Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học của đề tài 1. Khả năng sinh sản của gia cầm Sinh sản là chỉ tiêu rất được quan tâm trong công tác giống. Ở các loại gia cầm khác nhau thì đặc điểm sinh sản cũng có sự khác nhau rõ rệt.
Sức đẻ trứng của gà là một trong những tiêu chí quan trọng để đánh giá khả năng sản xuất. Sức đẻ trứng là số trứng thu được của mỗi đàn hoặc mỗi mái đẻ trong khoảng thời gian nhất định (một tháng, một mùa, một chu kỳ, sau 10 tháng tuổi,…). và Bilchel H (1978) [3] thì sức đẻ trứng chịu ảnh hưởng của 5 yếu tố chính: (1) Tuổi đẻ đầu hay tuổi thành thục. (2) Chu kỳ đẻ trứng hay cường độ đẻ trứng.
(3) Tần số thể hiện bản năng đòi ấp. (4) Thời gian nghỉ đẻ, đặc biệt là nghỉ đẻ mùa đông. Các yếu tố trên có sự điều khiển bởi kiểu gen di truyền của từng giống và còn phụ thuộc vào điều kiện như: Chăm sóc, nuôi dưỡng, nhiệt độ môi trường, ánh sáng, các yếu tố tiểu khí hậu khác. Năng suất trứng của một cá thể gà là tổng số trứng đẻ ra trên một đơn vị thời gian.
Đây là chỉ tiêu quan trọng, phản ánh trạng thái sinh lý và khả năng hoạt động của hệ sinh dục. Năng suất trứng phụ thuộc nhiều vào loài, giống, hướng sản xuất, mùa vụ và đặc điểm của cá thể. Năng suất trứng là một tính trạng số lượng nên nó phụ thuộc nhiều vào điều kiện ngoại cảnh. Năng suất trứng được đánh giá qua cường độ đẻ và chu kỳ đẻ kéo dài.
Giống gia cầm nào có tỷ lệ đẻ cao và kéo dài trong thời kỳ sinh sản là giống tốt, nếu chế độ dinh dưỡng đảm bảo thì năng suất sinh sản sẽ cao. Năng suất trứng/năm của một quần thể gà mái cao sản được thể hiện theo quy luật, c 5 cường độ đẻ trứng cao nhất vào tháng thứ hai, thứ ba sau đó giảm dần cho đến hết năm đẻ. Cường độ đẻ trứng là sức đẻ trứng trong một thời gian ngắn. Trong thời gian này có thể loại trừ ảnh hưởng của môi trường.
Thời gian kéo dài sự đẻ có liên quan đến chu kỳ đẻ trứng. Chu kỳ đẻ kéo dài hay ngắn phụ thuộc vào cường độ và thời gian chiếu sáng (Đây là cơ sở để áp dụng chiếu sáng nhân tạo trong chăn nuôi gà đẻ). Giữa các chu kỳ đẻ, gà thường có những khoảng thời gian đòi ấp. Sự xuất hiện bản năng đòi ấp phụ thuộc nhiều vào yếu tố di truyền vì ở các giống khác nhau có bản năng ấp khác nhau.
Điều này chịu ảnh hưởng nhiều bởi yếu tố như: Nhiệt độ, ánh sáng, dinh dưỡng. và Bilchel H (1978) [3], nhiệt độ cao và bóng tối sẽ kích thích sự ham ấp, đồng thời yếu tố gen chịu tác động phối hợp giữa các gen thường và gen liên kết giới tính. Trên cơ sở tỷ lệ đẻ hằng ngày hoặc tuần cho phép đánh giá một phần nào về chất lượng giống và mức độ ảnh hưởng của chế độ ngoại cảnh đến sự sản xuất của đàn giống. Nghiên cứu của Brandsch H.
và Bilchel H cũng cho rằng gà thịt nặng cân đẻ ít hơn do tồn tại nhiều thể vàng nên lấn át buồng trứng thường xuyên hơn so với gà dòng trứng. Thời gian nghỉ đẻ ngắn hay dài có ảnh hưởng trực tiếp đến sản lượng trứng cả năm. Gà thường hay nghỉ đẻ vào mùa đông do nguyên nhân giảm dần về cường độ và thời gian chiếu sáng tự nhiên. Ngoài ra, sự nghỉ đẻ này còn do khí hậu, sự thay đổi thức ăn, chu chuyển đàn.
