Chương 1 : Giới thiệu đề tài Chương 2 : Tổng quan các kết quả nghiên cứu trước đây 6 Chương 3 : Phương pháp nghiên cứu Chương 4 : Thảo luận các kết quả nghiên cứu Chương 5 : Kết luận 7 CHƯƠNG 2 : TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 2.1 Cơ sở lý thuyết về hiệu quả đầu tư Chiến lược tài chính của doanh nghiệp gồm ba quyết định, đó là quyết định đầu tư, quyết định tài trợ và quyết định phân phối. Trong đó đầu tư là hoạt động chủ yếu, quyết định đến sự tăng trưởng và phát triển của công ty. Quyết định đầu tư chính là tiền đề tạo ra giá trị cho doanh nghiệp. Một quyết định đầu tư đúng đắn sẽ góp phần làm gia tăng giá trị doanh nghiệp, tăng giá trị tài sản cho các chủ sở hữu.
Ngược lại, nếu công ty có những quyết định sai lầm trong đầu tư sẽ gây ra tổn thất giá trị doanh nghiệp cũng như thiệt hại tài sản của chủ sỡ hữu. Theo trường phái kinh tế tân cổ điển, các công ty sẽ đầu tư cho đến khi lợi ích biên bằng với chi phí biên để tối đa hóa giá trị của khoản đầu tư (Yoshikawa,1980; Hayashi, 1982; Abel, 1983). Tuy nhiên, trong trường phái kinh tế Keynesian (Gordon, 1992; Crotty, 1992) thì khoản đầu tư kỳ vọng sẽ được quyết định dựa theo các ưu tiên về khả năng tăng trưởng hay đảm bảo về tài chính, và trong khuôn khổ lý thuyết đại diện (Myers, 1977) khi xem xét vấn đề bất cân xứng thông tin lại đưa ra nhận định các công ty có thể bị chệch khỏi mức đầu tư tối ưu và vì thế có thể rơi vào tình trạng đầu tư dưới mức ( mức đầu tư thấp hơn dự kiến ) hoặc rơi vào tình trạng đầu tư quá mức ( mức đầu tư cao hơn dự kiến). Trong các thị trường tài chính hoàn hảo, tất cả các dự án có giá trị NPV dương đều được cấp vốn và thực hiện.
Tuy nhiên, có nhiều tài liệu nghiên cứu chứng minh ngược lại với giả thuyết này điển hình là học thuyết của Hubbard, 1998; Bertrand và Mullainathan, 2003. Đối với thị trường tài chính không hoàn hảo , sẽ tồn tại vấn đề bất cân xứng thông tin và và chi phí đại diện. Điều này có thể dẫn đến các dự án mặc dù có NPV âm vẫn được thực hiện ( đầu tư quá mức) và các dự án có NPV dương lại 8 bị từ chối ( đầu tư dưới mức). Vấn đề mâu thuẫn đại diện giữa nhà quản lý và các cổ đông, cũng như giữa cổ đông hiện hữu với các nhà đầu tư tiềm năng đã được tìm thấy là có ảnh hưởng đáng kể đến đến quyết định đầu tư của các công ty (Jensen và Meckling, 1976; Myer, 1977; Jensen 1986).
Theo lý thuyết chi phí đại diện, vấn đề đầu tư quá mức và đầu tư dưới mức đều có thể được giải thích bởi sự tồn tại của bất cân xứng thông tin của các bên nắm giữ tài sản. Jensen và Meckling (1976), Myers (1977), Myers và Majluf (1984) đã phát triển hệ thống khuôn khổ lý thuyết cho vai trò kiểm soát vấn đề bất cân xứng thông tin trong việc đầu tư hiệu quả thông qua việc quản lý các vấn đề rủi ro đạo đực và lựa chọn bất lợi. Khi xem xét vần đề đầu tư quá mức và đầu tư dưới mức, trong một nghiên cứu của Artur Morgado và Julio Pindado(2003) có đưa ra những giả thuyết sau. Trong thị trường vốn không hoàn hảo, quyết định đầu tư và quyết định tài trợ là độc lập.
