Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Những nghiên cứu về hệ thực vật và thảm thực vật 1. Trên thế giới Trên thế giới, những nghiên cứu về khu hệ thực vật đã được tiến hành từ khá lâu, thông thường là nghiên cứu thành phần thực vật của từng vùng trên từng loại thảm thực vật khác nhau. Ở Liên Xô, có các công trình nghiên cứu với loại hình thảo nguyên, đồng cỏ của tác giả như: Aleokhin (1904), Graxits (1927), sennhicop (1983).
Đã từ lâu người ta đã nhận thức được rằng khu hệ thực vật gồm các loài cây cỏ phân bố ở một địa phương và sắp xếp trong hệ thống phân loại tự nhiên. Ở Việt Nam Nghiên cứu về khu hệ thực vật được tiến hành khá muộn so với thế giới. Tuy nhiên kể từ đó cho đến nay, các nhà nghiên cứu đã công bố một số công trình về thảm thực vật. Từ năm 1905 - 1952, trong bộ Thực vật chí tổng quát của Đông Dương đã liệt kê được 7.004 loài thực vật bậc cao thuộc 1.
Năm 1962, Thomasius khi nghiên cứu thảm thực vật vùng Quảng Ninh đã phân loại và đề cập tới kiểu rừng thứ sinh hình thành do tác động của con người và động vật. Các tác giả Nguyễn Đình Ngỗi và Võ Văn Chi (1964) đã nghiên cứu về thàn phần loài của thảm cỏ vùng Hữu Lũng (Lạng Sơn) và gọi loại hình này là savan cỏ [8]. Phan Nguyên Hồng (1970) nghiên cứu đặc điểm phân bố sinh thái của thực vật vùng ven biển miền Bắc Việt Nam đã chia thảm thực vật này thành rừng ngập mặn, rừng gỗ bờ biển và thảm thực vật trên bãi cát trống ở bờ biển [22]. Hoàng Chung (1980) đã công bố thành phần loài thu được là 233 loài thuộc 54 họ và 44 bộ khi nhiên cứu đồng cỏ vùng núi phía Bắc Việt Nam.
Trong công trình này, tác giả đã đưa ra 18 kiểu dạng sống cơ bản và bảng phân loại kiểu đồng 5 download by : skknchat@gmail.com cỏ, savan, thảo nguyên và đề ra những biện pháp sử dụng hợp lý đồng cỏ [12]. Nguyễn Tiến Bân (1984) cùng tập thể tác giả đã công bố kết quả nghiên cứu hệ thực vật ở Tây Nguyên trong công trình “Danh mục thực vật Tây Nguyên” với 3000 loài, chiếm gần ½ số loài đã chết ở Đông Dương [2]. Lê Ngọc Công và Hoàng Chung (1994) nghiên cứu về quần hệ savan cây bụi trên vùng đồi trung du Bắc Thái (cũ), về một số mô hình rừng khoanh nuôi phục hồi, một số mô hình rừng trồng và đề xuất các mô hình có khả năng phục nhanh và cải tạo môi trường tốt [14]. Lê Ngọc Công (1998) khi nghiên cứu tác dụng cải tao môi trường của một số mô hình rừng trồng trên vùng đồi núi trung du ở một số tỉnh phía Bắc nước ta đã thống kê được 211 loài thuộc 64 họ [15].
Lương Thị Thanh Huyền (2009) đã thống kê được 109 loài cây tái sinh trong một số trạng thái thảm thực vật thứ sinh tại xã Xuân Long, huyện yên Bình, tỉnh Yên Bái [23]. Ma Thị Ngọc Mai, Lê Đồng Tấn (2009) khi nghiên cứu thành phần cây tái sinh dưới tán rừng thứ sinh ở trạm Đạ dạng sinh học Mê Linh, Vĩnh Phúc đã thống kê được 33 loài cây tái sinh, trong đó có 7 loài đạt hệ số tổ thành trên 5% [28]. Sỹ Danh Thường (2009) đã có nhận định rằng họ Màn màn ở Việt Nam là họ không lớn, chỉ có khoảng 55 loài nhưng lại có giá trị kinh tế về nhiều mặt như: làm thuốc, làm rau ăn, lấy gỗ, làm cảnh., mặt khác họ này còn có giá trị khoa học như được sử dụng nhiều trong nghiên cứu di truyền học, tế bào học. Những nghiên cứu về dạng sống thực vật Dạng sống là kết quả thích nghi lâu dài của thực vật với môi trường sống.
