Chương 1 sẽ tập trung vào việc giới thiệu vị trí và mô tả các yếu tố động lực chính liên quan đến cửa Tiên Châu dựa trên cơ sở các nghiên cứu được công bố và các yếu tố địa hình cũng như các số liệu thuỷ hải văn đã được đo đạc trong quá trình khảo sát khu vực này.2 Khu vực cửa Tiên Châu 1.1 Vị trí địa lý Sông Kỳ Lộ là sông lớn thứ 2 ở tỉnh Phú Yên, phần thượng lưu có tên là sông La Hiêng, bắt nguồn từ núi To Net (1030m) ở xã Dăk Song huyện Krong Chro tỉnh Gia Lai, chảy theo hướng bắc tây bắc vào địa phận tỉnh Phú Yên ở xã Phú Mỡ huyện Đồng Xuân rồi chuyển hướng tây bắc- đông nam qua thôn Phú Mỹ, xã An Dân chia làm hai 5 nhánh (sông Cái và sông Nhân Mỹ). Nhánh sông Cái sau khi chảy qua quốc lộ 1A tiếp tục chia làm hai nhánh (sông Cái và sông Hà Yến), sông Cái và sông Nhân Mỹ đổ ra cửa Bình Bá (cửa Tiên Châu), còn sông Hà Yến chảy ra đầm Ô Loan (Hình 1.1 Hệ thống lưu vực sông Kỳ Lộ Cửa Tiên Châu nằm trên lưu vực sông Cái (đoạn hạ lưu sông Kỳ Lộ), nơi sông đổ ra vịnh Xuân Đài thuộc xã An Ninh Đông, huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên, có tọa độ 13°21’ Bắc; 109°15’ Đông. Cảng Tiên Châu hiện đang là nơi tránh trú bão cho cho hơn 400 tàu thuyền của các xã An Ninh Tây, xã An Ninh Đông, huyện Tuy An và các địa phương khác thuộc tỉnh Phú Yên. Nét đặc trưng nhất của địa hình vùng này là được bao quanh bởi các dãy núi cao.
Cửa Tiên Châu nằm xen giữa doi cát phía Bắc và dãy núi Hòn Bừu ở phía Nam, ở phía Bắc cửa là bán đảo Xuân Thịnh. Địa hình khu vực xen lẫn giữa đồi núi, đồng bằng và biển, thấp dần từ Tây sang Đông. Do địa hình phía Tây là núi cao kết hợp với đồi núi thấp đâm ngang ra biển và có các đầm lớn như đầm Ô Loan và đặc biệt khu này chịu ảnh hưởng trực tiếp của khí hậu biển, do vậy, gió Tây khô nóng xuất hiện muộn hơn và kết 6 thúc sớm hơn các vùng khác. Ảnh hưởng của gió mạnh, gió bão cao hơn các vùng khác, địa hình trũng, thấp nên cũng thường xuyên chịu ảnh hưởng của lũ lụt, đặc biệt là khu vực hạ lưu sông Kỳ Lộ.2 Đặc điểm khí tượng, thủy hải văn [4] 1.1 Đặc điểm dòng chảy sông Hệ thống sông Kỳ Lộ cung cấp nguồn nước chi phối mọi hoạt động kinh tế - xã hội huyện Đồng Xuân và Tuy An.
Quy luật hình thành và những biến đổi về nguồn nước sông Kỳ Lộ chịu ảnh hưởng của khí hậu và những hồ chứa, hệ thống thuỷ lợi đã được xây dựng trên lưu vực. Hàng năm sông thường xuất hiện 3–4 trận lũ lớn. Lưu vực sông Kỳ Lộ ngắn và có độ dốc lớn, thời gian tập trung nước rất nhanh nên các trận lũ lớn gây ra nước chảy xiết, làm xói lở bờ sông và ngập lụt nghiêm trọng, gây thiệt hại lớn về cơ sở vật chất, phá hủy nhà cửa, ruộng đồng, tác động lâu dài đến môi trường sinh thái, ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống xã hội và phát triển kinh tế cho các xã ven sông huyện Đồng Xuân, huyện Tuy An. Dòng chảy trên sông chủ yếu là do mưa cung cấp nên sự biến đổi và vận động của dòng chảy cũng phụ thuộc vào lượng mưa rơi trên lưu vực.
