Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong hệ thống giáo dục quốc dân Việt Nam, bậc Tiểu học giữ vai trò nền tảng ban đầu, tạo cơ sở tri thức và kỹ năng cho các bậc học tiếp theo. Môn Tiếng Việt là một trong hai môn học chủ đạo, chiếm thời lượng 40% trong toàn bộ chương trình tiểu học. Môn học này chịu trách nhiệm rèn luyện bốn kỹ năng cơ bản: nghe, nói, đọc, viết, phục vụ trực tiếp cho hoạt động học tập và giao tiếp của học sinh.

Trong môn Tiếng Việt, phân môn Kể chuyện lớp 5 giữ vị trí quan trọng trong việc bồi dưỡng năng lực ngôn ngữ nghệ thuật, phát triển tư duy hình tượng, bồi dưỡng tình cảm và đạo đức thẩm mỹ. Tuy nhiên, qua quan sát thực tế dạy học, năng lực kể chuyện của học sinh lớp 5 còn nhiều hạn chế: học sinh còn lúng túng khi trình bày trước đám đông, phụ thuộc máy móc vào câu chữ văn bản, thiếu biểu cảm phi ngôn ngữ (ngữ điệu, nét mặt, cử chỉ). Về phía giáo viên, việc tổ chức dạy học phân môn này còn gặp nhiều khó khăn, chưa khai thác triệt để các phương pháp tích cực và thậm chí còn tình trạng cắt giảm thời lượng để ưu tiên cho các phân môn hoặc môn học khác.

Nhằm giải quyết bất cập trên, đề tài "Biện pháp nâng cao năng lực kể chuyện cho học sinh lớp 5" được thực hiện nhằm đề xuất các giải pháp sư phạm khả thi, góp phần nâng cao chất lượng dạy học phân môn Kể chuyện nói riêng và môn Tiếng Việt nói chung.

Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn năng lực kể chuyện của học sinh lớp 5, đề xuất một số biện pháp sư phạm nhằm nâng cao năng lực kể chuyện cho học sinh lớp 5.

Nhiệm vụ nghiên cứu:

  1. Nghiên cứu một số vấn đề lý luận liên quan đến đề tài (năng lực, năng lực kể chuyện, đặc điểm tâm sinh lý học sinh lớp 5, nội dung và phương pháp dạy học phân môn Kể chuyện).
  2. Tìm hiểu, đánh giá thực trạng năng lực kể chuyện của học sinh lớp 5 và thực trạng dạy học của giáo viên tại trường Tiểu học Nguyễn Văn Trỗi, quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng.
  3. Đề xuất và thực nghiệm sư phạm một số biện pháp dạy học phân môn Kể chuyện nhằm nâng cao năng lực kể chuyện cho học sinh lớp 5.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Quá trình dạy và học phân môn Kể chuyện của giáo viên và học sinh lớp 5.
  • Phạm vi không gian và khách thể: Giáo viên dạy khối 5 (7 giáo viên) và học sinh khối 5 (259 học sinh) tại trường Tiểu học Nguyễn Văn Trỗi, quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng.
  • Phạm vi nội dung: Năng lực kể chuyện của học sinh lớp 5 trong chương trình Tiếng Việt hiện hành.
  • Thời gian hoàn thành đề tài: Tháng 01 năm 2018.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận được xây dựng dựa trên hệ thống cơ sở lý luận tâm lý học, giáo dục học và phương pháp dạy học tiếng mẹ đẻ:

  • Khung khái niệm và mô hình lý thuyết:

    • Khái niệm năng lực: Đề tài tiếp cận khái niệm của tác giả Nguyễn Quang Uẩn: năng lực là tổ hợp các thuộc tính độc đáo của cá nhân phù hợp với những yêu cầu của một hoạt động nhất định, đảm bảo cho hoạt động đó đạt kết quả. Đồng thời, tác giả vận dụng mô hình cấu trúc năng lực nghề nghiệp/thực hiện (Competency-Based Model, 2005) gồm 3 thành tố: Kiến thức (Knowledge), Kỹ năng (Skill) và Phẩm chất cá nhân (Traits).
    • Khái niệm kể chuyện: Phân tích 4 phạm trù ngữ nghĩa theo GS.TS. Lê Phương Nga (loại hình tự sự văn học; phương thức nói trong diễn giảng; thể loại văn thuật chuyện trong Tập làm văn; một phân môn ở tiểu học). Đề tài sử dụng định nghĩa của Đào Ngọc – Nguyễn Quang Ninh: Kể chuyện là hình thức trình bày lại câu chuyện bằng lời kể một cách hấp dẫn, sáng tạo, giàu ngữ điệu và có sự phối hợp diễn xuất qua nét mặt, cử chỉ, điệu bộ của người kể một cách tự nhiên.
    • Đặc điểm tâm lý lứa tuổi học sinh lớp 5: Tư duy chuyển dần từ cụ thể sang tư duy trừu tượng, phân tích bản chất; trí nhớ chuyển từ trực quan sinh động sang ghi nhớ từ ngữ - logic.
    • Lịch sử nghiên cứu: Kế thừa quan điểm của M.K. Bogliuxkaia & Sepstenkô (do Lê Đức Mẫn dịch), Chu Huy (Dạy học Kể chuyện ở trường tiểu học, NXB Giáo dục, 2006), Lê Phương Nga & Nguyễn Trí (Phương pháp dạy học Tiếng Việt 2), Nguyễn Trí (Luyện tập văn kể chuyện ở tiểu học, NXB Giáo dục, 2001).
  • Phương pháp nghiên cứu:

    • Phương pháp nghiên cứu lý thuyết: Phân tích, tổng hợp tài liệu tâm lý học, giáo dục học và chương trình SGK Tiếng Việt 5.
    • Phương pháp điều tra thực tế: Sử dụng phiếu hỏi Anket đối với 259 học sinh và 7 giáo viên khối 5; kiểm tra khảo sát năng lực kể chuyện của học sinh thông qua bài tập thực hành kể chuyện.
    • Phương pháp quan sát: Quan sát thái độ, giọng điệu, cử chỉ, sự tự tin của học sinh khi kể chuyện và ghi nhận việc tổ chức tiết học.
    • Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Tổ chức dạy thực nghiệm để kiểm chứng tính đúng đắn và khả thi của các biện pháp đề xuất.
    • Phương pháp thống kê toán học, mô tả, so sánh - đối chiếu: Xử lý số liệu khảo sát định lượng.
  • Nguồn dữ liệu:

    • Dữ liệu sơ cấp: Thu thập từ 259 phiếu điều tra học sinh khối 5 và 7 phiếu điều tra giáo viên khối 5 trường Tiểu học Nguyễn Văn Trỗi, quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng.
    • Dữ liệu thứ cấp: Chương trình và SGK Tiếng Việt 5 (Tập 1 và Tập 2), Sách giáo viên Tiếng Việt 5, các công trình nghiên cứu chuyên ngành phương pháp dạy học Tiếng Việt.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của đề tài

Chương 1 hệ thống hóa các vấn đề lý luận cốt lõi và làm rõ thực trạng dạy học phân môn Kể chuyện lớp 5 tại địa bàn khảo sát.

  • Cơ sở lý luận:

    • Xác định các năng lực cần hình thành cho học sinh tiểu học gồm 9 nhóm năng lực: Tự quản - tự phục vụ, Giao tiếp, Hợp tác, Tự học, Giải quyết vấn đề, Sáng tạo, Sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông, Sử dụng ngôn ngữ, Tính toán.
    • Xác định vai trò của phân môn Kể chuyện: là cơ sở để học sinh cảm thụ tác phẩm văn học, phương tiện giáo dục đạo đức và thẩm mỹ, phát triển tính tích cực và tư duy sáng tạo.
    • Làm rõ 3 dạng bài kể chuyện trong chương trình lớp 5:
      1. Kể chuyện đã nghe thầy, cô giáo kể trên lớp: thực hiện ở tuần thứ nhất của mỗi chủ điểm 3 tuần, độ dài văn bản khoảng 500 chữ in trong SGV; rèn kỹ năng nghe và kể lại dựa vào tranh gợi ý.
      2. Kể chuyện đã nghe, đã đọc: học sinh tự sưu tầm truyện trong sách báo hoặc đời sống để kể lại theo chủ điểm; kích thích văn hóa đọc.
      3. Kể chuyện đã được chứng kiến hoặc tham gia: học sinh kể lại người thật việc thật trong cuộc sống xung quanh hoặc câu chuyện của chính bản thân; rèn thói quen quan sát, trải nghiệm và xây dựng cốt truyện.
    • Hệ thống hóa cấu trúc chương trình Kể chuyện lớp 5: Gồm 35 tiết (31 bài học và 4 tiết ôn tập) phân bố theo 10 chủ điểm: Việt Nam - Tổ quốc em, Cánh chim hòa bình, Con người với thiên nhiên, Giữ lấy màu xanh, Vì hạnh phúc con người, Người công dân, Vì cuộc sống thanh bình, Nhớ nguồn, Nam và nữ, Những chủ nhân tương lai.
    • Khái quát các phương pháp dạy học phân môn Kể chuyện truyền thống và hiện đại: Phương pháp thực hành giao tiếp (ví dụ qua bài Lý Tự Trọng), Phương pháp thảo luận nhóm (ví dụ qua bài Tiếng vĩ cầm ở Mĩ Lai), Phương pháp trò chơi (ví dụ qua bài Chiếc đồng hồ), Phương pháp dạy học trực quan (ví dụ qua các bài Chiếc đồng hồ, Lớp trưởng lớp tôi, Nhà vô địch), Phương pháp đóng vai (ví dụ qua bài Nhà vô địch).
  • Cơ sở thực tiễn (Khảo sát tại trường Tiểu học Nguyễn Văn Trỗi):

    • Về phía học sinh (n = 259): Đa số học sinh thích học Kể chuyện (19,7% rất thích, 44,4% thích), nhưng mức độ hứng thú chưa cao (55,2% hứng thú, 44,8% không hứng thú). Tỷ lệ học sinh thường xuyên kể chuyện ở nhà chỉ đạt 16,6%, kể cho bạn bè đạt 32,05%, và chỉ có 18,5% thường xuyên xung phong kể chuyện trước lớp. Có 54,05% học sinh cảm thấy rụt rè, lo lắng khi kể chuyện trước đám đông. Về độ khó, 55,98% học sinh nhận định phân môn này khó và rất khó (15,44% rất khó, 40,54% khó). Khó khăn lớn nhất của học sinh là việc kết hợp cử chỉ, nét mặt, điệu bộ khi kể (27,41%) và ghi nhớ nắm bắt toàn bộ nội dung câu chuyện (25,87%). Đáng chú ý, 41,313% học sinh cho biết thường bị giáo viên nhận xét là kể thiếu chi tiết do tâm lý học thuộc lòng máy móc từng câu chữ.
    • Về phía giáo viên (n = 7): 100% giáo viên sử dụng phương pháp trực quan, nhưng chỉ 42,85% thường xuyên sử dụng thảo luận nhóm và vấn đáp; 100% giáo viên chỉ "thỉnh thoảng" áp dụng phương pháp thực hành giao tiếp; 85,71% chỉ "thỉnh thoảng" dùng phương pháp đóng vai. Khảo sát ghi nhận 100% giáo viên gặp khó khăn trong việc rèn học sinh kết hợp điệu bộ cử chỉ và yêu cầu học sinh nắm cốt truyện trong thời lượng tiết học ngắn; 71,43% giáo viên cho rằng hoạt động học sinh kể trước lớp chiếm quá nhiều thời gian. Đáng chú ý, các giáo viên được khảo sát từ chối cho dự giờ vì trên thực tế các tiết Kể chuyện thường bị cắt giảm để dạy bù các phân môn Tập làm văn, Luyện từ và câu, Tập đọc hoặc môn Toán.

Chương 2: Một số biện pháp dạy học phân môn Kể chuyện nhằm nâng cao năng lực kể chuyện cho học sinh lớp 5

Chương này xây dựng hệ thống biện pháp sư phạm xuất phát từ thực trạng và định hướng đổi mới phương pháp dạy học Tiếng Việt ở tiểu học.

