Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ ĐÀO TẠO NGHỀ CÔNG NGHỆ Ô TÔ THEO CHUẨN ĐẦU RA Ở TRƯỜNG CAO ĐẲNG 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu về đào tạo nghề theo chuẩn đầu ra 1. Những nghiên cứu về đào tạo nghề Bàn về vai trò của đào tạo nghề trong hệ thống giáo dục, tại chương trình nghị sự của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) tổ chức ngày 22/9/2005 ở Copenhagen – Đan Mạch, các lãnh đạo cấp cao Bộ Giáo dục thuộc các nước thành viên đã “xác định ưu tiên chính sách quan trọng nhất trong giáo dục những năm sắp tới không phải là trường phổ thông hay trường đại học, mà thực tế là giáo dục và đào tạo nghề” [64].
“Ba lý do chính lý giải cho sự quan tâm ngày càng gia tăng của các nhà hoạch định chính sách đối với đào tạo nghề gồm: yếu tố kinh tế, các căng thẳng trong hệ thống và sự thiếu quan tâm trước đây với đào tạo nghề” [64]. Năm 2010 trong bài viết “Learning for Johs” (Học để làm) đã cho rằng “Đào tạo nghề đóng vai trò trung tâm trong việc chuẩn bị cho thanh niên đi làm, phát triển kỹ năng của người lớn và đáp ứng nhu cầu thị trường lao động của nền kinh tế. Nó đồng nghĩa với việc bắt đầu xây dựng nền tảng các kỹ năng cơ bản và có thể chuyển đổi thành các bằng cấp chuyên nghiệp, từ đó phát triển các nghề nghiệp cá nhân” [65]. Mặc dù nhấn mạnh tiềm năng của đào tạo nghề trong việc thúc đẩy các mục tiêu kinh tế, xã hội và cá nhân là rất lớn, Euler,D.
(2015) trong nghiên cứu của mình đã chỉ ra nghiên cứu vai trò kép trong đào tạo nghề. Ông đã chỉ rõ trong đào tạo nghề đóng vai trò kép vừa có ý nghã giáo dục giáo dục là làm gia tăng kiến thức về khoa học vừa có chức năng đào tạo nghề và đào tạo nghề [50]. Cũng theo Euler,D. (2018) “đánh giá loại hình này vẫn chưa được khai thác tối đa ở nhiều quốc gia.
Một hệ thống đào tạo nghề hiệu quả có thể giúp các thế hệ có được những kỹ năng cần thiết để đáp ứng yêu cầu làm việc, có trách nhiệm tham gia vào xã hội với tư cách là công dân và vì một cuộc sống cá nhân xứng đáng” [52]. 12 Ở góc độ chính sách quản lý, các chính phủ luôn quan tâm đầu tư, đổi mới hoạt động đào tạo thông qua việc xây dựng, hoàn thiện hệ thống luật pháp và chính sách về giáo dục – đào tạo nghề. Levesque và cộng sự, (2008) cho rằng “sự ra đời của đạo luật về giáo dục – đào tạo nghề là căn cứ để các trường triển khai chương trình đào tạo”. Cùng với quá trình phát triển, đạo luật này đã được Hội đồng Tư vấn Quốc gia về Đào tạo nghề điều chỉnh, tạo điều kiện triển khai các chương trình cải cách “Tech-Prep” làm cho các hoạt động đào tạo nghề trở thành một chuỗi thống nhất của các khóa học [59].
Sharpe và Gibson (2005) lại cho rằng tại quốc gia này, chính sách đào tạo nghề có sự khác biệt giữa các bang, đồng thời chính quyền bang chịu trách nhiệm về chính sách giáo dục, trong đó có đào tạo nghề cho người lao động trên địa bàn (Sharpe và Gibson, 2005) [73]. Trong bài viết “Eropean Quality Asurance in Vocational Education and Training” (2016) đã cho thấy tại châu Âu, đã bàn luận về đảm bảo chất lượng trong giáo dục và đào tạo nghề [53]. Australia cũng là một nước có hệ thống đào tạo nghề tiên tiến và được nhiều quốc gia học hỏi kinh nghiệm. Wheelahan và Carter (2001) “chỉ ra rằng hệ thống dạy nghề ở quốc gia này được quản lý bởi hai yếu tố: khuôn khổ luật pháp chính phủ và quan hệ lao động.