Thời gian nghỉ đẻ là tính trạng số lượng có hệ số di truyền cao, người ta có thể cải thiện di truyền bằng cách chọn lọc giống. Trong chọn lọc cần chú ý tới chỉ số trung bình chung của giống. Khối lượng trứng phụ thuộc vào khối lượng cơ thể, giống, tuổi đẻ, tác động dinh dưỡng tới gà sinh sản. Đồng thời khối lượng trứng lại quyết định tới chất lượng trứng giống, tỷ lệ ấp nở, khối lượng và sức sống của gà con.
Nó là chỉ tiêu không thể thiếu của việc chọn lọc con giống. và Bilchel H (1978) [3] cho biết: Trứng gia cầm khi bắt đầu đẻ nhỏ hơn trứng gia cầm lúc trưởng thành. Khối lượng trứng phụ thuộc trực tiếp vào chiều dài, chiều rộng của quả trứng cũng như khối lượng lòng trắng, lòng đỏ và vỏ. Theo Nguyễn Duy Hoan và cs (1998) [9] trong cùng một độ tuổi thì khối lượng trứng tăng lên chủ yếu do khối lượng lòng trắng lớn hơn nên giá trị năng lượng giảm dần.
Loại giống gà khác nhau thì khối lượng trứng khác nhau; khối lượng gà con khi nở thường bằng 62 - 78% khối lượng trứng ban đầu. Một số đặc điểm sinh học của trứng gia cầm Trứng gà có 3 phần cơ bản: Vỏ, lòng đỏ và lòng trắng. Tỷ lệ các phần/khối lượng trứng thì vỏ chiếm 10 - 11,6%; lòng trắng chiếm 57 - 60%; lòng đỏ chiếm 30 - 32%. Thành phần hoá học của trứng không vỏ: Nước chiếm 73,5 - 74,4%; protein 12,5 - 13%; mỡ 11 - 12%; khoáng 0,8 - 1,0%.
Trứng có đặc điểm hình thái: Hình dạng quả trứng thường có hình oval hoặc elip, một đầu lớn và một đầu nhỏ. và Bilchel H (1978) [3] thì tỷ lệ giữa chiều dài và chiều rộng của quả trứng là một chỉ số ổn định 1:0,75. Hình dạng của trứng tương đối ổn định, sự biến động theo mùa cũng không có ảnh hưởng lớn và luôn có tính di truyền bền vững và có những biến dị không rõ rệt. Chỉ số hình thái ở mỗi loài gia cầm khác nhau và được quy định bởi nhiều gen khác nhau.
Nguyễn Hoài Tao, Tạ An Bình (1984) [16] cho rằng: Khoảng biến thiên trị số hình thái của trứng gà là 1,34 - 1,36; trứng vịt là 1,57 - 1,64; trứng có hình dạng quá dài hoặc tròn đều cho chất lượng thấp. Trứng gia cầm có cấu tạo từ ngoài vào gồm những thành phần chính là: vỏ cứng, màng vỏ, lòng trắng, lòng đỏ có chứa đĩa phôi. Mỗi thành phần chiếm tỷ lệ khác nhau ở mỗi cá thể, dòng, giống, chế độ chăm sóc nuôi dưỡng. Tuy nhiên, vẫn có sự dao động tương đối.
c 7 Vỏ trứng: Vỏ trứng là lớp vỏ bọc ngoài cùng bảo vệ về mặt cơ học, hoá học, lý học cho các thành phần khác bên trong trứng. Màu sắc của vỏ trứng phụ thuộc vào giống, lá tai của từng loại gia cầm khác nhau. Bên ngoài, nó được bao phủ bởi một lớp keo dính do âm đạo tiết ra, có tác dụng làm giảm ma sát giữa thành âm đạo và trứng, tạo thuận lợi cho việc đẻ trứng, hạn chế sự bốc hơi nước của trứng và ngăn cản sự xâm nhập của vi khuẩn. Vỏ trứng có hai lớp màng đàn hồi tách nhau tạo thành buồng khí có ý nghĩa trong quá trình trao đổi khí với môi trường bên ngoài.
Vỏ trứng được cấu tạo chủ yếu từ canxi, trên bề mặt có nhiều lỗ khí. Theo Nguyễn Duy Hoan và cs (1998) [9], trên bề mặt vỏ trứng gà trung bình có khoảng 10.000 lỗ khí, mật độ lỗ khí khoảng 150 lỗ/1cm2, đường kính các lỗ khí dao động 4 - 10 µm. Mật độ lỗ khí không đều, tập trung nhiều nhất ở đầu to giảm dần ở hai bên và thấp nhất ở đầu nhỏ. Chất lượng vỏ trứng thể hiện ở độ dày và độ bền của vỏ trứng.
