Tổng quan luận án
Hoạt động tố tụng hình sự là lĩnh vực pháp lý có ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích cơ bản của công dân. Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã ban hành nhiều chủ trương, định hướng về cải cách tư pháp được thể hiện tại Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX, X, XI, Nghị quyết số 08/2002/NQ-TW ngày 02/01/2002 và Nghị quyết số 49/2005/NQ-TW ngày 02/06/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020. Cơ quan Cảnh sát điều tra (CSĐT) là một trong những cơ quan tiến hành tố tụng chủ chốt, giữ nhiệm vụ phòng ngừa, phát hiện và điều tra các vụ án hình sự theo thẩm quyền.
Kể từ khi Bộ luật Tố tụng hình sự (TTHS) năm 2003 và Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự (ĐTHS) năm 2004 có hiệu lực, hệ thống Cơ quan CSĐT từ cấp Trung ương đến cấp huyện đã được sắp xếp lại, hoạt động dần đi vào nền nếp và đạt được những kết quả đáng kể trong xử lý tội phạm. Tuy nhiên, sau gần 10 năm thực hiện mô hình điều tra mới và chủ trương tăng thẩm quyền cho Công an cấp huyện, thực tiễn đã bộc lộ những vướng mắc: sự phân định thẩm quyền giữa các lực lượng điều tra chưa rõ ràng; thẩm quyền quản lý hành chính nhà nước của Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan CSĐT còn chồng chéo với quyền năng tố tụng tư pháp; quy định và thực tiễn bổ nhiệm chức danh tư pháp (Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng, Điều tra viên) còn phát sinh bất cập; biên chế cán bộ điều tra còn thiếu hụt và cơ sở vật chất, trang thiết bị kỹ thuật phục vụ công tác điều tra còn thiếu và lạc hậu. Những hạn chế này đặt ra yêu cầu phải nghiên cứu toàn diện các quy định của pháp luật TTHS và thực tiễn hoạt động của Cơ quan CSĐT để đề xuất các giải pháp hoàn thiện.
Luận án tiến sĩ luật học với đề tài "Cơ quan Cảnh sát điều tra trong tố tụng hình sự Việt Nam" được thực hiện nhằm làm rõ các vấn đề lý luận, đánh giá thực trạng áp dụng pháp luật và đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của cơ quan này.
Mục đích nghiên cứu của luận án là chỉ ra những bất cập của pháp luật TTHS về Cơ quan CSĐT, những hạn chế trong hoạt động của Cơ quan CSĐT trên toàn quốc và nguyên nhân của những bất cập, hạn chế đó, làm cơ sở đề xuất hệ thống giải pháp, kiến nghị nhằm góp phần hoàn thiện pháp luật TTHS và nâng cao hiệu quả hoạt động của Cơ quan CSĐT.
Nhiệm vụ nghiên cứu được phân định thành 3 nội dung cụ thể:
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận chung, các quy định của pháp luật TTHS về hoạt động của Cơ quan CSĐT; từ đó, chỉ ra những điểm bất hợp lý trong quy định của pháp luật TTHS hiện hành về Cơ quan CSĐT.
- Khảo sát thực trạng hoạt động của Cơ quan CSĐT; làm rõ những hạn chế trong hoạt động của Cơ quan CSĐT và những nguyên nhân của những hạn chế đó.
- Đưa ra hệ thống giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật TTHS về Cơ quan CSĐT và nâng cao hiệu quả hoạt động của cơ quan này.
Đối tượng nghiên cứu của luận án là những vấn đề lý luận, quy định của pháp luật TTHS và thực tiễn áp dụng quy định của pháp luật TTHS về Cơ quan CSĐT.
Phạm vi nghiên cứu được xác định cụ thể trên ba phương diện:
- Phạm vi nội dung: Luận án tập trung nghiên cứu Cơ quan CSĐT trên các mặt: mô hình tổ chức bộ máy; thẩm quyền điều tra; người tiến hành tố tụng trong Cơ quan CSĐT (Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan CSĐT và Điều tra viên); chế độ bảo đảm cho hoạt động điều tra của Cơ quan CSĐT Bộ Công an, Cơ quan CSĐT Công an cấp tỉnh và Cơ quan CSĐT Công an cấp huyện.
- Phạm vi không gian (địa bàn): Hoạt động của Cơ quan CSĐT các cấp trên phạm vi toàn quốc.
- Phạm vi thời gian: Khảo sát thực tiễn tổ chức và hoạt động của Cơ quan CSĐT trong khoảng thời gian từ năm 2005 đến hết năm 2013.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tổng quan tài liệu trong văn bản luận án được cấu trúc thành hai khối nghiên cứu chính: các công trình nước ngoài có liên quan đến mô hình điều tra, cảnh sát và các công trình nghiên cứu trong nước trực tiếp về Cơ quan CSĐT và pháp luật TTHS Việt Nam.
Ở phạm vi quốc tế, tác giả điểm qua các công trình nghiên cứu về tổ chức cảnh sát và cơ chế điều tra hình sự tại một số quốc gia:
- Lee Jung-Soo với công trình The characteristics on the Korean Prosecution system and the Prosecutor’s direct Investigation phân tích hệ thống công tố Hàn Quốc, vai trò của công tố viên trong điều tra trực tiếp, chỉ đạo cảnh sát và các vấn đề về quyền con người cũng như nguy cơ phát sinh tham nhũng khi cơ quan công tố nắm giữ quyền lực điều tra quá lớn.
