Chương 1: Tổng quan nghiên cứu về năng lực cạnh tranh dịch vụ gia công của công ty cổ phần may Đông Mỹ trên thị trường miền Bắc Chương 2: Tóm lược một số vấn đề lí luận cơ bản về nâng cao năng lực cạnh tranh dịch vụ gia công Chương 3: Phân tích các kết quả nghiên cứu về thực trạng nâng cao năng lực cạnh tranh dịch vụ gia công của công ty cổ phần may Đông Mỹ trên thị trường miền Bắc Chương 4: Các kết luận và đề xuất về năng lực cạnh tranh dịch vụ gia công của công ty cổ phần may Đông Mỹ trên thị trường miền Bắc GVHD: PGS.TS Phạm Thúy Hồng 6 SVTH: Hoàng Thị Vinh LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Khóa luận tốt nghiệp Khoa: Marketing CHƯƠNG 2: TÓM LƯỢC MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CƠ BẢN VỀ NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH SẢN PHẨM –DỊCH VỤ CỦA CÔNG TY KINH DOANH 2.Một số định nghĩa, khái niệm cơ bản về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh sản phẩm dịch vụ 2. Khái niệm cạnh tranh, các cấp độ cạnh tranh và đặc điểm của cạnh tranh a. Khái niệm về cạnh tranh Cạnh tranh nói chung, cạnh tranh trong kinh tế nói riêng là một khái niệm có nhiều cách hiểu khác nhau. Khái niệm này được sử dụng cho cả phạm vi doanh nghiệp, phạm vi ngành, phạm vi quốc gia hoặc phạm vi khu vực liên quốc gia vv.điều này chỉ khác nhau ở chỗ mục tiêu được đặt ra ở chỗ quy mô doanh nghiệp hay ở quốc gia mà thôi.
- Theo Từ điển Bách khoa Việt nam (tập 1) Cạnh tranh (trong kinh doanh) là hoạt động tranh đua giữa những người sản xuất hàng hoá, giữa các thương nhân, các nhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, chi phối quan hệ cung cầu, nhằm dành các điều kiện sản xuất , tiêu thụ thị trường có lợi nhất. -Thuật ngữ "Cạnh tranh" được sử dụng rất phổ biến hiện nay trong nhiều lĩnh vực như kinh tế, thương mại, luật, chính trị, quân sự, sinh thái, thể thao. Theo nhà kinh tế học Michael Porter của Mỹ thì: Cạnh tranh (kinh tế) là giành lấy thị phần. Bản chất của cạnh tranh là tìm kiếm lợi nhuận, là khoản lợi nhuận cao hơn mức lợi nhuận trung bình mà doanh nghiệp đang có.
Kết quả quá trình cạnh tranh là sự bình quân hóa lợi nhuận trong ngành theo chiều hướng cải thiện sâu dẫn đến hệ quả giá cả có thể giảm đi. -Ở góc độ thương mại, cạnh tranh là một trận chiến giữa các doanh nghiệp và các ngành kinh doanh nhằm chiếm được sự chấp nhận và lòng trung thành của khách hàng. Hệ thống doanh nghiệp tự do đảm bảo cho các ngành có thể tự mình đưa ra các quyết định về mặt hàng cần sản xuất, phương thức sản xuất, và tự định giá cho sản phẩm hay dịch vụ. Như vậy hiểu một nghĩa chung nhất, cạnh tranh là sự ganh đua giữa các doanh nghiệp,các tổ chức kinh tế trong việc giành giật thị trường và khách hàng và các điều kiện thuận lợi trong các hoạt động sản xuất kinh doanh.
Thực chất của cạnh tranh là sự tranh giành về lợi ích kinh tế giữa các chủ thể tham gia thị trường.TS Phạm Thúy Hồng 7 SVTH: Hoàng Thị Vinh LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Khóa luận tốt nghiệp Khoa: Marketing Cạnh tranh là một điều tất yếu khách quan của nền kinh tế thị trường. Các doanh nghiệp bắt buộc phải chấp nhận cạnh tranh, ganh đua với nhau , phải luôn không ngừng tiến bộ để giành được ưu thế tương đối so với đối thủ. Các cấp độ cạnh tranh Canh tranh được xem xét ở các cấp độ khác nhau như: + Cạnh tranh cấp quốc gia + Cạnh tranh cấp ngành + Cạnh tranh cấp doanh nghiệp + Cạnh tranh sản phẩm dịch vụ c. Đặc điểm của cạnh tranh Cạnh tranh kinh tế là một quy luật của sản xuất hàng hóa.