Khuôn khổ quản lý đặt dưới sự quản lý của chính quyền liên bang. Chính quyền các bang chịu trách nhiệm về việc giáo dục và đào tạo theo hiến pháp” [81]. Snell và Hart (2007) cho rằng, “trước đây chính quyền bang chịu trách nhiệm về hệ thống giáo dục kỹ thuật và đào tạo nghề. Các hoạt động về đào tạo nghề cũng do chính quyền bang thực hiện thông qua một cơ chế đặc biệt về tài trợ, vận hành và điều phối các hoạt động giáo dục kỹ thuật và đào tạo nghề của bang.
Cùng với thời gian, hoạt động đào tạo nghề được điều chỉnh, theo đó, nhiều tổ chức đào tạo nghề được đưa về quyền quản lý của Bộ Lao động và Bộ này đã thực hiện các điều chỉnh, chú trọng vào tính liên thông trong đào tạo nghề, chuẩn kỹ năng quốc gia, đào tạo theo mô đun và dựa trên năng lực thống nhất ở cấp quốc gia, hội nhập đào tạo cũng như thừa nhận đào tạo của khu vực doanh nghiệp…” [76]. Tại châu Á, Ngân hàng Phát triển Châu Á đã đưa ra các khuyến nghị chính sách về chiến lược quốc gia liên quan đến vấn đề giáo dục nghề nghiệp gồm: (i) Phát triển kỹ năng như một trụ cột chính trong quy hoạch quốc gia; (ii) Định hướng lại và cân bằng lại hệ thống giáo dục của châu Á; (iii) Cải cách giáo dục – đào tạo kỹ thuật và 13 dạy nghề ưu tiên (tức là chọn lựa một số nghề thuộc một số lĩnh vực ưu tiên); (iv) Giảm thiểu sự không phù hợp về kỹ năng thông qua hợp tác quốc tế. Đặc biệt trong quá trình chuyển đổi kinh tế và công nghiệp, các ngành nghề mới xuất hiện đòi hỏi các kỹ năng mới, trong khi nhiều lĩnh vực truyền thống bị thu hẹp hoặc biến mất, loại bỏ những kỹ năng cần thiết trước đây đã lỗi thời. Bối cảnh đó dẫn đến những câu hỏi chính mà các nhà hoạch định chính sách cũng như các cơ sở đào tạo phải đối mặt: Thứ nhất, làm thế nào trang bị cho người lao động sự chuyển đổi sang các lĩnh vực năng suất cao hơn và các ngành mới nổi; Thứ hai, làm thế nào đảm bảo người lao động liên tục được nâng cao kỹ năng để cho phép tăng năng suất hơn nữa.
Điều này cho thấy vai trò quan trọng của việc đào tạo lại (hay học tập suốt đời) cũng như các cơ sở giáo dục nghề nghiệp trong bối cảnh hiện nay (Ra, Chin và Liu, 2015 [68]). Tại khu vực ASEAN, Martinez-Fernandez và Powell (2009) đề xuất một số khuyến nghị chính sách: Tiếp tục mở rộng hệ thống giáo dục kỹ thuật và dạy nghề ở các nước thành viên kém phát triển nhất và ở một số nền kinh tế có thu nhập trung bình, nâng cấp chất lượng và mức độ phù hợp với thị trường lao động; Khuyến khích hợp tác giữa cộng đồng doanh nghiệp và các cơ sở giáo dục là một cách hiệu quả và khả thi để giảm bớt sự không phù hợp giữa các kết quả của hệ thống giáo dục và cơ hội việc làm; Sự tham gia của người sử dụng lao động trong việc quản lý các cơ sở đào tạo giúp bám sát thay đổi công nghệ và thực hành tại nơi làm việc, thay đổi nhu cầu về các kỹ năng cụ thể và tiêu chuẩn năng lực mới. Họ trở thành một phần của hệ thống phản hồi cho các nhà cung cấp đào tạo về việc chất lượng đào tạo có phù hợp với mong đợi của nơi làm việc hay không [61]. Dù vậy, hoạt động đào tạo nghề cũng phải đối mặt với những thách thức, rủi ro nhất định.