- Chenthilkumar Paramasivam với tài liệu Police organisation in India (do Commonwealth human rights initiative ấn hành) phân tích lịch sử, cấu trúc, thẩm quyền của lực lượng Cảnh sát Ấn Độ ở cấp liên bang và tiểu bang, từ đó đưa ra khuyến nghị về hiện đại hóa lực lượng cảnh sát.
- David H. Bayley và Clifford D. Shearing với báo cáo The new Structure of policing – Description, Conceptualization, and Research Agenda (Cơ quan Tư pháp Quốc gia Hoa Kỳ) đánh giá sự biến đổi cấu trúc của lực lượng cảnh sát Hoa Kỳ gắn liền với các yếu tố kinh tế - xã hội, sự phát triển của khu vực an ninh tư nhân và định hướng cải cách cảnh sát.
- Stephen Johnson và Lohanna Mendelson với báo cáo Police reform in Latin America (Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế - CSIS) tập trung vào nhu cầu thay đổi tổ chức và hoạt động điều tra, xử lý tội phạm của cảnh sát tại các quốc gia Châu Mỹ La Tinh.
- Stephen Rushin với nghiên cứu Structural police Reform (Đại học Luật Illinois) phân tích cấu trúc cảnh sát Hoa Kỳ, quy trình điều tra, thẩm vấn, sử dụng vũ lực và yêu cầu về tính minh bạch thông tin trong cải cách cảnh sát.
- Amy Farrell và Jack McDevitt với sách chuyên khảo Identifying Challenges to Improve Investigation and Prosecution of State and Local Human Trafficking Cases (Viện Tư pháp Quốc gia Hoa Kỳ) khảo sát quy trình điều tra, khởi tố các vụ án buôn bán người của lực lượng cảnh sát địa phương và liên bang.
- Elrena van der Spuy và Ricky Röntsch với nghiên cứu Police and crime prevention in Africa: A brief appraisal of structures, policies and practices (Trung tâm Tội phạm học, Đại học Cape Town, Nam Phi) so sánh cấu trúc, chính sách và mô hình cảnh sát cộng đồng trong phòng ngừa tội phạm tại Kenya, Nigeria, Nam Phi, Tanzania và Uganda.
Tại Việt Nam, các công trình nghiên cứu tiêu biểu đã được công bố gồm có:
- Sách chuyên khảo Cơ quan điều tra, Thủ trưởng Cơ quan điều tra và Điều tra viên trong Công an nhân dân của PGS.TS Đỗ Ngọc Quang (NXB Công an nhân dân, năm 2000): Nghiên cứu tổng quan về ba chủ thể điều tra trong Công an nhân dân (CAND), tuy nhiên nội dung được hoàn thành trước thời điểm ban hành Bộ luật TTHS năm 2003 và Pháp lệnh tổ chức ĐTHS năm 2004, đồng thời nghiên cứu chung về cơ quan điều tra thay vì tập trung riêng vào Cơ quan CSĐT.
- Luận án tiến sĩ luật học Mối quan hệ giữa Cơ quan CSĐT và Viện kiểm sát trong điều tra vụ án hình sự của Đào Hữu Dân (bảo vệ năm 2006): Đi sâu làm rõ mối quan hệ tố tụng giữa Cơ quan CSĐT và Viện kiểm sát nhân dân (VKSND), chưa tiếp cận tổng thể về tổ chức bộ máy và thẩm quyền nội tại của Cơ quan CSĐT.
- Luận văn thạc sĩ luật học Tăng thẩm quyền điều tra cho Cơ quan Cảnh sát điều tra cấp huyện – Những vấn đề lý luận và thực tiễn của Phạm Quang Thắng (bảo vệ năm 2007): Nghiên cứu thực trạng con người, cơ sở vật chất khi tăng thẩm quyền cho Công an cấp huyện, chưa bao quát Cơ quan CSĐT ở cấp tỉnh và cấp Bộ.
- Các bài viết học thuật trên các tạp chí chuyên ngành: Bài viết của TS Triệu Văn Đạt (Tạp chí Cảnh sát nhân dân số 6/2012) về mô hình tổ chức và thẩm quyền Cơ quan CSĐT; bài viết của Đào Anh Tới (Tạp chí CAND kỳ 2 tháng 12/2012) đề xuất sửa đổi Thông tư số 12/2004/TT-BCA(V19) ngày 23/09/2004 của Bộ trưởng Bộ Công an nhằm điều chỉnh chức năng của các Đội nghiệp vụ Công an cấp huyện; bài viết của Nguyễn Xuân Ngư (Tạp chí CAND kỳ 1 tháng 06/2012) về giải pháp tăng cường toàn diện Công an cấp huyện; bài viết của TS Trần Trọng Lượng (Tạp chí CAND kỳ 1 tháng 10/2012) về điều chỉnh mô hình CSĐT; bài viết của TS Nguyễn Văn Lan (Tạp chí CAND số 09/2007) bàn về sửa đổi Pháp lệnh tổ chức ĐTHS liên quan đến tiêu chuẩn Điều tra viên và Hội đồng tuyển chọn Điều tra viên; bài viết của Lại Văn Trình (Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 2/2012) nghiên cứu về cơ quan và người tiến hành tố tụng nói chung.