Nó liên quan chặt chẽ với các điều kiện khí hậu và các nhân tố sinh thái của từng vùng. Cùng với sự nghiên cứu về thảm thực vật và phân loại thảm thực vât, các nghiên cứu về dạng sống thực vật cũng được tiến hành đồng thời từ rất sớm. Mỗi tác giả đều có các công trình nghiên cứu ở các địa phương 6 download by : skknchat@gmail.com khác nhau. Trên thế giới, việc nghiên cứu về thành phần dạng sống được các tác giả tiến hành khá sớm.
Schow (1823) nghiên cứu về sự phân bố của thực vật và cho rằng: cách mọc được hiểu và đặc điểm phân bố của loài trong quần xã.Patsoxki (1915) đã chia thực vật thành 6 nhóm: - Thực vật thường xanh - Thực vật rụng lá vào thời kỳ bất lợi trong năm - Thực vật tàn lụi vào thời kỳ bất lợi - Thực vật có thời kỳ sinh trưởng, phát triển ngắn - Thực vật có thời kỳ sinh trưởng, phát triển lâu năm K. - Cây có chồi sát mặt đất (Chanmaetophytes - Ch). - Cây có chồi nửa ẩn (Hemicryptophytes - He). - Cây chồi ẩn (Cryptophytes - Cr).
- Cây sống một năm (Therophytes - Th). Ở Việt Nam, dạng sống được nghiên cứu muộn hơn so với thế giới và cũng có không nhiều công trình nghiên cứu của các tác giả. Phan Nguyên Hồng (1991) đã chia ra 7 dạng sống cơ bản khi nghiên cứu thành phần loài cây ngập mặn: cây gỗ, cây bụi, cây thân cỏ, cây leo, gỗ thấp hoặc dạng bụi, ký sinh, bì sinh [22]. Nhiều tác giả khác đã chia thành 4 dạng sống cơ bản là: Thân gỗ, thân thảo, thân bụi, thân leo Lê Ngọc Công, 2004 [16]) Vũ Thị Liên (2005) [27] khi phân chia dạng sống thực vật trong thảm thực 7 download by : skknchat@gmail.com vật sau nương rẫy ở Sơn La đã lập được công thức phổ dạng sống: SB = 69,69Ph + 3,76Ch + 9,29He + 10,84Cr + 6,42Th.
Những nghiên cứu về yếu tố địa lý cấu thành hệ thực vật Những nghiên cứu đầu tiên về yếu tố cấu thành hệ thực vật Việt Nam về mặt địa lý, trước tiên phải kể đến công trình của Gagnepain (1926) (dẫn theo Thái Văn Trừng [37]): “Góp phần nghiên cứu hệ thực vật Đông Dương” bao gồm các yếu tố: Yếu tố Trung Quốc 33,8% Yếu tố Xích kim- Himalaya 18,5% Yếu tố Malaysia và nhiệt đới khác 15% Yếu tố đặc hữu bán đảo Đông Dương 11,9% Yếu tố nhập nội và phân bố rộng 20,8% Theo Pócs Tamás (1965) (dẫn theo Nguyễn Nghĩa Thìn (2004) [31]) khi nghiên cứu hệ thực vật miền Bắc Việt Nam đã phân tích về phương diện địa lý thực vật và phân biệt các yếu tố như sau: + Nhân tố đặc hữu 39,9% Đặc hữu Việt Nam 32,55% Đặc hữu Đông Dương 7,35% + Nhân tố di cư từ các vùng nhiệt đới 55,27% Từ Ấn Độ và Hymalaya 9,33% Từ Malaysia- Indonesia 25,60% Từ các vùng nhiệt đới khác 7,36% + Nhân tố khác 4,83% Ôn đới 3,27% Thế giới 1,56% + Nhân tố nhập nội, trồng trọt 3,08% Tổng: 100% Thái Văn Trừng (1978) [37] căn cứ vào bảng thống kê các loài hệ thực 8 download by : skknchat@gmail.com vật Bắc Việt Nam và cho rằng, ở Việt Nam có 3% số chi và 27,5% số loài đặc hữu. Tác giả đã gộp các nhân tố di cư từ Nam Trung Hoa và nhân tố đặc hữu bản địa Việt Nam làm một và căn cứ vào khu phân bố hiện tại, nguồn gốc phát sinh thì loài đặc hữu bản địa lên 50%, còn yếu tố di cư chiếm tỉ lệ 39% trong đó yếu tố từ Malaysia- Indonesia là 15%, từ Malaysia - Vân Nam - Quí Châu là 10% và từ Ấn Độ- Miến Điện là 14%. Các nhân tố khác theo tác giả chỉ chiếm 11% (7% nhiệt đới, 3% ôn đới, 1% thế giới), nhân tố nhập nội vẫn là 3,08%. Theo nguyên tắc do Pócs T.