Thực tế là vậy, thị trường không hoàn hảo tồn tại vấn đề bất cân xứng thông tin và chi phí đại diện, là nguyên nhân dẫn đến có thể đầu tư dưới mức hoặc quá mức. Có nghĩa là không phải dự án nào có NPV dương đều được thực hiện và một số dự án có NPV âm sẽ không bị từ chối. Bất cân xứng thông tin là yếu tố gây ra những mâu thuẫn giữa các bên liên quan, giữa cổ đông và trái chủ , giữa cổ động hiện hữu và cổ đông tiềm năng. Các cổ đông với trách nhiệm hữu hạn luôn được khuyến khích đầu tư vào các dự án có rủi ro lớn.
Bởi lẽ những dự án có rủi ro cao có khả năng mang lại lợi nhuận nhiều hơn. Và những cổ đông sẽ là người nhận được lợi ích nếu dự án sinh lời, nhưng nếu thất bại thì những khoản thua lỗ này lại được chuyển sang cho trái chủ (Jensen và Meckling, 1976). Trong trường hợp này, vấn đề thường nhắc tới là thay thế tài sản. Khi mà các hợp đồng ký kết có tồn tại vấn đề bất cân xứng thông tin, các chủ nợ sẽ gia tăng lãi suất cho vay đối với các cổ đông như là cách để họ giảm thiểu rủi ro do vấn đề bất cân xứng thông tin.
Do đó hoặc là sẽ tăng lãi suất cho vay, hoặc sẽ áp đặt một hạn mức tín dụng nhất định hay có các điều khoản giới hạn đối với các cổ đông 9 nhằm hạn chế việc các cổ động tự ý thực hiện dự án. Vấn đề thay thế tài sản giữa cổ đông và trái chủ là một trong những nguyên nhân dẫn đến việc đầu tư dưới mức. Mâu thuẫn giữa cổ đông và trái chủ còn đưa ra vấn đề đầu tư dưới mức gây ra bởi rủi ro đạo đức. Trong trường hợp công ty phá sản, quyền lợi ưu tiên được nhận các khoản chi trả thuộc về trái chủ, các cổ đông hoàn toàn có thể biết được phần giá trị mà các trái chủ nhận được là bao nhiêu.
Do đó, các cổ đông sẽ có động cơ để từ chối thực hiện các dự án có NPV thấp hơn mức nợ đã đi vay (Myers,1977). Vì vậy, các trái chủ sẽ cố gắng cản trở các chính sách đầu tư không đạt hiệu quả tối ưu bằng cách sử dụng một số công cụ kiểm soát như đưa ra các điều khoản chặt chẽ hơn khi cho vay, rút ngắn thời hạn cho vay, tăng cường kiểm tra giám sát. Tuy nhiên các hành động này chỉ nhằm mục đích giảm thiểu rủi ro do vấn đề này mang lại, và hơn nữa mọi chi phí phát sinh liên quan đến vấn đề này đều do bên cổ đông chịu. Ngoài ra, vấn đề lựa chọn bất lợi cũng được đề cập đến trong quan hệ lợi ích giữa cổ đông và trái chủ.
Vấn đề này phát sinh bởi việc các trái chủ không có đủ thông tin để phân biệt chất lượng các khoản đầu tư trong công ty ra sao nên họ sẽ yêu cầu thêm khoản tiền bù đắp cao hơn cho điều này ( Stiglitz và Weiss,1981). Vì vậy, nếu chi phí đầu tư của tất cả các dự án đầu tư có NPV dương cao hơn nguồn tài trợ nội bộ có sẵn, công ty có thể không thực hiện những dự án này hơn là việc phải chịu rủi ro khi đi vay để tài trợ cho dự án. Bên cạnh đó, mâu thuẫn giữa cổ đông hiện hữu và cổ đông tiềm năng cũng có thể dẫn đến đầu tư dưới mức do vấn đề lựa chọn bất lợi. Theo chứng minh của Myers và Majluf (1984), do bất cân xứng thông tin, những cổ đông tiềm năng sẽ không nhận biết được giá trị thật sự của công ty và sẽ mua cổ phiếu với một mức giá mà các cổ đông hiện hữu sẽ bị thiệt hại nhiều hơn nếu các dự án đầu tư được thực hiện hơn là từ chối thực hiện dự án.