Khoảng trống nghiên cứu được luận án xác định giải quyết gồm:
Thứ nhất, các công trình đã công bố chủ yếu nghiên cứu ở góc độ chuyên biệt (quan hệ với Viện kiểm sát, thẩm quyền riêng của cấp huyện hoặc nghiên cứu chung toàn bộ cơ quan điều tra), chưa có công trình nào nghiên cứu một cách có hệ thống và toàn diện về Cơ quan CSĐT trong CAND từ mô hình tổ chức, thẩm quyền điều tra, người tiến hành tố tụng đến các điều kiện bảo đảm.
Thứ hai, chưa có tài liệu nào hệ thống hóa đầy đủ các văn bản quy phạm pháp luật TTHS điều chỉnh riêng đối với Cơ quan CSĐT (từ Bộ luật TTHS, Pháp lệnh tổ chức ĐTHS đến các Thông tư, Chỉ thị của Bộ Công an).
Thứ ba, về hướng tiếp cận mô hình tố tụng, luận án đặt trọng tâm nghiên cứu việc hoàn thiện Cơ quan CSĐT trên cơ sở mô hình tố tụng thẩm vấn truyền thống có tiếp thu, tăng cường các yếu tố tranh tụng theo tinh thần Hiến pháp năm 2013 và cải cách tư pháp, bảo đảm tính cân bằng giữa yếu tố thẩm vấn và tranh tụng mà không làm thay đổi bản chất nền tảng của hệ thống tố tụng Việt Nam.
Thứ tư, luận án đi sâu giải quyết các vấn đề còn nhiều ý kiến khác nhau: phân định thẩm quyền điều tra theo sự việc (phân công, phân cấp), phân tách giữa thẩm quyền quản lý hành chính nhà nước của Thủ trưởng/Phó Thủ trưởng với thẩm quyền tố tụng của Điều tra viên.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án xây dựng hệ thống 5 câu hỏi nghiên cứu:
- Cơ quan CSĐT có vị trí, chức năng, nhiệm vụ gì? Lịch sử hình thành và phát triển như thế nào?
- Hoạt động của Cơ quan CSĐT tuân theo những nguyên tắc gì? Cơ quan CSĐT có mối quan hệ như thế nào đối với các cơ quan tiến hành tố tụng khác và với những cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra?
- Pháp luật TTHS về Cơ quan CSĐT hiện nay được quy định như thế nào? Có những ưu điểm, bất cập gì? Nguyên nhân của những bất cập đó?
- Thực tế hoạt động của Cơ quan CSĐT trong CAND có những ưu, nhược điểm gì? Nguyên nhân của những nhược điểm đó?
- Để hoàn thiện pháp luật TTHS và hoạt động của Cơ quan CSĐT thì cần có những giải pháp, kiến nghị gì?
Hệ thống lý thuyết và quan điểm nền tảng của đề tài bao gồm lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về bảo vệ chính quyền dân chủ và xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân; các quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước về cải cách tư pháp (Nghị quyết số 08/2002/NQ-TW, Nghị quyết số 49/2005/NQ-TW); các quy định pháp luật thực định về tố tụng hình sự.
Tác giả xác lập 4 giả thuyết nghiên cứu:
- Cơ quan CSĐT có vị trí, vai trò quan trọng trong hệ thống các cơ quan tư pháp; là cơ quan chủ công, nòng cốt trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, giữ gìn trật tự an toàn xã hội.
- Để bảo đảm hiệu quả hoạt động, Cơ quan CSĐT phải tuân theo những nguyên tắc nhất định và có mối quan hệ chặt chẽ với các cơ quan tiến hành tố tụng khác như Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân.
- Hệ thống pháp luật TTHS về Cơ quan CSĐT về cơ bản là phù hợp, nhưng trước yêu cầu thực tiễn đã bộc lộ những điểm hạn chế, bất cập cần khắc phục, hoàn thiện, nhất là đối với hệ thống văn bản dưới luật.
- Để hoàn thiện những bất cập trong hệ thống pháp luật TTHS về Cơ quan CSĐT, cần thiết phải nghiên cứu đồng bộ cả ở góc độ quy định pháp luật và thực tiễn thực thi để đề xuất các giải pháp, kiến nghị phù hợp.
Phương pháp luận chỉ đạo quá trình nghiên cứu là phương pháp luận biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác - Lênin.
Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được sử dụng gồm:
- Phương pháp khảo sát thực tiễn: Khảo sát thực trạng tổ chức và hoạt động của Cơ quan CSĐT trên phạm vi cả nước.
- Phương pháp thống kê hình sự: Thu thập, tổng hợp và xử lý các số liệu hoạt động điều tra để phản ánh thực trạng.
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm: Đúc kết kinh nghiệm qua các giai đoạn phát triển lịch sử của lực lượng điều tra hình sự.
- Phương pháp tọa đàm trao đổi với các chuyên gia: Thu thập ý kiến của các chuyên gia lý luận và thực tiễn trong ngành tư pháp để củng cố các luận cứ.
- Phương pháp lựa chọn điển hình: Áp dụng khảo sát tại một số địa bàn, đối tượng điển hình để phân tích sâu các nội dung không có điều kiện khảo sát toàn diện cả nước.
- Phương pháp tổng hợp, phân tích, so sánh: Xử lý dữ liệu thu thập được để đối chiếu, chứng minh cho các luận điểm khoa học.
Nguồn dữ liệu và tư liệu của luận án gồm:
- Báo cáo tổng kết công tác điều tra, xử lý tội phạm của Văn phòng Cơ quan CSĐT Bộ Công an từ năm 2005 đến hết năm 2013.
- Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật: Hiến pháp năm 2013; Bộ luật Hình sự năm 1999; Bộ luật TTHS năm 1988 và năm 2003; Pháp lệnh tổ chức ĐTHS năm 1989 và năm 2004; các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn của Bộ Công an như Thông tư số 12/2004/TT-BCA(V19), Thông tư số 28/2014/TT-BCA; các sắc lệnh, văn kiện lịch sử liên quan đến lực lượng Chấp pháp và Cảnh sát điều tra.
Nội dung chính theo từng chương
Luận án được kết cấu thành 3 phần chính, trong đó Phần 3 (Nội dung, kết quả nghiên cứu) gồm 3 chương.
Chương 1: Nhận thức chung về Cơ quan Cảnh sát điều tra
Chương 1 tập trung làm rõ các vấn đề lý luận nền tảng điều chỉnh Cơ quan CSĐT trong tố tụng hình sự Việt Nam:
Khái niệm và vị trí pháp lý tố tụng: Căn cứ Khoản 1 Điều 33 Bộ luật TTHS năm 2003 và Điều 1, Điều 3 Pháp lệnh tổ chức ĐTHS năm 2004, Cơ quan CSĐT được xác định là cơ quan tiến hành tố tụng thuộc hệ thống cơ quan điều tra trong CAND. Cơ quan CSĐT được tổ chức theo hệ thống 3 cấp: Cơ quan CSĐT Bộ Công an; Cơ quan CSĐT Công an cấp tỉnh; Cơ quan CSĐT Công an cấp huyện. Luận án định vị Cơ quan CSĐT là lực lượng thuộc lực lượng vũ trang nhân dân, trực tiếp áp dụng các biện pháp tố tụng luật định nhằm phát hiện, thu thập chứng cứ chứng minh tội phạm và người phạm tội, lập hồ sơ đề nghị truy tố.
Chức năng và nhiệm vụ: Chức năng đặc trưng của Cơ quan CSĐT là điều tra khám phá tội phạm thông qua việc thu thập, nghiên cứu, đánh giá và sử dụng chứng cứ. So với giai đoạn thực hiện Pháp lệnh năm 1989 (hoạt động điều tra trinh sát tách riêng với điều tra tố tụng), Cơ quan CSĐT hiện hành thực hiện cơ chế kết hợp giữa điều tra trinh sát và điều tra tố tụng, đảm nhiệm đồng thời hai chức năng: phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm.
Nhiệm vụ của Cơ quan CSĐT gồm 3 nội dung:
- Tiến hành điều tra tất cả các tội phạm theo thẩm quyền, áp dụng các biện pháp do Bộ luật TTHS quy định để xác định tội phạm và người thực hiện hành vi phạm tội;
- Lập hồ sơ vụ án hình sự và đề nghị truy tố;
- Tìm ra nguyên nhân, điều kiện phạm tội và yêu cầu các cơ quan, tổ chức hữu quan áp dụng các biện pháp khắc phục và ngăn ngừa.
Nguyên tắc hoạt động: Hoạt động của Cơ quan CSĐT chịu sự chi phối của 3 nguyên tắc:
- Mọi hoạt động điều tra phải tuân theo quy định của Bộ luật TTHS và Pháp lệnh tổ chức ĐTHS;
- Tôn trọng sự thật, tiến hành khách quan, toàn diện và đầy đủ; phát hiện chính xác, nhanh chóng hành vi phạm tội, làm rõ chứng cứ xác định có tội và vô tội, tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ, không để lọt tội phạm và không làm oan người vô tội;
- Cơ quan CSĐT cấp dưới chịu sự hướng dẫn, chỉ đạo nghiệp vụ của Cơ quan CSĐT cấp trên, thể hiện tính chất mệnh lệnh - phục tùng của lực lượng vũ trang.
Mối quan hệ tố tụng:
- Quan hệ với Viện kiểm sát nhân dân: Thể hiện qua cơ chế kiểm sát tuân theo pháp luật và phối hợp tố tụng trong các hoạt động hỏi cung bị can, khám xét, thu giữ, kê biên tài sản, khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi. Viện kiểm sát kiểm sát các quyết định tạm đình chỉ điều tra (Điều 160 Bộ luật TTHS), đình chỉ điều tra (Điều 164 Bộ luật TTHS), và bản kết luận điều tra kết thúc vụ án (Cơ quan CSĐT phải gửi trong thời hạn 2 ngày kể từ ngày ra bản kết luận điều tra). Mối quan hệ này còn thể hiện trong các trường hợp điều tra bổ sung và phục hồi điều tra.
- Quan hệ với Tòa án nhân dân: Phối hợp trong phòng ngừa tội phạm, giải quyết khiếu nại, tố cáo phát sinh trong giai đoạn xét xử (Tòa án triệu tập Điều tra viên đối chất khi bị cáo khiếu nại về bức cung, nhục hình); phối hợp bàn giao hồ sơ khi Tòa án cấp trên rút vụ án lên xét xử sơ thẩm; thực hiện điều tra bổ sung theo quyết định của Tòa án hoặc điều tra lại khi bản án có hiệu lực pháp luật bị Hội đồng giám đốc thẩm, tái thẩm hủy bỏ.
