Luận văn: Đánh giá công chức hành chính tại huyện Như Xuân, Thanh Hóa

Luận văn phân tích thực trạng và hạn chế trong công tác đánh giá công chức hành chính tại huyện Như Xuân, Thanh Hóa, đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả.

Trường đại học

Học viện Khoa học Xã hội

Chuyên ngành

Luật học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2021

71
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Toàn cảnh đánh giá công chức huyện Như Xuân Nền tảng then chốt

Công tác đánh giá công chức là một khâu trọng yếu trong quản lý nguồn nhân lực, đặc biệt tại các cơ quan hành chính nhà nước. Tại huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hóa, hoạt động này không chỉ là yêu cầu pháp lý mà còn là công cụ nền tảng để xây dựng và phát triển địa phương. Luận văn thạc sĩ “Đánh giá công chức hành chính nhà nước từ thực tiễn huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hóa” của tác giả Trần Minh Dũng đã cung cấp một cái nhìn toàn diện về vấn đề này. Mục đích của việc đánh giá là làm rõ phẩm chất chính trị, đạo đức công vụ, năng lực chuyên môn và kết quả công việc. Kết quả này là căn cứ trực tiếp cho việc quy hoạch, bổ nhiệm, đào tạo, khen thưởng và kỷ luật. Một quy trình đánh giá công chức huyện Như Xuân hiệu quả sẽ góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ công chức, thúc đẩy cải cách hành chính Như Xuân, và cuối cùng là tăng cường sự hài lòng của người dân. Ngược lại, nếu công tác này mang tính hình thức, nể nang, nó sẽ làm suy giảm động lực phấn đấu, gây trì trệ trong bộ máy và ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu quả quản lý nhà nước. Do đó, việc nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp cho hoạt động này mang ý nghĩa khoa học và thực tiễn sâu sắc, đặc biệt trong bối cảnh huyện Như Xuân đang nỗ lực phát triển kinh tế - xã hội bền vững.

1.1. Vai trò của đánh giá trong nâng cao hiệu quả công tác cán bộ

Đánh giá công chức là hoạt động then chốt, quyết định đến hiệu quả công tác cán bộ. Nó cung cấp thông tin xác thực để người quản lý đưa ra các quyết định nhân sự đúng đắn. Một hệ thống đánh giá khách quan giúp nhận diện những cá nhân có năng lực, tận tụy để bồi dưỡng, phát triển. Đồng thời, nó cũng chỉ ra những công chức còn hạn chế về năng lực thực thi công vụ để có kế hoạch đào tạo hoặc bố trí công việc phù hợp. Như luận văn đã chỉ rõ, mục đích của đánh giá theo Luật Cán bộ, công chức 2008 là “làm rõ phẩm chất chính trị, đạo đức, năng lực, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao”. Kết quả này là cơ sở để thực hiện các chính sách đối với công chức, tạo động lực làm việc và cống hiến.

1.2. Các yếu tố chính trị pháp lý tác động đến quy trình đánh giá

Quá trình đánh giá công chức chịu ảnh hưởng mạnh mẽ từ các yếu tố chính trị và pháp lý. Về chính trị, chủ trương của Đảng về xây dựng đội ngũ cán bộ ngang tầm nhiệm vụ định hướng toàn bộ công tác này. Về pháp lý, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, đặc biệt là Luật Cán bộ, công chức và gần đây nhất là Nghị định 90/2020/NĐ-CP, đã tạo ra hành lang pháp lý cụ thể. Nghị định 90 đã chuẩn hóa quy trình đánh giá theo Nghị định 90 với các tiêu chí đánh giá công chức rõ ràng, định lượng hơn, gắn kết quả cá nhân với hiệu quả hoạt động của đơn vị. Sự ra đời của các quy định này đòi hỏi UBND huyện Như Xuân và các đơn vị phải thay đổi tư duy, chuyển từ đánh giá cảm tính sang đánh giá dựa trên kết quả và sản phẩm công việc cụ thể.