Nguồn nước khu vực tỉnh Phú Yên phân bố không đều theo thời gian, 4 tháng mùa mưa (tháng IX đến tháng XII), dòng chảy chiếm đến 70-75% lượng dòng chảy năm, trong khi đó, 8 tháng mùa cạn (tháng I đến tháng VIII) lượng nước sông giảm thấp, chỉ chiếm 25-30%, điều này gây khó khăn cho các ngành do lượng nước cần sử dụng chủ yếu là về mùa cạn [4]. Lũ sông Dù ảnh hưởng bởi chế độ sóng thay đổi theo mùa, cửa sông hầu như vẫn được bảo vệ bởi các hệ thống mũi đất trong khu vực (bán đảo Xuân Thịnh ở phía Bắc, Núi Ông Ngõn và Hòn Bừu ở phía Nam). Trong khi đó, lưu lượng sông trong các trận lũ lịch sử có thể lớn gấp 6 lần giá trị lưu lượng trung bình năm [5]. Các trận lũ lớn đột ngột mang tính thời điểm này sẽ đưa bùn cát từ trong sông đổ ra biển và sau đó bồi lắng tại đồng bằng triều kém.
7 Dựa trên cơ sở dữ liệu ảnh viễn thám từ năm 1973 đến năm 2020 [5], kết hợp với số liệu lưu lượng đỉnh lũ tại trạm Hà Bằng trên lưu vực sông Kỳ Lộ giai đoạn 1997 – 2019 [6], diễn biến cửa Tiên Châu thời kỳ nhiều năm cho thấy tồn tại mối tương quan giữa lưu lượng dòng chảy lũ lớn nhất trong năm trên sông Kỳ Lộ và bề rộng cửa Tiên Châu (Hình 1. Như một hệ quả tất yếu, trong thời điểm lũ lớn, dòng chảy sông Kỳ Lộ có khả năng làm cho bề rộng cửa Tiên Châu mở rộng đột ngột. Như vậy, yếu tố dòng chảy lũ từ sông lớn nhất có vai trò hết sức quan trọng, là một trong những yếu tố tác động chi phối hình thái cửa Tiên Châu, mà cụ thể là tác động trực tiếp đến bề rộng cửa sông. Tuy nhiên, do lũ diễn ra trong năm khá ít và rải rác, yếu tố này chỉ mang ảnh hưởng cấp tính.2 Diễn biến lưu lượng lũ hàng năm lớn nhất và bề rộng cửa Tiên Châu 1.2 Thủy triều [6] Thủy triều vùng biển Phú Yên cũng tương tự chế độ triều khu vực Nam Trung Bộ, là thủy triều hỗn hợp thiên về nhật triều hay còn gọi “nhật triều không đều”, có biên độ triều tăng dần từ Bắc xuống Nam.
Hàng tháng có 17 – 23 ngày ảnh hưởng rõ của chế độ nhật triều, những ngày còn lại ảnh hưởng của chế độ bán nhật triều không đều. Do ảnh hưởng bởi chế độ triều hỗn hợp nên thời gian triều lên và xuống thay đổi rất phức tạp. Trong năm, các mực nước cực đại thường xuất hiện từ tháng XI đến tháng II năm sau, các cực tiểu xuất hiện vào tháng VI đến tháng VIII. 8 Khu vực cửa sông, đầm vịnh có biên độ triều trung bình 1.6m, thời kỳ triều cường khoảng 1.0m, thời kỳ triều kém khoảng 0.
Tại vùng cửa sông ảnh hưởng thủy triều, biên độ triều giảm dần từ cửa sông vào lục địa.3 Mực nước thực đo tại cảng cá Tiên Châu (06/2019) 1.3 Gió và sóng biển [7], [8] Đối với sóng gió, yếu tố chính tạo nên sóng là tốc độ gió, đà gió và thời gian thổi. Hướng sóng chủ yếu trên biển khơi vào thời kỳ mùa đông là hướng Đông Bắc. Trị số trung bình của chiều cao sóng khoảng 2 ÷ 3 m và chu kỳ từ 11 ÷ 12 giây. Tần suất xuất hiện của sóng hướng Đông Bắc là 60 ÷ 70%.
