ – CP ngày 11 tháng 7 năm 2007 chính phủ ban hành về sản xuất cung cấp và tiêu thụ nước sạch.
- Thông tư liên tịch số 48/2008/TTLT – BTC – BNN giữa Bộ Tài Chính và Bộ Nông Nghiệp ngày 12/6/2008 về sửa đổi bổ xung một số điểm thông tư liên tịch số 80/2007/TTLT – BTC – BNN ngày 11/7/2007 hướng dẫn chế độ quản lý sử dụng kinh phí ngân sách nhà nước chi cho chương trình mục tiêu quốc gia nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn giai đoạn 2006 – 2010. - Thông tư 16/2009/TT – BTNMT ngày 07 tháng 10 năm 2009 của bộ tài nguyên và môi trường quy định quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường Ngày 17-6-2009, Bộ Y tế đã ra Thông tư số 04/2009/TT- BYT về việc ban hành “Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước ăn uống”. Ban hành kèm theo Thông tư này là QCVN 01:2009/BYT “Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước ăn uống”. Thông tư có hiệu lực từ ngày 1-12-2009 và thay thế Quyết định số 1329/2002/BYT-QĐ ngày 18-4-2002 của Bộ trưởng Bộ Y tế về việc ban hành tiêu chuẩn vệ sinh nước ăn, uống.
n 4 Quy chuẩn 01 áp dụng đối với các cơ quan, tổ chức, cá nhân và hộ gia đình khai thác, kinh doanh nước ăn uống, bao gồm cả các cơ sở cấp nước tập trung dùng cho mục đích sinh hoạt có công suất từ 1.000 m3/ngày đêm trở lên. Quy định cụ thể về các chỉ tiêu cảm quan và thành phần vô cơ, hàm lượng của các chất hữu cơ, hóa chất bảo vệ thực vật, hóa chất khử trùng và sản phẩm phụ, mức nhiễm xạ, vi sinh vật. Trong đó chỉ tiêu cảm quan và thành phần vô cơ: Không có mùi, vị lạ; độ pH trong khoảng 6,5-8,5, độ cứng 300 mg/lít, hàm lượng nhôm 0,2 mg/lít, Amoni 3 mg/lít, Clorua 250-300 mg/lít… Quy chuẩn đưa ra chế độ giám sát chất lượng của cơ sở trước khi đưa nguồn nước vào sử dụng. Cơ quan có thẩm quyền kiểm tra, giám sát, xét nghiệm ít nhất 1 lần/tháng, 6 tháng, 2 năm.
Ngoài ra, sẽ giám sát đột xuất khi kết quả kiểm tra vệ sinh nguồn nước hoặc điều tra dịch tễ cho thấy nguồn nước có nguy cơ bị ô nhiễm và khi xảy ra sự cố môi trường có thể ảnh hưởng đến chất lượng vệ sinh nguồn nước. Ngày 17-6-2009, Bộ Y tế đã ra Thông tư số 05/2009/TT- BYT về việc ban hành “Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước sinh hoạt”. Ban hành kèm theo Thông tư này là QCVN 02:2009/BYT “Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước sinh hoạt”. Trong đó giới hạn các chỉ tiêu chất lượng: Không có mùi vị lạ, Clor dư trong khoảng 0,3-0,5 mg/lít, pH trong khoảng 6,0-8,5; hàm lượng Amoni tối đa 3mg/lít, sắt 0,5mg/lít, Clorua 300mg/lít, Florua 1,5mg/lít, Asen tối đa 0,05mg/lít.
Cơ sở cung cấp nước xét nghiệm tất cả các chỉ tiêu trước khi đưa nguồn nước vào sử dụng, định kỳ xét nghiệm ít nhất 1 lần/3 -6 tháng. Các cơ quan có thẩm quyền kiểm tra, giám sát, xét nghiệm ít nhất 6 tháng 1 lần, lấy mẫu nước tại 100% các cơ sở cung cấp nước trên địa bàn và lấy mẫu nước ngẫu nhiên tại hộ gia đình để xét nghiệm… - Quyết định số 81/2006/QĐ – TTg ngày 14 tháng 4 năm 2006 của thủ tướng chính phủ phê duyệt chiến lược quốc gia về tài nguyên nước đến năm 2020 - Quyết định số 51/2008/QĐ-BNN ngày 14 tháng 4 năm 2008 và Văn bản n 5 hướng dẫn số 3856/BNN-TL ngày 25 tháng 12 năm 2008, Quyết định số 2444/QĐ- BNN-TL ngày 31/8/2009 của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn về việc ban hành bộ chỉ số và hướng dẫn theo dõi, đánh giá nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn. - Quyết định 16/2008/QĐ – BTNMT ngày 31/12/2008 của bộ Tài nguyên và môi trường ban hành quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường + QCVN 08: 2008/BTNMT – quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước mặt. + QCVN 09: 2008/BTNMT – quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước ngầm.
- Thông tư số 39/2010/TT- BTNMT ngày 16 tháng 12 năm 2010 quy định quy chuẩn quốc gia. Hệ thống pháp luật và bảo vệ tài nguyên nước ra đời thể hiện sự quan tâm của Đảng và nhà nước ta trong việc tạo ra một khung pháp lý khả thi nhằm quản lý chặt chẽ các nguồn tài nguyên nước với việc hoàn thành luật tài nguyên nước đã từng bước đưa công tác quản lý và sử dụng nước ở nước ta đi dần vào nề nếp, nâng cao ý thức của người dân trong việc sử dụng hợp lý tiết kiệm nước đi đôi với bảo vệ chống ô nhiễm, nhiễm bẩn và làm cạn các nguồn nước. Trong những năm qua hệ thống pháp luật và bảo vệ tài nguyên nước ngày càng được bổ xung và hoàn thiện đã phát huy vai trò tích cực trong việc bảo vệ tài nguyên nước.