Vì trong sản xuất hàng hóa sự tách biệt tương đối giữa những người sản xuất, sự phân công lao động trong xã hội tất yếu dẫn đến sự cạnh tranh để dành được những điều kiện thuận lợi hơn như: gần nguồn nguyên liệu, nhân công rẻ,gần thị trường tiêu thụ, giao thông vận tải tốt, khoa học kỹ thuật phát triển….nhằm giảm mức hao phí lao động để thu được nhiều lãi. Cạnh tranh cũng là một nhu cầu tất yếu của hoạt động kinh tế trong cơ chế thị trường, nhằm mục đích chiếm lĩnh thị phần, tiêu thụ được nhiều sản phẩm hàng hóa để đạt được lợi nhuận cao nhất. Khái niệm năng lực cạnh tranh Năng lực cạnh tranh đã và đang là chủ đề bàn luận nhiều ở các nước phát triển và đang phát triền vì tầm quan trọng của nó đối với sự phát triển của nền kinh tế trong một thế giới ngày càng mở cửa và hội nhập. Mặc dù các nhà kinh tế thống nhất với nhau về tầm quan trọng nhưng lại có những nhận thức khác nhau về khái niệm năng lực cạnh tranh -Năng lực cạnh tranh, khả năng dành được thị phần lớn trước các đối thủ cạnh tranh trên thị trường, kể cả khả năng dành lại một phần hay toàn bộ thị phần của đồng nghiệp (theo từ điển thuật ngữ kinh tế học, 2001, NXB từ điển Bách khoa Hà Nội, trang 349).
- Theo như tác giả giáo trình quản trị chiến lược_ NXB Đại học kinh tế quốc dân thì: “Năng lực cạnh tranh là toàn bộ những khả năng năng lực mà doanh nghiệp có thể duy trì vi trí của nó trên thị trường cạnh tranh một cách lâu dài” GVHD: PGS.TS Phạm Thúy Hồng 8 SVTH: Hoàng Thị Vinh LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Khóa luận tốt nghiệp Khoa: Marketing - Năm 1998, Bộ thương mại và công nghiệp Anh đưa ra định nghĩa “ Đối với doanh nghiệp năng lực cạnh tranh là khả năng sản xuất đúng sản phẩm, xác định giá cả và vào đúng thời điểm. Điều đó có nghĩa là đáp ứng nhu cầu khách hàng với đúng hiệu suất và hiệu quả hơn các doanh nghiệp khác” 2. Khái niệm sản phẩm, dịch vụ và đặc điểm của dịch vụ a. Khái niệm sản phẩm Sản phẩm là bất cứ gì có thể đưa vào một thị trường để tạo sự chú ý, mua sắm, sử dụng hay tiêu thụ nhằm thỏa mãn một nhu cầu hay ước muốn.
Nó có thể là những vật thể, những dịch vụ, những con người, những địa điểm, những tổ chức và những ý nghĩ. Phân loại sản phẩm: + Theo hình thức tồn tại sản phẩm gồm Dịch vụ là loại sản phẩm vô hình mang lại cho người dùng một ích lợi vật chất, lợi ích tinh thần nào đó. Con người không thể cảm nhận dịch vụ thông qua các giác quan như nghe, nhìn, nếm, ngửi, tiếp xúc. Điều này làm cho việc bán dịch vụ khó khăn hơn.