- Quan hệ với các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra (Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, Cảnh sát biển, các đơn vị Cảnh sát và An ninh khác, trại giam...): Là quan hệ phân công và phối hợp công tác mang tính tố tụng. Yêu cầu của Cơ quan CSĐT phải bằng văn bản và có giá trị bắt buộc thi hành; các cơ quan được giao nhiệm vụ điều tra sau khi khởi tố và áp dụng biện pháp ngăn chặn phải chuyển hồ sơ cho Cơ quan CSĐT có thẩm quyền; các tranh chấp về thẩm quyền được giải quyết bởi Viện trưởng VKS có thẩm quyền.
Thẩm quyền điều tra: Được phân định theo 3 tiêu chí:
- Thẩm quyền theo sự việc: Cấp huyện điều tra các tội phạm quy định từ Chương XII đến Chương XXII Bộ luật Hình sự năm 1999 thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án cấp huyện; Cấp tỉnh điều tra các tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án cấp tỉnh và các vụ án thuộc thẩm quyền cấp huyện nhưng lấy lên trực tiếp điều tra; Cấp Bộ điều tra các vụ án đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp, liên quan nhiều địa phương hoặc có yếu tố nước ngoài thuộc thẩm quyền cấp tỉnh nhưng lấy lên trực tiếp điều tra.
- Thẩm quyền theo lãnh thổ: Xác định theo nơi xảy ra tội phạm; nếu không xác định được thì căn cứ vào nơi phát hiện tội phạm, nơi cư trú hoặc nơi bị bắt của bị can.
- Thẩm quyền theo đối tượng: Phân định ranh giới giữa Cơ quan CSĐT trong CAND với Cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân (đối tượng do quân đội quản lý hoặc vụ án xâm hại bí mật quân sự) và Cơ quan điều tra của VKSND tối cao (các tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp mà người phạm tội là cán bộ tư pháp).
Lịch sử hình thành và phát triển: Luận án phục dựng các mốc lịch sử phát triển của lực lượng điều tra hình sự CAND:
- Giai đoạn 1945 - 1954: Sắc lệnh số 33A thiết lập thể lệ bắt người của Ty Liêm phóng và Sở Cảnh sát; Sắc lệnh số 40/SL (29/03/1946) và Sắc lệnh số 131/SL (20/07/1946) thành lập Tổ chức Tư pháp Công an - tổ chức cơ quan điều tra đầu tiên trong CAND; Chỉ thị số 05/CT (12/05/1951) và Hội nghị Công an toàn quốc lần thứ 6 (tháng 8/1951) thành lập Phòng Chấp pháp thuộc Ty Bảo vệ chính trị; Sắc lệnh số 141/SL (16/02/1953) đổi Nha Công an thành Thứ Bộ Công an và tách Phòng Chấp pháp trực thuộc Thứ Bộ.
- Giai đoạn 1954 - 1975: Quyết định ngày 17/02/1955 tách Vụ Chấp pháp thành Phòng Chấp pháp và Vụ Lao cải; tháng 04/1957 Phòng Chấp pháp tách khỏi Vụ Bảo vệ chính trị trực thuộc Bộ; Công văn số 806 ngày 28/08/1959 đổi thành Vụ Chấp pháp (Vụ 4) thực hiện độc lập điều tra công khai; Chỉ thị số 508/V4 phân định thẩm quyền giữa trinh sát và chấp pháp; Nghị định số 132/CP năm 1961 đổi tên thành Cục Chấp pháp.
- Giai đoạn 1975 - 1989: Nghị định số 250/CP ngày 12/06/1981 của Hội đồng Bộ trưởng bãi bỏ Cục Chấp pháp, chính thức thành lập hai hệ thống điều tra chuyên biệt: Cục An ninh điều tra xét hỏi và Cục Cảnh sát điều tra xét hỏi (ở cấp Bộ), Phòng An ninh điều tra xét hỏi và Phòng Cảnh sát điều tra xét hỏi (ở cấp tỉnh), Đội Cảnh sát điều tra xét hỏi (ở cấp huyện).
- Giai đoạn 1989 - nay: Bộ luật TTHS năm 1988 và Pháp lệnh tổ chức ĐTHS năm 1989 công nhận Cơ quan CSĐT là cơ quan tiến hành tố tụng; Nghị định số 37/1998/NĐ-CP đổi tên Bộ Nội vụ thành Bộ Công an; Bộ luật TTHS năm 2003 và Pháp lệnh tổ chức ĐTHS năm 2004 xác lập mô hình tổ chức Cơ quan CSĐT hiện hành, tích hợp trinh sát và điều tra tố tụng, đồng thời thực hiện chủ trương phân cấp mạnh mẽ cho cấp huyện.
Chương 2: Pháp luật TTHS về Cơ quan Cảnh sát điều tra và thực trạng hoạt động của Cơ quan Cảnh sát điều tra
Chương 2 phân tích hệ thống quy phạm pháp luật thực định và đánh giá thực tiễn hoạt động điều tra dựa trên số liệu thống kê quốc gia trong giai đoạn 2005 - 2013.