  • Hệ thống nguyên tắc đề xuất biện pháp:

    • Nguyên tắc đảm bảo mục tiêu của môn Tiếng Việt ở tiểu học.
    • Nguyên tắc đảm bảo tính khoa học.
    • Nguyên tắc đảm bảo tính sư phạm.
    • Nguyên tắc đảm bảo tính tích cực của học sinh.
  • Các biện pháp cụ thể được xây dựng:

    1. Tạo hứng thú kể chuyện cho học sinh: Sử dụng trò chơi học tập, ứng dụng trực quan sinh động và lời dẫn nhập hấp dẫn để kích thích tính tò mò, giải tỏa áp lực tâm lý cho học sinh.
    2. Hướng dẫn học sinh đọc, cảm thụ câu chuyện: Giúp học sinh hiểu sâu sắc nội dung, chủ đề, nắm bắt tính cách nhân vật và thông điệp tư tưởng của tác phẩm thay vì học thuộc lòng máy móc.
    3. Hướng dẫn học sinh xác định đúng giọng điệu cơ bản của câu chuyện: Rèn luyện kỹ năng phân biệt giọng kể của người dẫn chuyện và lời thoại của từng nhân vật (ví dụ: giọng hào hứng, giọng điềm tĩnh, tự đắc, dí dỏm).
    4. Hướng dẫn học sinh lựa chọn lời kể phù hợp với nội dung câu chuyện: Rèn kỹ năng diễn đạt bằng ngôn ngữ cá nhân, thoát ly văn bản sách giáo khoa, biết chuyển đổi ngôi kể và thêm các chi tiết sáng tạo hợp lý.
    5. Hướng dẫn học sinh kể chuyện kết hợp với cử chỉ, ngữ điệu, điệu bộ phù hợp:
      • Luyện tập ngữ điệu: ngắt giọng, nhấn giọng, thay đổi cao độ, trường độ, cường độ giọng kể.
      • Luyện tập phi ngôn ngữ: ánh mắt, nét mặt, nụ cười, cử chỉ tay và tư thế cơ thể tương ứng với diễn biến tình cảm của nhân vật.
    6. Yêu cầu nghe và ghi nhớ câu chuyện: Rèn luyện kỹ năng nghe chủ động, kỹ năng ghi nhận các chi tiết cốt lõi, theo dõi bạn kể để nhận xét, bổ sung hoặc kể nối tiếp.

Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

Chương 3 trình bày quy trình và kết quả kiểm chứng tính khả thi của hệ thống biện pháp đã đề xuất.

  • Nội dung thực nghiệm: Thiết kế và tiến hành các giáo án thực nghiệm phân môn Kể chuyện lớp 5 có áp dụng đầy đủ các biện pháp đổi mới (kết hợp trực quan, làm việc nhóm, thực hành giao tiếp, rèn ngữ điệu và cử chỉ).
  • Đối tượng và tiêu chí thực nghiệm: Tổ chức dạy học trên lớp thực nghiệm (TN) và lớp đối chứng (ĐC) tại trường tiểu học, đánh giá dựa trên các tiêu chí: mức độ nắm cốt truyện, khả năng sử dụng ngôn ngữ kể tự nhiên, kỹ thuật thể hiện giọng điệu và cử chỉ điệu bộ, mức độ tự tin và sáng tạo khi trình bày trước lớp.
  • Quy trình và kết quả: Đối chiếu kết quả định tính và định lượng giữa hai nhóm thực nghiệm và đối chứng để khẳng định tính hiệu quả của các giải pháp sư phạm đề ra.

Kết quả và đóng góp

Kết quả khảo sát thực trạng nổi bật

Tác giả đã lượng hóa thực trạng năng lực kể chuyện của 259 học sinh và thực trạng dạy học của 7 giáo viên lớp 5 qua các bảng số liệu chi tiết:

Tiêu chí khảo sát Nhóm đối tượng / Mức độ Số lượng (n) Tỷ lệ (%)
Mức độ yêu thích phân môn Kể chuyện Rất thích 51 / 259 19,7%
Thích 115 / 259 44,4%
Không thích 93 / 259 35,9%
Tâm lý học sinh khi kể chuyện trước lớp Tự tin, bình tĩnh 119 / 259 45,95%
Rụt rè, lo lắng, hồi hộp 140 / 259 54,05%
Khó khăn lớn nhất của học sinh khi kể Phối hợp điệu bộ, nét mặt, cử chỉ 71 / 259 27,41%
Nắm được nội dung câu chuyện 67 / 259 25,87%
Đứng trước lớp để kể lại 50 / 259 19,31%
Kể to, rõ ràng 36 / 259 13,90%
Kể lại nội dung bằng lời của mình 35 / 259 13,51%
Đánh giá của học sinh về độ khó môn học Rất khó & Khó 145 / 259 55,98%
Dễ & Rất dễ 114 / 259 44,02%
Phương pháp dạy học của giáo viên (n=7) Thường xuyên dùng trực quan 7 / 7 100,0%
Chỉ thỉnh thoảng dùng thực hành giao tiếp 7 / 7 100,0%
Chỉ thỉnh thoảng dùng đóng vai 6 / 7 85,71%
Thường xuyên dùng thảo luận nhóm 3 / 7 42,85%
Khó khăn của giáo viên khi dạy Kể chuyện Chuẩn bị nhiều tranh ảnh, đồ dùng 7 / 7 100,0%
Học sinh phải nắm nội dung trong thời gian ngắn 7 / 7 100,0%
Học sinh kể trước lớp chiếm nhiều thời gian 5 / 7 71,43%

Đóng góp của đề tài

  • Đóng góp lý luận: Hệ thống hóa cơ sở khoa học về năng lực kể chuyện của học sinh lớp 5, xác lập mối quan hệ giữa đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi tiểu học với việc tiếp nhận và tái sản sinh tác phẩm văn học dưới dạng lời kể.
  • Đóng góp thực tiễn:
    • Phản ánh trung thực thực trạng dạy và học phân môn Kể chuyện lớp 5 tại địa bàn thành phố Đà Nẵng, chỉ ra nguyên nhân cốt lõi khiến học sinh chưa tự tin kể chuyện (do học thuộc máy móc và thiếu kỹ năng phi ngôn ngữ) cũng như hiện tượng cắt giảm tiết học của giáo viên.
    • Đề xuất 6 biện pháp dạy học sư phạm đồng bộ, cụ thể, bám sát các dạng bài và chủ điểm của chương trình Tiếng Việt lớp 5, kèm theo quy trình tổ chức các phương pháp dạy học tích cực (giao tiếp, đóng vai, thảo luận nhóm, trò chơi).
    • Cung cấp tài liệu tham khảo cho sinh viên, giảng viên ngành Giáo dục Tiểu học và giáo viên tiểu học trực tiếp giảng dạy.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của nghiên cứu:
    • Phạm vi khảo sát thực trạng còn giới hạn trong phạm vi 1 trường tiểu học (Trường Tiểu học Nguyễn Văn Trỗi, quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng) với quy mô mẫu 259 học sinh và 7 giáo viên.
    • Quá trình dự giờ trực tiếp các tiết dạy Kể chuyện của giáo viên gặp khó khăn do giáo viên từ chối dự giờ (nguyên nhân do việc thực hiện chưa đúng phân phối chương trình, chuyển thời lượng sang các môn khác), do đó dữ liệu thực trạng dạy học của giáo viên chủ yếu thu thập qua phiếu hỏi Anket.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo:
    • Mở rộng phạm vi khảo sát và thực nghiệm sư phạm trên nhiều trường tiểu học thuộc các địa bàn khác nhau (thành thị, nông thôn, miền núi).
    • Nghiên cứu sâu hơn việc ứng dụng công nghệ thông tin và học liệu số đa phương tiện trong việc hỗ trợ học sinh tự rèn luyện kỹ năng kể chuyện tại nhà.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng thụ hưởng:
    • Sinh viên ngành Giáo dục Tiểu học: Nắm vững quy trình phương pháp, kỹ thuật tổ chức tiết Kể chuyện và cách thức xây dựng bài tập rèn kỹ năng nói - nghe.
    • Giáo viên tiểu học: Tham khảo các biện pháp sư phạm cụ thể để khắc phục tình trạng học sinh học vẹt, rụt rè khi nói trước đám đông, nâng cao chất lượng giờ dạy Tiếng Việt.
    • Cán bộ nghiên cứu phương pháp dạy học Tiếng Việt: Sử dụng dữ liệu thực trạng và các đề xuất biện pháp làm tài liệu đối sánh cho các nghiên cứu liên quan.
  • Nội dung đáng tham khảo nhất:
    • Bảng phân tích 3 dạng bài kể chuyện gắn liền với cấu trúc 31 bài học thuộc 10 chủ điểm SGK Tiếng Việt 5.
    • Hướng dẫn quy trình 5 bước thực hiện các phương pháp dạy học: Thực hành giao tiếp, Thảo luận nhóm, Trò chơi học tập, Sử dụng trực quan và Đóng vai kèm ví dụ minh họa chi tiết cho từng bài đọc cụ thể trong chương trình.