Có nghĩa là các dự án có NPV dương sẽ không được thực hiện do bất cân xứng thông tin trong trường hợp này. 10 Tóm lại, mâu thuẫn giữa cổ đông và trái chủ, giữa cổ đông hiện hữu và cổ đông tiềm năng đều dẫn đến đầu tư dưới mức. Quá trình đầu tư quá mức phát sinh từ mẫu thuẫn lợi ích giữa nhà quản lý và các cổ đông. Khi tồn tại bất cân xứng thông tin, việc sử dụng các công cụ nhằm thỏa mãn lợi ích đồng thời giữa nhà quản lý và các cổ đông không còn được hoàn hảo nữa.
Các nhà quản lý có thể sử dụng dòng tiền tự do để thực hiện các dự án có NPV âm nhằm tối đa hóa lợi ích cho bản thân họ ( Jensen, 1986). Lưu ý rằng các dòng tiền tự do này phải lớn hơn các dòng tiền dùng để tài trợ cho tất cả các dự án có NPV dương. Vì vậy thay vì phải đem số tiền này để chi trả cổ tức cho các cổ đông thì các nhà quản lý lại sử dụng một cách lãng phí chỉ nhằm thỏa mãn lợi ích của cá nhân. Đặc biệt là đối với các công ty có quy mô lớn thì động cơ thúc đẩy các nhà quản lý thực hiện đầu tư quá mức là lớn hơn vì những lợi ích bằng tiền và không bằng tiền có thể thuộc về họ mà không thuộc về các cổ đông (Jensen, 1986; Slulz, 1990).
Các bằng chứng thực nghiệm về giả thiết đầu tư dưới mức ban đầu được phát triển thông qua một số nghiên cứu thành công về độ nhạy cảm của đầu tư đối với dòng tiền, đặc biệt là sau nghiên cứu tiên phong của Fazzari và cộng sự (1988). Hầu như tất cả các nghiên cứu đều tìm thấy mối quan hệ phụ thuộc mạnh mẽ giữa đầu tư với nguồn vốn tài trợ nội bộ sẵn có, và chính mối quan hệ này là bằng chứng giải thích cho vấn đề đầu tư dưới mức gây ra bởi lựa chọn bất lợi. Tuy nhiên, mối quan hệ cùng chiều được tìm thấy giữa đầu tư và dòng tiền có thể không chỉ xảy ra từ vấn đề đầu tư dưới mức gây ra bời lựa chọn bất lợi. Mà điều này còn cho thấy dòng tiền dư thừa càng lớn sẽ làm cho các nhà quản lý thực hiện các dự án có NPV âm, trong khi điều này sẽ không xảy ra nếu phải tài trợ bằng nguồn vốn bên ngoài, nói cách khác là vấn đề đầu tư quá mức cũng sẽ phát sinh.
Theo nghiên cứu của Vogt (1994), cho phép phân biệt rõ được tác động và đạt được những bằng chứng thực nghiệm của cả hai vấn đề đầu tư không hiệu quả ( đầu tư quá mức và đầu tu dưới mức) phụ thuộc 11 vào những đặc tính khác nhau của các công ty. Giả thiết đầu tư quá mức được xác nhận khi tồn tại mối quan hệ cùng chiều giữa đầu tư và dòng tiền đối với những công ty mà cơ hội đầu tư có chất lượng thấp. Ngược lại, đối với những công ty mà cơ hội đầu tư có chất lượng cao thì giả thiết đầu tư dưới mức được xác nhận khi tồn tại mối quan hệ cũng chiều giữa dòng tiền và đầu tư.