Sóng có hướng chính theo hướng Nam, Tây Nam và Đông Nam vào mùa hạ. Một số nghiên cứu cho thấy, chế độ sóng khu vực ngoài khơi tỉnh Phú Yên do bị ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc (NE) và Tây Nam (SW) nên tương ứng với chúng là 2 hướng sóng thịnh hành Đông Bắc và Tây Nam trong đó: từ tháng I đến tháng IV, sóng Đông Bắc chiếm ưu thế. Trong khoảng thời gian này, độ cao trung bình của 2 hướng sóng trên là 1.0 m và chiều cao cực đại là 4. Hướng sóng chủ đạo từ tháng V đến tháng IX là SE với độ cao trung bình là 0.0 m và lớn nhất là 3.
Thịnh hành từ tháng X đến tháng XII là hướng N và NE với độ cao trung bình là 0.9 m và độ cao lớn nhất biến đổi từ 3. 9 Bờ biển Phú Yên trải dài theo hướng NW÷SE nên thường xuyên chịu tác động của sóng theo hướng từ Bắc đến Đông Bắc và Đông, trong đó, hướng sóng Đông Bắc chiếm ưu thế vượt trội so với hai hướng sóng còn lại cả về tần suất xuất hiện lẫn chiều cao sóng. Hơn nữa, do hướng sóng Đông Bắc vuông góc với đường bờ nên vận chuyển bùn cát ngang bờ là rất lớn, điều này gây xói mòn bờ biển và góp phần tạo nguồn vật liệu cho dòng dọc bờ vận chuyển đi và bồi lấp cửa sông.4 Hoa sóng nước sâu tại khu vực cửa Tiên Châu (1995-2020) 1.3 Các công trình trên lưu vực sông Kỳ Lộ Trên lưu vực sông Kỳ Lộ hiện có 01 trạm thủy văn duy nhất là trạm thủy văn Hà Bằng chỉ đo đạc yếu tố mực nước, mưa và không đo đạc yếu tố dòng chảy nên việc dùng số liệu vào phục vụ cho công tác phát triển kinh tế–xã hội và dự báo thủy văn gặp rất nhiều khó khăn [9]. Bên cạnh đó, trạm An Thạnh nằm trên bờ trái sông Kỳ Lộ, thuộc thôn Phú Mỹ, xã An Dân, huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên; thuộc lưu vực sông Kỳ Lộ, diện tích lưu vực khống chế là 1180 km2 [10].
Các yếu tố quan trắc chủ yếu là nhiệt độ nước, mực nước, lưu lượng, hàm lượng chất lơ lửng và chất lượng nước [11]. Ngoài các trạm đo đạc trên, các công trình trên lưu vực sông Kỳ Lộ cũng có ảnh hưởng không nhỏ đến chế độ thủy động lực trên lưu vực và cửa Tiên Châu, là cơ sở để cân nhắc các giải pháp chỉnh trị chống bồi lấp cửa Tiên Châu sau này (Hình 1.5, Phụ lục bảng – Chương 1 – trang 106-109 và Phụ lục hình – Chương 1 – trang 115-118).5 Hệ thống công trình lưu vực sông Kỳ Lộ và khu vực cửa Tiên Châu 11 1.4 Phân loại cửa sông 1.1 Dựa trên yếu tố thuỷ động lực học Về mặt thủy động lực học, năm 1979, Hayes đã giới thiệu cách phân loại bờ biển và cửa sông dựa theo yếu tố động lực chính là sóng và triều, khi mà cả hai yếu tố này đều độc lập trong hệ thống [12]. Điều kiện sóng từ phía biển và độc lập với cửa sông, trong khi đó biên độ triều nằm ngoài cửa thường chi phối bởi triều đại dương và tương tác với địa hình đáy, cách phân loại cửa sông dựa theo yếu tố sóng và triều được trình bày như sau [13]: Bảng 1.1 Phân loại sóng khí hậu Cấp năng lượng sóng Chiều cao sóng có nghĩa trung bình Hs (m) Sóng năng lượng thấp <0.6 Sóng năng lượng trung bình 0.5 Sóng năng lượng cao >1.2 Phân loại cửa sông và bờ biển dựa trên các yếu tố thủy động lực Loại triều Biên độ triều (m) Microtidal (triều nhỏ) <1 Low-mesotidal (triều trung bình-thấp) 1-2 High-mesotidal (triều trung bình-cao) 2 - 3.6 Phân loại cửa Tiên Châu theo các yếu tố động lực tác động (Hayes, 1979) 12 Với việc phân tích bằng phương pháp này, dựa theo độ lớn triều từ 1.