II. Thực trạng đánh giá công chức huyện Như Xuân Thách thức lớn

Mặc dù đã có nhiều nỗ lực, công tác đánh giá công chức huyện Như Xuân vẫn đối mặt với không ít thách thức và hạn chế. Luận văn đã chỉ ra một thực tế đáng suy ngẫm: việc đánh giá ở nhiều nơi còn mang nặng tính hình thức, nể nang và chưa phản ánh đúng thực chất. Tình trạng “dĩ hòa vi quý” vẫn còn phổ biến, dẫn đến kết quả đánh giá thường ở mức cao, ít có trường hợp không hoàn thành nhiệm vụ. Cụ thể, số liệu thống kê từ 2016-2020 cho thấy tỷ lệ công chức được xếp loại “Hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ” và “Hoàn thành tốt nhiệm vụ” luôn ở mức cao, trong khi số người bị xếp loại “Không hoàn thành nhiệm vụ” là rất thấp. Điều này tạo ra sự cào bằng, không khuyến khích được những người làm tốt và cũng không tạo áp lực để những người yếu kém phải phấn đấu. Thực trạng đội ngũ cán bộ huyện Như Xuân cho thấy, nếu không khắc phục được những hạn chế này, mục tiêu nâng cao chất lượng đội ngũ công chức và hiệu quả hoạt động của bộ máy hành chính sẽ khó có thể đạt được.

2.1. Hạn chế về tính khách quan và hiện tượng nể nang né tránh

Hạn chế lớn nhất được chỉ ra là sự thiếu khách quan trong đánh giá. Luận văn trích dẫn: “Việc đánh giá ở nhiều nơi còn cảm tính, hình thức, chiếu lệ; chưa lấy hiệu quả công việc làm thước đo chủ yếu”. Tâm lý nể nang, ngại va chạm, “dĩ hòa vi quý” đã làm sai lệch kết quả. Nhiều người đứng đầu không dám thẳng thắn chỉ ra yếu kém của cấp dưới vì sợ mất lòng. Điều này dẫn đến việc phân loại cán bộ công chức không chính xác, làm mất đi ý nghĩa của công tác đánh giá. Việc đánh giá chủ yếu diễn ra trong nội bộ, khép kín, thiếu sự tham gia giám sát từ các chủ thể bên ngoài như người dân và doanh nghiệp, càng làm gia tăng tính chủ quan.

2.2. Bất cập trong hệ thống tiêu chí và phương pháp đánh giá

Hệ thống tiêu chí đánh giá công chức dù đã được cải tiến nhưng khi áp dụng tại địa phương vẫn còn chung chung, chưa được lượng hóa và cá nhân hóa cho từng vị trí việc làm. Việc đánh giá vẫn nặng về định tính, dựa trên báo cáo thành tích và nhận xét chủ quan, thiếu các công cụ đo lường hiệu suất công việc (KPIs) cụ thể. Phương pháp đánh giá truyền thống như họp bình xét, bỏ phiếu vẫn là chủ đạo. Các phương pháp hiện đại, đa chiều (như đánh giá 360 độ, lấy ý kiến phản hồi từ người dân) chưa được áp dụng rộng rãi. Chính điều này khiến cho việc xác định năng lực thực thi công vụ của từng cá nhân trở nên khó khăn và thiếu chính xác.

III. Quy trình đánh giá công chức Như Xuân theo Nghị định 90 2020

Nghị định 90/2020/NĐ-CP của Chính phủ ra đời đã tạo ra một bước ngoặt trong công tác đánh giá công chức huyện Như Xuân nói riêng và cả nước nói chung. Văn bản này cung cấp một bộ khung pháp lý chặt chẽ, chi tiết và khoa học hơn. Trọng tâm của nghị định là lượng hóa các tiêu chí, gắn trách nhiệm cá nhân với kết quả hoạt động của tập thể, và đề cao trách nhiệm người đứng đầu. Việc áp dụng Nghị định 90 đòi hỏi các cơ quan, đơn vị tại huyện Như Xuân phải thay đổi toàn diện từ nhận thức đến cách thức tổ chức thực hiện. Quy trình đánh giá được chuẩn hóa qua các bước cụ thể: công chức tự đánh giá, tập thể góp ý, và người đứng đầu quyết định xếp loại. Sự thay đổi này nhằm mục tiêu khắc phục những hạn chế cố hữu như bệnh thành tích, sự nể nang, và đảm bảo kết quả đánh giá phản ánh đúng năng lực thực thi công vụ.