Nó có ý nghĩa trong vận chuyển và ấp trứng. Độ dày vỏ trứng gà dao động từ 0,229 - 0,373 mm, độ chịu lực là 2,44 - 3 kg/cm2. Theo Nguyễn Duy Hoan và cs (1998) [9] thì chất lượng vỏ trứng không những chịu ảnh hưởng của các yếu tố như canxi (70% canxi cần cho vỏ trứng là lấy trực tiếp từ thức ăn), ngoài ra vỏ trứng hình thành cần có photpho, vitamin D3, vitamin K, các nguyên tố vi lượng. khi nhiệt độ tăng từ 20 -300C, độ dày vỏ trứng giảm 6- 10% hoặc đẻ ra trứng không có vỏ hoặc bị biến dạng.
Theo Nguyễn Thị Bạch Yến (1996) [20] nếu vỏ trứng quá mỏng, làm quá trình bốc hơi nước diễn ra nhanh, dẫn tới trứng bị mất nước gây chết phôi, sát vỏ, gà con nở ra yếu, tỷ lệ nuôi sống giảm. Nếu vỏ trứng quá dầy cũng ảnh hưởng đến khả năng ấp nở, trao đổi khí kém, gà con không mổ vỏ ra ngoài được. Độ dày vỏ ở đầu tù khoảng 0,279 - 0,588 mm, ở đầu nhọn khoảng 0,294 - 0,334 mm. Dưới lớp vỏ cứng là hai lớp màng dưới vỏ: Hai lớp màng này rất mỏng, độ dày của hai lớp khoảng 0,057 - 0,069 mm, lớp ngoài dày hơn lớp trong.
c 8 Lớp ngoài sát với vỏ trứng, lớp trong nằm sát với lòng trắng và đều có lỗ thở cho không khí đi vào giúp phôi thai phát triển ở giai đoạn cuối. Lòng trắng: Tiếp theo của lớp màng là đến lớp lòng trắng. Lòng trắng là phần bao bọc bên ngoài lòng đỏ, nó là sản phẩm của ống dẫn trứng. Lòng trắng chủ yếu là albumin giúp cho việc cung cấp khoáng và muối khoáng, tham gia cấu tạo lông, da trong quá trình phát triển cơ thể ở giai đoạn phôi.
Chất lượng lòng trắng được xác định qua chỉ số lòng trắng và đơn vị Haugh. Lòng trắng chiếm tỷ lệ cao nhất, tới 56 %, gồm 4 lớp: Lớp loãng ngoài, lớp đặc giữa, lớp loãng giữa, lớp đặc trong… Đây là nguồn cung cấp chất dinh dưỡng và nước cho phôi phát triển. Độ keo dính của lòng trắng phụ thuộc vào các yếu tố như: Nuôi dưỡng, giống, tuổi, bảo quản trứng,… Bảo quản trứng không đúng, kéo dài thời gian bảo quản làm cho lòng trắng trở nên loãng hơn dẫn tới pha lẫn giữa các lớp lòng trắng sẽ dẫn đến rối loạn cấu trúc sinh học và làm giảm chất lượng trứng. Trong lòng trắng còn chứa dây chằng lòng đỏ có tác dụng giữ cho lòng đỏ luôn ở trung tâm của trứng.
Theo Trần Huê Viên (2006) [19] cho biết khối lượng trứng tương quan rõ rệt với khối lượng lòng trắng (r = 0,86) khối lượng lòng đỏ (r = 0,72) và khối lượng vỏ (r = 0,48). Theo Ngô Giản Luyện (1994) [13] cho rằng: Chỉ số lòng trắng ở mùa đông cao hơn ở mùa xuân và mùa hè. Trứng gà mái tơ và gà mái già có chỉ số lòng trắng thấp hơn gà mái đang độ tuổi sinh sản. Trứng bảo quản lâu, chỉ số lòng trắng giảm.
Chất lượng lòng trắng giảm nếu cho gà ăn thiếu protein và vitamin nhóm B. Để đánh giá chất lượng lòng trắng người ta quan tâm đến chỉ số lòng trắng, được tính bằng tỷ lệ chiều cao lòng trắng đặc so với trung bình cộng đường kính nhỏ và đường kính lớn của lòng trắng trứng.