đề ra, Lê Trần Chấn và nhóm cộng sự (1999) [11] đã đưa ra hệ thống phân loại về yếu tố địa lý đã sắp xếp 10.193 loài trong hệ thực vật Việt Nam vào 20 yếu tố địa lý. Những loài chưa xếp được do chỉ xác định đến chi hoặc là những loài chỉ mới ghi nhận là gần đúng. Cụ thể hệ thống phân loại như sau: 1. Yếu tố đặc hữu Bắc Bộ: có 768 loài chiếm 7,5% tổng số loài hệ thực vật Việt Nam.
Khu phân bố nằm trong ranh giới các tỉnh Bắc Bộ. Yếu tố đặc hữu Trung Bộ: 902 loài chiếm 8,8% tổng số loài. Khu phân bố nằm trong phạm vi ranh giới hành chính Trung Bộ cũ. Yếu tố đặc hữu Nam Bộ: gồm 272 loài chiếm tỉ lệ 2,6% tổng số loài.
Khu phân bố nằm trong ranh giới hành chính Nam Bộ cũ. Yếu tố đặc hữu Việt Nam: có 280 loài chiếm tỉ lệ 2,7% tổng số loài. Khu phân bố nằm trong phạm vi nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam 5. Yếu tố Đông Dương (Theo nghĩa rộng): có 2686 loài chiếm tỉ lệ 26,3% tổng số loài.
Khu phân bố: Việt Nam, Lào, Campuchia, toàn bộ phần nhiệt đới của Myanma, Thái Lan (trừ phần cực nam). Yếu tố Nam Trung Quốc: có 747 loài chiếm tỉ lệ 7,3% bao gồm các loài phân bố ở Việt Nam và phần Tây Nam và Nam Trung Quốc. Yếu tố Hải Nam, Đài Loan, Philippin: có 262 loài chiếm 2,5%. Bao gồm các loài phân bố ở Việt Nam, Hải Nam, Đài Loan, Philippin.Yếu tố Hymalaya: gồm 79 loài phân bố ở phần trước núi nhiệt đới của dãy 9 download by : skknchat@gmail.
Các loài này còn có thể phân bố ở Lào, Camphuchia, Thái lan, Myanma. Yếu tố Ấn Độ: 1289 loài chiếm 12,6% tổng số loài bao gồm loài phân bố ở cả Đông Dương và Ấn Độ. Yếu tố Malaysia: gồm 247 loài chiếm 2,4% bao gồm các loài phân bố ở Việt Nam, bán đảo Malaysia và các đảo thuộc Malaysia.Yếu tố Malaysia - Indonesia: có 152 loài chiếm 1,4%, phân bố ở Việt Nam, Malaysia và Indonesia 12. Yếu tố Malaysia - Indonesia - Châu Úc: có 46 loài phân bố ở Việt Nam, Malaysia, Indonesia và Châu Úc.
Yếu tố Châu Á nhiệt đới: 1178 loài chiếm tỉ lệ 11,6%. Phân bố ở Ấn Độ, Đông Dương, Malaysia, Indonesia, Philippin và các đảo Thái Bình Dương. Yếu tố cổ nhiệt đới: 189 loài, phân bố vùng nhiệt đới châu Á và châu Phi. Yếu tố tân nhiệt đới và liên nhiệt đới: có 139 loài chiếm tỉ lệ 1,4%.
Phân bố ở nhiệt đới Châu Mỹ, nhiệt đới Châu Á, nhiệt đới Châu Phi. Yếu tố Đông Á: có 206 loài chiếm tỉ lệ 2%. Phân bố Triều Tiên, Nhật Bản, đông Trung Quốc, Đài Loan và cực bắc Việt Nam 17. Yếu tố châu Á: 239 loài chiếm tỉ lệ 2,3%.
Bao gồm các loài phân bố ở phạm vi lãnh thổ toàn châu Á 18. Yếu tố ôn đới bắc: có 15 loài trong hệ thực vật Việt Nam. Bao gồm các loài phân bố chủ yếu ở vùng ôn đới châu Á, châu Âu và có mặt ở Việt Nam 19.