3.1. Bộ tiêu chí phân loại cán bộ công chức theo 4 cấp độ

Nghị định 90 quy định rõ 4 mức xếp loại chất lượng: Hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, Hoàn thành tốt nhiệm vụ, Hoàn thành nhiệm vụ, và Không hoàn thành nhiệm vụ. Mỗi mức xếp loại đều gắn với các tiêu chí đánh giá công chức cụ thể và có tính định lượng. Ví dụ, để đạt “Hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ”, công chức lãnh đạo phải đảm bảo đơn vị mình phụ trách hoàn thành 100% chỉ tiêu, trong đó ít nhất 50% hoàn thành vượt mức. Đối với công chức không giữ chức vụ lãnh đạo, phải có ít nhất 50% nhiệm vụ hoàn thành vượt mức. Các tiêu chí này buộc việc đánh giá phải dựa trên sản phẩm, kết quả công việc cụ thể, giảm thiểu sự cảm tính.

3.2. Trình tự thủ tục và thẩm quyền đánh giá theo quy định

Quy trình đánh giá theo Nghị định 90 được thực hiện bài bản. Đầu tiên, công chức tự viết bản kiểm điểm, tự nhận mức xếp loại. Tiếp theo, một cuộc họp tập thể được tổ chức để lắng nghe báo cáo và đóng góp ý kiến. Cuối cùng, người có thẩm quyền (thường là người đứng đầu cơ quan, đơn vị) sẽ xem xét toàn bộ hồ sơ, ý kiến góp ý và đưa ra quyết định cuối cùng về việc xếp loại. Thẩm quyền đánh giá được quy định rõ: cấp trên trực tiếp đánh giá cấp dưới. Đặc biệt, trách nhiệm người đứng đầu được nhấn mạnh, họ phải chịu trách nhiệm về kết quả đánh giá của đơn vị mình.

3.3. Tầm quan trọng của việc lưu trữ và công khai kết quả

Một điểm mới quan trọng của Nghị định 90 là quy định về việc lưu trữ hồ sơ và công khai kết quả đánh giá. Toàn bộ tài liệu, từ bản tự kiểm điểm, biên bản họp đến quyết định xếp loại, đều phải được lưu vào hồ sơ công chức. Kết quả đánh giá phải được thông báo bằng văn bản đến từng cá nhân và công khai trong đơn vị. Việc công khai này giúp tăng cường tính minh bạch, tạo cơ chế giám sát chéo và giúp công chức biết rõ điểm mạnh, điểm yếu của mình để khắc phục. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng để sử dụng kết quả đánh giá vào công tác cán bộ, đảm bảo tính liên thông và nhất quán.

IV. Giải pháp đột phá nâng cao chất lượng công chức huyện Như Xuân

Để công tác đánh giá công chức huyện Như Xuân đi vào thực chất và hiệu quả, cần có những giải pháp đồng bộ và quyết liệt. Dựa trên những phân tích từ luận văn, việc cải tiến không chỉ dừng lại ở việc áp dụng máy móc các quy định, mà cần một sự chuyển biến sâu sắc trong tư duy quản lý và văn hóa công vụ. Trọng tâm là phải xây dựng được một môi trường làm việc mà ở đó hiệu quả công việc là thước đo cao nhất. Các giải pháp cần tập trung vào việc hoàn thiện bộ tiêu chí đánh giá, đổi mới phương pháp, nâng cao nhận thức và trách nhiệm của các chủ thể tham gia, đồng thời tăng cường cơ chế giám sát từ bên ngoài. Mục tiêu cuối cùng là biến đánh giá thành đòn bẩy thực sự để nâng cao chất lượng đội ngũ công chức, từ đó thúc đẩy sự phát triển toàn diện của huyện.