Ngoài ra, kinh nghiệm trong quá khứ của các quốc gia cho thấy rằng chỉ đào tạo trong quốc gia, thiếu 14 sự tiếp cận chuẩn kĩ năng quốc tế thì hầu hết các trường hợp sẽ dẫn đến hiệu quả việc làm đáng thất vọng. Martinez-Fernandez và Powell (2009) “cũng chỉ ra trong hầu hết các trường hợp, việc đào tạo đơn thuần (theo nghĩa đáp ứng các tiêu chuẩn trong nước) sẽ không mang lại kết quả phát triển tích cực. Do vậy, hợp tác quốc tế trong việc phát triển kỹ năng cần được đặt trong một khuôn khổ hợp tác rộng lớn hơn để hỗ trợ sử dụng các kỹ năng. Điều này không chỉ thể hiện ở khả năng tìm kiếm việc làm mà còn cả ở hiệu quả lao động, năng suất lao động.
Nghiên cứu cũng chỉ ra sự cần thiết phải đáp ứng các chuẩn để đạt được các chứng chỉ giáo dục nghề nghiệp nếu có thể (tức là chất lượng) ở các mức độ: quốc gia, khu vực và quốc tế. Việc này cần phải được sớm triển khai bởi sự di cư lao động trong bối cảnh toàn cầu hóa đang diễn ra ngày càng mạnh mẽ. Các cơ sở đào tạo cần đáp ứng được nhu cầu đào tạo không chỉ ở trong nước mà còn cả nước ngoài” [61]. Đồng thời, Martinez-Fernandez và Powell (2009) “nhấn mạnh phát triển kỹ năng của lực lượng lao động đòi hỏi một môi trường thuận lợi để việc cung cấp các kỹ năng được cân bằng với việc cung cấp cơ hội sử dụng các kỹ năng này.
Điều này cho thấy sự cần thiết phải nắm vững nhu cầu nghề nghiệp về cả chất lượng (kỹ năng nghề nghiệp) lẫn số lượng lao động. Do đó, các cơ sở giáo dục nghề nghiệp phải thực hiện nhiệm vụ kép là phát triển kỹ năng tích hợp với xúc tiến việc làm” [61]. Ngoài ra, Grollmann (2008) “cũng phân tích các yếu tố khác nhau có ảnh hưởng đến kiến thức chuyên môn, thực hành và hiệu quả hoạt động của đội ngũ giảng viên dạy nghề, đặc biệt là các yếu tố gắn liền giữa tri thức của giảng viên và văn hóa nghề nghiệp. Tác giả “nhấn mạnh bất kỳ đánh giá nào về chất lượng công việc của giảng viên, dù là về lý thuyết hay thực hành, đều cần được xem xét dựa trên bối cảnh của môi trường thể chế mà họ thực hành” [54].
Nghiên cứu của Simona (2015) “cho thấy vai trò của đào tạo giảng viên và những người đào tạo nghề với việc gắn kết kỹ năng sống. Cả giảng viên và người học cần nhận thức được những kỹ năng sống là cần thiết trong việc cải thiện việc làm, xác định nhu cầu học tập và thái độ đối với kỹ năng sống. Các chương trình đào tạo cần tập trung giúp giảng viên phát triển thái độ tích cực của người học trong công việc, kỹ năng kinh doanh và kỹ năng làm việc; nâng cao tự chủ và bồi dưỡng sự phát triển cá nhân của người học theo yêu cầu đào tạo giảng viên để phát triển khả năng tự quản lý, kỹ năng học và tự đánh giá; thường xuyên trao đổi thông tin để cập nhật những thay đổi trong thị trường lao động thông qua hội nghị, hội thảo với sự tham gia của các doanh nghiệp” [75].