Hàng hóa là loại sản phẩm hữu hình mà con người có thể tiếp xúc thông qua các giác quan để cảm nhận những yếu tố vật chất của nó. + Phân loại theo mục đích sử dụng gồm: hàng hóa tiêu dùng và hàng hóa tư liệu sản xuất + Phân loại hàng hóa tiêu dùng theo thời gian sử dụng gồm: hàng hoá lâu bền và hàng hoá sử dụng ngắn hạn +Một số cách phân loại khác như theo thói quen mua, theo tư liệu sản xuất… b. Khái niệm dịch vụ Cho đến nay có nhiêud tác giả đưa ra khái niệm về dịch vụ, song nhìn chung dịch vụ (theo ISO 8402) được hiểu là: “Dịch vụ là kết quả của hoạt động sinh ra do tiếp xúc giữa bên cung ứng và khách hàng và các hoạt động nội bộ bên cung ứng để đáp ứng nhu cầu của khách hàng.” Hoạt động dịch vụ có thể tác động trực tiếp đến người tiêu dùng dịch vụ hoặc các tài sản của khách hàng làm tăng giá trị sử dụng và giá trị tài sản. Theo Philip Kotler một dịch vụ là bất kỳ hoạt động hoặc lợi ích mà một bên có thể cống hiến cho bên kia, thực chất là có tính chất vô hình và không dấn đến việc sở GVHD: PGS.TS Phạm Thúy Hồng 9 SVTH: Hoàng Thị Vinh LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Khóa luận tốt nghiệp Khoa: Marketing hữu bất kỳ món gì.
Việc sản xuất ra nó có thể hoặc không hề bị ràng buộc với một sản phẩm vật chất. Đặc điểm của dịch vụ Một là, sản phẩm dịch vụ có tính vô hình. Khác với sản phẩm vật chất, sản phẩm dịch vụ không thể nhìn thấy, tiếp xúc hay sờ được trước lúc mua song mức độ vô hình ở các dịch vụ khác nhau có thể khác. Vì vậy rất khó để đánh giá được lợi ịch của việc sử dụng trươcs lúc mua và dẫn tới việc lựa chọn mua dịch vụ cũng khó khăn hơn.
Do đó dự biểu lộ các yếu rố vật chất (nhà xưởng, máy móc, phương tiện công nghệ những phương tiện chuyển giao dịch vụ cho khách hàng và marketing quảng cáo chào hàng.)đóng một vai trò quan trọng. Doanh nghiệp cần phải bằng mọi cách tác động đến người mua để họ nhanh chóng thấy được lợi ích của việc sử dụng dịch vụ, tiện nghi và chất lượng dịch vụ cũng như sự hợp lý của giá cả dịch vụ. Hai là, tính chất không xác định của chất lượng dịch vụ: Chất lượng dịch vụ trước hết phụ thuộc vào người tạo ra chúng vì những người tạo ra sản phẩm dịch vụ có khả năng khác nhau và trong những điều kiện môi trường hoàn cảnh, trạng thái khác nhau có thể dẫn tới chất lượng không giống nhau, nhất là trong điều kiện không được tiêu chuẩn hóa (máy móc, tay nghề, công nghệ…). Sau nữa chat lượng dịch vụ lại phụ thuộc vào sự cảm nhận của khách hàng.
Vì vậy, tiêu thụ sản phẩm dịch vụ cũng nảy sinh nhiều vấn đề khó khăn hơn với tiêu thụ sản phẩm vật chất. Ba là, tính bất khả phân là tính chất không tách rời giữa việc tạo ra sản phẩm dịch vụ với tiêu dùng sản phẩm dịch vụ. những người tiêu dùng sản phẩm dịch vụ cũng tham gia vào hình thành và hoàn thiện sản phẩm dịch vụ. Do đó, người cung cấp dịch vụ phải nhanh nhạy, và ứng xử kịp thời với những góp ý đòi hỏi của người tiêu dùng dịch vụ mới có thể đáp ứng tốt được yêu cầu của khách hàng.
Bốn là, sự tồn kho của dịch vụ khó khăn hơn so với hàng hóa ( hay đúng hơn là sản phẩm dịch vụ không thể cất giữ trong kho) dấn tới chi phí dịch vụ có thể rất cao vì trong khi người cung cấp dịch vụ đã sẵn sàng thì lại không có khách mua dịch vụ mà người cung cấp vẫn phải chịu những chi phí cố định cao. Điều đó giải thích tại sao giá cả một số loại dịch vụ mà khách hàng theo thời vụ hoặc không thường xuyên khá cao như khách sạn, bệnh viện.