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận phân loại các dạng bài kể chuyện ở lớp 5 như thế nào?
Chương trình Kể chuyện lớp 5 gồm 3 dạng bài: (1) Kể chuyện đã nghe thầy, cô giáo kể trên lớp (văn bản khoảng 500 chữ trong SGV, rèn kỹ năng nghe và kể lại theo tranh); (2) Kể chuyện đã nghe, đã đọc (học sinh tự tìm truyện theo chủ điểm trong sách báo, đời sống); (3) Kể chuyện đã được chứng kiến hoặc tham gia (học sinh kể về người thật, việc thật hoặc trải nghiệm của bản thân).

2. Khó khăn lớn nhất của 259 học sinh lớp 5 được khảo sát khi học Kể chuyện là gì?
Khó khăn lớn nhất được ghi nhận là việc kết hợp cử chỉ, nét mặt, điệu bộ khi kể chuyện (chiếm 27,41%), tiếp theo là khó khăn trong việc nắm bắt nội dung câu chuyện (25,87%) và tâm lý rụt rè, lo lắng khi phải đứng trước lớp trình bày (19,31%).

3. Khảo sát thực tế chỉ ra bất cập gì trong việc phân bổ thời gian dạy học của giáo viên?
Khảo sát phát hiện giáo viên khối lớp 5 thường không dạy đúng phân phối chương trình môn Kể chuyện mà cắt giảm thời lượng để dành thời gian cho các phân môn khác như Tập làm văn, Luyện từ và câu, Tập đọc hoặc môn Toán. Do đó, tác giả không thể dự giờ trực tiếp mà phải thu thập thông tin qua phiếu Anket và trao đổi với học sinh.

4. Khóa luận định nghĩa khái niệm "kể chuyện" theo quan điểm của tác giả nào?
Tác giả sử dụng định nghĩa của Đào Ngọc – Nguyễn Quang Ninh: "Kể chuyện là hình thức trình bày lại câu chuyện bằng lời kể một cách hấp dẫn, sáng tạo, giàu ngữ điệu và có sự phối hợp diễn xuất qua nét mặt, cử chỉ, điệu bộ của người kể một cách tự nhiên".

5. Cấu trúc chương trình phân môn Kể chuyện lớp 5 gồm bao nhiêu tiết và xoay quanh các chủ điểm nào?
Chương trình gồm 35 tiết (31 văn bản kể chuyện và 4 tiết ôn tập), xoay quanh 10 chủ điểm: Việt Nam - Tổ quốc em, Cánh chim hòa bình, Con người với thiên nhiên, Giữ lấy màu xanh, Vì hạnh phúc con người, Người công dân, Vì cuộc sống thanh bình, Nhớ nguồn, Nam và nữ, Những chủ nhân tương lai.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Lê Hồng Thuy đã giải quyết một vấn đề thực tiễn cấp thiết trong dạy học môn Tiếng Việt lớp 5 tại trường tiểu học. Thông qua khảo sát thực trạng trên 259 học sinh và 7 giáo viên tại trường Tiểu học Nguyễn Văn Trỗi (Đà Nẵng), tác giả đã chỉ rõ những hạn chế về năng lực diễn đạt, sử dụng yếu tố phi ngôn ngữ của học sinh cũng như bất cập trong phương pháp giảng dạy của giáo viên. Hệ thống 6 biện pháp dạy học được xây dựng có cơ sở khoa học vững chắc, bám sát cấu trúc chương trình 10 chủ điểm của SGK Tiếng Việt 5, mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho sinh viên và giáo viên ngành Giáo dục Tiểu học.