4.1. Xây dựng bộ tiêu chí đánh giá gắn với vị trí việc làm

Một trong những giải pháp nâng cao chất lượng công chức cốt lõi là phải cụ thể hóa các tiêu chí đánh giá chung cho từng vị trí việc làm cụ thể. Thay vì áp dụng một bộ khung chung, UBND huyện Như Xuân cần chỉ đạo các phòng, ban, xã, thị trấn xây dựng các chỉ số đo lường hiệu suất (KPIs) riêng. Ví dụ, công chức bộ phận một cửa cần được đánh giá dựa trên sự hài lòng của người dân, thời gian giải quyết thủ tục. Công chức phòng Nông nghiệp cần được đánh giá dựa trên kết quả triển khai các mô hình kinh tế, hỗ trợ nông dân. Việc này giúp đánh giá trở nên chính xác, khách quan và thực chất hơn.

4.2. Đa dạng hóa phương pháp và chủ thể tham gia đánh giá

Cần thoát khỏi phương pháp đánh giá đơn điệu, khép kín. Nên thí điểm áp dụng các phương pháp hiện đại như đánh giá 360 độ, trong đó công chức được đánh giá bởi cấp trên, cấp dưới, đồng nghiệp và cả chính bản thân họ. Quan trọng hơn, cần xây dựng cơ chế để người dân và doanh nghiệp tham gia đánh giá, đặc biệt đối với các vị trí thường xuyên tiếp xúc. Điều này không chỉ nâng cao tính khách quan mà còn giúp cải thiện đạo đức công vụ và thái độ phục vụ của công chức. Các phiếu khảo sát sự hài lòng, hòm thư góp ý, đối thoại trực tiếp là những công cụ hữu hiệu cần được triển khai.

4.3. Nâng cao vai trò giám sát của Sở Nội vụ Thanh Hóa và nhân dân

Để tránh tình trạng nể nang, cục bộ, cần tăng cường vai trò giám sát, kiểm tra từ cơ quan cấp trên và từ xã hội. Sở Nội vụ Thanh Hóa cần có kế hoạch kiểm tra, thanh tra đột xuất hoặc định kỳ công tác đánh giá tại huyện. Đồng thời, cần phát huy vai trò giám sát của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội. Việc công khai kết quả đánh giá, đặc biệt là với các chức danh lãnh đạo, quản lý, sẽ tạo ra áp lực xã hội cần thiết, buộc quy trình đánh giá phải được thực hiện một cách nghiêm túc, công tâm, góp phần cải thiện hiệu quả công tác cán bộ.

04/10/2025
Luận văn đánh giá công chức hành chính nhà nước từ thực tiễn huyện như xuân tỉnh thanh hóa

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÔNG CHỨC VÀ ĐÁNH GIÁ CÔNG CHỨC HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC 1. Khái niệm công chức và đánh giá công chức hành chính nhà nước 1. Khái niệm công chức Công chức là một khái niệm không chỉ được sử dụng ở Việt Nam mà nhiều nước trên thế giới cũng đều sử dụng thuật ngữ này, để chỉ những người được tuyển dụng vào làm việc thường xuyên trong cơ quan, đơn vị của Nhà nước và được trả tiền lương từ sách ngân sách Nhà nước. Ở Việt Nam, quan niệm về công chức gắn với quá trình lịch sử của dân tộc, điều kiện kinh tế - xã hội, cách thức tổ chức bộ máy của Nhà nước.Theo Từ điển tiếng Việt, công chức được hiểu là: “người được tuyển dụng và bổ nhiệm giữ một công vụ thường xuyên trong cơ quan nhà nước, hưởng lương do ngân sách nhà nước cấp”[5,tr.