Dữ liệu thực trạng hoạt động điều tra (2005 - 2013):
Số liệu tổng hợp từ các báo cáo của Văn phòng Cơ quan CSĐT Bộ Công an phản ánh quy mô và kết quả xử lý bị can của lực lượng CSĐT trên toàn quốc:
| Chỉ số hoạt động điều tra |
Số lượng (Bị can) |
Tỷ lệ so với tổng số bị can điều tra |
| Tổng số bị can Cơ quan CSĐT thụ lý điều tra |
741.085 |
100,00% |
| Số bị can khởi tố mới trong kỳ |
695.xxx* |
- |
| Số bị can Cơ quan CSĐT đã kết thúc điều tra |
526.xxx* |
70,98% |
| Số bị can có kết luận điều tra đề nghị truy tố |
512.xxx* |
69,09% (chiếm 97,34% số đã kết thúc điều tra) |
(Ghi chú: Ký hiệu xxx thể hiện dữ liệu phần nghìn được văn bản gốc rút gọn trong câu: "khởi tố mới 695", "kết thúc điều tra được 526", "đề nghị truy tố 512" trên tổng thể "741.085 bị can").
Đánh giá kết quả đạt được:
- Sau khi được tăng thẩm quyền theo Pháp lệnh năm 2004, Cơ quan CSĐT Công an cấp huyện đã hoàn thành khối lượng lớn các vụ án thụ lý;
- Chất lượng điều tra, khám phá các vụ án hình sự được nâng lên, số vụ oan sai giảm đáng kể;
- Tỷ lệ các trường hợp Viện kiểm sát trả hồ sơ để yêu cầu điều tra bổ sung ở mức không đáng kể so với tổng số các vụ án thuộc thẩm quyền mới đã giải quyết;
- Công tác phối hợp giữa Cơ quan CSĐT với Viện kiểm sát và Tòa án trong các biện pháp ngăn chặn (bắt, tạm giữ, tạm giam) và các giai đoạn truy tố, xét xử được duy trì nền nếp.
Hạn chế, vướng mắc phát sinh từ quy định pháp luật và thực tiễn:
- Tình trạng quá tải công việc tại Cơ quan CSĐT Công an cấp huyện sau khi mở rộng thẩm quyền thụ lý đối với hầu hết các tội phạm nghiêm trọng và ít nghiêm trọng;
- Sự phân định thẩm quyền điều tra theo sự việc giữa các lực lượng điều tra trong nội bộ Cơ quan CSĐT chưa cụ thể, rõ ràng, gây khó khăn cho việc phân công, phân cấp xử lý án;
- Xung đột giữa chức năng quản lý hành chính nhà nước với quyền năng tố tụng: Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan CSĐT đồng thời đảm nhiệm chức vụ quản lý hành chính trong Công an cùng cấp, dẫn đến việc chỉ đạo, kiểm tra tố tụng đôi khi bị chi phối bởi quan hệ hành chính;
- Bất cập trong các quy định và thủ tục bổ nhiệm Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan CSĐT và Điều tra viên, bao gồm các tiêu chuẩn chưa thực sự phù hợp với thực tiễn cơ sở và sự phức tạp của cơ chế Hội đồng tuyển chọn Điều tra viên;
- Biên chế cán bộ làm công tác điều tra thiếu hụt nghiêm trọng so với áp lực gia tăng của tình hình tội phạm;
- Kinh phí hoạt động và trang thiết bị, phương tiện kỹ thuật nghiệp vụ phục vụ công tác điều tra còn thiếu thốn và lạc hậu.
Chương 3: Nhận xét, đánh giá và những giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả hoạt động của Cơ quan Cảnh sát điều tra
Trên cơ sở phân tích nguyên nhân của các tồn tại (nguyên nhân lập pháp, nguyên nhân tổ chức bộ máy và nguyên nhân bảo đảm điều kiện vật chất), Chương 3 xây dựng hệ thống các giải pháp đồng bộ:
Nhóm giải pháp hoàn thiện hệ thống pháp luật:
- Định hướng sửa đổi, bổ sung Bộ luật TTHS: Xây dựng các quy phạm bảo đảm sự cân bằng giữa mô hình tố tụng thẩm vấn với việc tiếp thu có chọn lọc các yếu tố tranh tụng theo tinh thần Hiến pháp năm 2013; phân định ranh giới tố tụng giữa Cơ quan CSĐT và các cơ quan tư pháp khác.
- Đề xuất xây dựng Luật Tổ chức điều tra hình sự: Nâng tầm giá trị pháp lý từ Pháp lệnh lên Luật nhằm quy định cụ thể hóa mô hình tổ chức, phân định mạch lạc thẩm quyền điều tra giữa cấp huyện, cấp tỉnh và cấp Bộ, đồng thời xác lập lại cơ sở pháp lý và phạm vi của các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra.
- Hoàn thiện hệ thống văn bản dưới luật: Sửa đổi Thông tư số 12/2004/TT-BCA(V19) và các thông tư hướng dẫn của Bộ Công an (như Thông tư số 28/2014/TT-BCA) theo hướng điều chỉnh chức năng, nhiệm vụ của các Đội nghiệp vụ thuộc Cơ quan CSĐT Công an cấp huyện; phân bổ hợp lý lực lượng điều tra giữa các đơn vị nghiệp vụ.
Nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức và hoạt động thực tiễn:
- Kiện toàn tổ chức bộ máy: Phân định ranh giới giữa thẩm quyền quản lý hành chính của lãnh đạo đơn vị với quyền năng tư pháp của Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng và tính độc lập tương đối của Điều tra viên trong hoạt động tố tụng;
- Cải cách cơ chế cán bộ: Đổi mới tiêu chuẩn, quy trình tuyển chọn và bổ nhiệm Điều tra viên; hoàn thiện quy chế làm việc của Hội đồng tuyển chọn Điều tra viên; xây dựng chế độ đãi ngộ tương xứng với trách nhiệm tố tụng;
- Tăng cường các nguồn lực bảo đảm: Bổ sung biên chế cán bộ điều tra chuyên trách cho Công an cấp huyện; đầu tư ngân sách, trang bị phương tiện kỹ thuật hình sự hiện đại đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm trong tình hình mới.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án tự xác định bốn đóng góp mới về mặt khoa học lý luận và thực tiễn:
- Luận án đã trình bày, phân tích một cách tổng quát và hệ thống các vấn đề lý luận chung về Cơ quan CSĐT (vị trí pháp lý, chức năng, nhiệm vụ, các nguyên tắc tổ chức, hoạt động, mối quan hệ tố tụng và lịch sử hình thành, phát triển từ năm 1945 đến nay), khắc phục tính đơn lẻ, phân tán của các công trình trước đó để tạo lập một bức tranh tổng thể về cơ quan này.
- Luận án đã nghiên cứu, hệ thống hóa và phân tích toàn diện các quy định của pháp luật TTHS điều chỉnh Cơ quan CSĐT trên các mặt: mô hình tổ chức bộ máy, thẩm quyền điều tra, chế định người tiến hành tố tụng; chỉ ra những điểm bất cập, mâu thuẫn trong hệ thống văn bản pháp luật hiện hành (từ luật, pháp lệnh đến thông tư, chỉ thị) làm căn cứ khoa học cho việc kiến nghị sửa đổi.
- Luận án đã tiến hành khảo sát thực tiễn toàn diện, thu thập và xử lý hệ thống số liệu thống kê quốc gia về hoạt động điều tra của Cơ quan CSĐT trong suốt giai đoạn 9 năm (2005 - 2013), cung cấp nguồn dữ liệu thực chứng phục vụ nghiên cứu và hoạch định chính sách tư pháp.
- Luận án đã đề xuất một hệ thống giải pháp và kiến nghị đồng bộ mang giá trị lập pháp (góp ý hoàn thiện Bộ luật TTHS, xây dựng dự thảo Luật Tổ chức điều tra hình sự) kết hợp với các giải pháp thực tiễn (kiện toàn bộ máy, hoàn thiện tiêu chuẩn cán bộ, tăng cường điều kiện cơ sở vật chất), hướng tới việc nâng cao hiệu lực hoạt động điều tra hình sự tại Việt Nam.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế nghiên cứu:
- Phạm vi khảo sát số liệu thực chứng của luận án dừng lại ở mốc thời gian hết năm 2013, gắn với bối cảnh thi hành Bộ luật TTHS năm 2003 và Pháp lệnh tổ chức ĐTHS năm 2004; do đó chưa cập nhật các tác động thực tiễn sau thời điểm các đạo luật mới được ban hành.
- Luận án tập trung nghiên cứu chuyên sâu về Cơ quan CSĐT trong CAND nên phạm vi khảo sát không bao quát toàn bộ các cơ quan điều tra khác trong hệ thống tư pháp (Cơ quan An ninh điều tra, Cơ quan điều tra hình sự Quân đội và Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân tối cao).
- Do điều kiện hạn chế về nguồn lực điều tra diện rộng, một số nội dung thực tiễn không thể khảo sát toàn diện mọi đơn vị cấp huyện mà phải thực hiện qua phương pháp lựa chọn địa bàn điển hình.
Hướng nghiên cứu tiếp:
- Tiếp tục khảo sát, đánh giá tác động thực tiễn khi Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự và Bộ luật TTHS sửa đổi được ban hành và đi vào đời sống tư pháp.
- Mở rộng nghiên cứu cơ chế kiểm soát quyền lực tư pháp giữa Cơ quan CSĐT và Viện kiểm sát nhân dân trong bối cảnh các nguyên tắc tranh tụng được tăng cường mạnh mẽ hơn.
Giá trị tham khảo
Nội dung và kết quả nghiên cứu của luận án cung cấp giá trị tham khảo thiết thực cho nhiều nhóm đối tượng:
- Các cơ quan lập pháp và cơ quan hoạch định chính sách: Luận án cung cấp cơ sở lý luận và dữ liệu thực tiễn phục vụ việc sửa đổi Bộ luật TTHS, soạn thảo dự án Luật Tổ chức điều tra hình sự và hoàn thiện các thông tư liên tịch, văn bản quy phạm dưới luật.
- Các cơ sở nghiên cứu và đào tạo luật học: Luận án là tài liệu nghiên cứu chuyên khảo hữu ích cho nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên và giảng viên chuyên ngành Tố tụng hình sự, Tội phạm học và Điều tra tội phạm tại các học viện, trường đại học CAND và các cơ sở đào tạo luật trên toàn quốc. Các chương trình giảng dạy có thể khai thác sâu nội dung về lịch sử hình thành lực lượng Chấp pháp, các nguyên tắc tố tụng và cơ chế phân định thẩm quyền điều tra.
- Đội ngũ cán bộ thực tiễn trong các cơ quan tiến hành tố tụng: Các phân tích về mối quan hệ phối hợp giữa Cơ quan CSĐT với Viện kiểm sát, Tòa án và các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra là tài liệu hướng dẫn nghiệp vụ có giá trị đối với Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Kiểm sát viên và Thẩm phán trong quá trình thụ lý, giải quyết các vụ án hình sự cụ thể.