Hoặc là: “Người phải có đủ các điều kiện: tuyển dụng qua thi tuyển; được bổ nhiệm chính thức vào một ngạch; làm việc trong một công sở; trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Công chức nước nào phải là công dân nước đó” [17,tr. Sắc lệnh số 76/SL ngày 20/5/1950 của Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đã định nghĩa: “Những công Dân Việt Nam được chính quyền nhân dân tuyển để giữ một chức vụ thường xuyên trong các cơ quan Chính phủ, ở trong hay ở ngoài nước, đều là công chức theo Quy chế này, trừ những trường hợp riêng biệt do Chính phủ định” [43]. Như vậy theo sắc lệnh này pham vi quy định những người là công chức, chỉ là những công Dân Việt Nam được tuyển để giữ một chức vụ thường xuyên trong các cơ quan Chính phủ đều là công chức và những trường hợp riêng biệt khác do Chính phủ quy định.

9 Theo Pháp lệnh của Ủy Ban thường vụ Quốc hội số 2-L/CTN ngày 26 tháng 02 năm 1998 quy định: “Công dân Việt Nam, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước, bao gồm: Những người do bầu cử để đảm nhiệm chức vụ theo nhiệm kỳ trong các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội; Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc được giao nhiệm vụ thường xuyên làm việc trong tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội; Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc giao giữ một công vụ thường xuyên, được phân loại theo trình độ đào tạo, ngành chuyên môn, được xếp vào một ngạch hành chính, sự nghiệp trong các cơ quan nhà nước; mỗi ngạch thể hiện chức và cấp về chuyên môn nghiệp vụ, có chức danh tiêu chuẩn riêng; Thẩm phán Toà án nhân dân, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân; Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc được giao nhiệm vụ thường xuyên làm việc trong các cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; làm việc trong các cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp” [44]. Đến Luật cán bộ, công chức năm 2008 quy định: “Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật” [30]. 10 Để thu hẹp lại đối tượng là công chức, Luật sửa đổi một số điều của Luật cán bộ, công chức và Luật Viên chức năm 2019 quy định: “Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh tương ứng với vị trí việc làm trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan phục vụ theo chế độ chuyên nghiệp, công nhân công an, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Theo quy định này, những người được coi là công chức đã thu hẹp lại, những người là lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập không phải là công chức; công chức chỉ bao gồm người được tuyển dụng, bổ nhiệm giữ một công vụ thường xuyên, làm việc trong một cơ quan nhà nước (hoặc cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân hay Công an nhân dân mà không phải là sỹ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng), được phân loại theo trình độ đào tạo, ngành chuyên môn, được xếp vào một ngạch hành chính, sự nghiệp, trong biên chế và được hưởng lương từ ngân sách nhà nước.

Khái niệm đánh giá công chức hành chính nhà nước “Công chức Việt Nam là những công dân giữ một nhiệm vụ trong bộ máy Nhà nước của chính quyền nhân dân, dưới sự lãnh đạo tối cao của Chính phủ. Vậy người công chức phải đem tất cả sức lực và tâm trí, theo đúng đường lối của Chính phủ và nhằm lợi ích của nhân dân mà làm việc. Đi đôi với nhiệm vụ trên, công chức Việt Nam cần có một địa vị xứng đáng với tài năng của mình” [43]. Sản phẩm lao động của họ là các văn bản quy phạm pháp luật hoặc các văn bản quản lý để thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước, thi hành pháp luật, đưa pháp luật vào cuộc sống.

Nhân danh quyền lực nhà nước, phục vụ nhân dân, thực hiện lý tưởng phụng sự Tổ quốc là đặc điểm 11 nổi bật và duy nhất của nguồn nhân lực hành chính nhà nước. Người công chức trong bộ máy hành chính nhà nước được trao quyền để thực thi công vụ, đồng thời họ có bổn phận phục vụ xã hội và chịu những ràng buộc nhất định do liên quan đến các chức trách đang đảm nhiệm. Để thực hiện công vụ, người công chức được Nhà nước cung cấp những điều kiện cần thiết để tiến hành thực thi công vụ, được đảm bảo các quyền lợi vật chất và tinh thần như hưởng lương từ ngân sách nhà nước tương xứng với chức trách và công việc, nhận lương hưu khi đủ thời gian cống hiến, được khen thưởng. Sự đảm bảo quyền lợi cho nguồn nhân lực này có tính chất ổn định lâu dài, giúp cho họ yên tâm công tác”[6,tr9].

Chức năng cơ bản của công chức hành chính nhà nước là thực thi công vụ, thực thi quyền lực nhà nước, thực thi pháp luật; đây là một dạng lao động đặc thù và phức tạp không cho phép sai sót, không được vi phạm. Đồng thời, qua thực tiễn hoạt động, chính đội ngũ cán bộ, công chức hành chính Nhà nước là lực lượng tham mưu đề xuất những chủ trương chính sách, tổ chức thực hiện nhiệm vụ quản lý xã hội. Vì vậy, công chức hành chính nhà nước phải am hiểu và tinh thông pháp luật, nắm vững chuyên môn nghiệp vụ, phải am hiểu sâu sắc lĩnh vực chuyên môn của mình, thực hiện đúng các quy định mà pháp luật cho phép công chức được làm và không được làm. Trong giai đoạn hiện nay, các hiện tượng xã hội ngày càng phức tạp, đối tượng điều chỉnh của pháp luật ngày càng mở rộng và phức tạp hơn, yêu cầu của người dân về chất lượng quản lý và dịch vụ công ngày càng cao nhưng các cơ quan hành chính nhà nước không thể tuyển dụng một cách tự do bởi vì nó liên quan đến hàng loạt các chế độ chính sách cho người lao động trong khu vực hành chính công.

Từ đó cần có giải pháp nâng cao chất lượng công chức thông qua tuyển dụng, khuyến khích, thu hút nhân tài; tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực hiện có để tạo ra đội ngũ công chức hành chính Nhà nước có đủ năng lực chuyên môn, nghiệp vụ đáp ứng tốt yêu cầu quản lý Nhà 12 nước trong giai đoạn hiện nay. Bên cạnh đó việc đánh giá công chức hành chính nhà nước nếu đáp ứng các yêu cầu đặt ra sẽ có ý nghĩa hết sức quan trọng, đánh giá tốt sẽ từng bước xây dựng được đội ngũ công chức hành chính tốt, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ chuyên môn; ngược lại đánh giá không tốt sẽ tạo ra đội ngũ công chức hành chính kém về năng lực, thiếu trách nhiệm, hiệu quả công việc của công chức sẽ không cao, sản phẩm của đội ngũ công chức này tạo ra không đạt yêu cầu quản lý. Luật CBCC năm 2008 quy định mục đích đánh giá công chức: “Đánh giá công chức để làm rõ phẩm chất chính trị, đạo đức, năng lực, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao. Kết quả đánh giá là căn cứ để bố trí, sử dụng, bổ nhiệm, đào tạo, bồi dưỡng, khen thưởng, kỷ luật và thực hiện chính sách đối với công chức”.

Công chức được đánh giá theo các nội dung: Chấp hành đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước; phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, tác phong và lề lối làm việc; năng lực, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ; tiến độ và kết quả thực hiện nhiệm vụ; tinh thần trách nhiệm và phối hợp trong thực hiện nhiệm vụ; thái độ phục vụ nhân dân. Ngoài những quy định trên công chức lãnh đạo, quản lý còn được đánh giá theo các nội dung: Kết quả hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị được giao lãnh đạo, quản lý; năng lực lãnh đạo, quản lý; năng lực tập hợp, đoàn kết công chức. Việc đánh giá công chức được thực hiện hàng năm, trước khi bổ nhiệm, quy hoạch, điều động, đào tạo, bồi dưỡng, khi kết thúc thời gian luân chuyển, biệt phái. Căn cứ vào kết quả đánh giá, công chức được phân loại đánh giá theo các mức: Hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ; hoàn thành tốt nhiệm vụ; hoàn thành nhiệm vụ nhưng còn hạn chế về năng lực và không hoàn thành nhiệm vụ.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