Câu hỏi thường gặp
1. Theo quy định pháp luật và phân tích trong luận án, thẩm quyền điều tra theo sự việc của Cơ quan CSĐT các cấp được phân định như thế nào?
Thẩm quyền điều tra theo sự việc được phân định căn cứ vào tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm tương ứng với thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân cùng cấp:
- Cơ quan CSĐT Công an cấp huyện có thẩm quyền điều tra các vụ án hình sự về các tội phạm quy định tại các chương từ Chương XII đến Chương XXII Bộ luật Hình sự năm 1999 khi thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân cấp huyện (trừ các tội thuộc thẩm quyền của Cơ quan An ninh điều tra và Cơ quan điều tra VKSND tối cao).
- Cơ quan CSĐT Công an cấp tỉnh điều tra các tội phạm quy định từ Chương XII đến Chương XXII Bộ luật Hình sự năm 1999 thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân cấp tỉnh, và những vụ án thuộc thẩm quyền của cấp huyện nhưng xét thấy cần trực tiếp điều tra.
- Cơ quan CSĐT Bộ Công an điều tra các vụ án hình sự về những tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp, liên quan đến nhiều địa phương hoặc có yếu tố nước ngoài thuộc thẩm quyền điều tra của cấp tỉnh nhưng xét thấy cần trực tiếp điều tra.
2. Giai đoạn 2005 - 2013, kết quả xử lý bị can của Cơ quan CSĐT toàn quốc ghi nhận các số liệu cụ thể nào?
Theo tổng kết của Văn phòng Cơ quan CSĐT Bộ Công an từ năm 2005 đến hết năm 2013, Cơ quan CSĐT trên toàn quốc đã thụ lý điều tra tổng số 741.085 bị can. Trong số đó, Cơ quan CSĐT các cấp đã kết thúc điều tra đối với 526.xxx bị can, và đã ra bản kết luận điều tra đề nghị truy tố đối với 512.xxx bị can (đạt tỷ lệ trên 97% số bị can đã kết thúc điều tra).
3. Mô hình tổ chức Cơ quan CSĐT theo Pháp lệnh tổ chức ĐTHS năm 2004 có điểm khác biệt căn bản nào so với Pháp lệnh năm 1989?
Điểm khác biệt căn bản nằm ở cơ chế tích hợp giữa hoạt động trinh sát và hoạt động tố tụng:
- Theo Pháp lệnh tổ chức ĐTHS năm 1989, hoạt động điều tra trinh sát được tách riêng với hoạt động điều tra tố tụng.
- Theo Pháp lệnh tổ chức ĐTHS năm 2004, hoạt động điều tra trinh sát gắn liền với hoạt động điều tra tố tụng; Cơ quan CSĐT đảm nhiệm đồng thời cả chức năng phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm trong cùng một chỉnh thể tổ chức.
4. Tổ chức cơ quan điều tra đầu tiên trong lực lượng Công an nhân dân được thành lập dựa trên văn bản pháp lý nào?
Tổ chức cơ quan điều tra đầu tiên trong lực lượng Công an nhân dân thực hiện nhiệm vụ điều tra theo pháp luật TTHS là Tổ chức Tư pháp Công an, được thành lập theo Sắc lệnh số 131/SL ngày 20/07/1946 của Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa (sau khi Sắc lệnh số 40/SL ngày 29/03/1946 được ký ban hành). Tổ chức này có nhiệm vụ truy tầm các vụ phạm pháp, sưu tập tang chứng và bàn giao người phạm pháp cho Tòa án xét xử.
5. Cơ chế giải quyết tranh chấp về thẩm quyền điều tra giữa các cơ quan được pháp luật quy định ra sao?
Thẩm quyền phân xử tranh chấp điều tra được thực hiện theo các cấp:
- Tranh chấp về thẩm quyền điều tra giữa các Cơ quan điều tra do Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp nơi tội phạm xảy ra hoặc nơi phát hiện tội phạm quyết định;
- Tranh chấp giữa Cơ quan điều tra VKSND tối cao với các Cơ quan điều tra khác do Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao quyết định;
- Tranh chấp giữa các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra (Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, Cảnh sát biển) do Viện trưởng Viện kiểm sát có thẩm quyền nơi xảy ra vụ án quyết định;
- Tranh chấp thẩm quyền giữa các đơn vị nội bộ trong Cơ quan CSĐT do Thủ trưởng Cơ quan CSĐT phân công quyết định.
Kết luận
Luận án tiến sĩ "Cơ quan Cảnh sát điều tra trong tố tụng hình sự Việt Nam" là công trình nghiên cứu toàn diện và có hệ thống về mặt lý luận, pháp lý và thực tiễn hoạt động của Cơ quan CSĐT từ năm 2005 đến năm 2013. Luận án đã làm rõ vị trí pháp lý, chức năng, thẩm quyền, mối quan hệ phối hợp tố tụng và tiến trình phát triển lịch sử của lực lượng CSĐT trong CAND. Dựa trên số liệu thống kê thực chứng và việc chỉ ra các điểm nghẽn của mô hình điều tra theo Pháp lệnh năm 2004, tác giả đã đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ phục vụ việc sửa đổi Bộ luật TTHS và xây dựng Luật Tổ chức điều tra hình sự. Các kết quả nghiên cứu trong luận án mang lại giá trị học thuật và thực tiễn thiết thực cho công tác lập pháp, giảng dạy luật học và hoạt động tư pháp hình sự tại Việt Nam.