Mở đầu (7 trang), Kết luận (4 trang), nội dung chính gồm có 4 chƣơng, cụ thể nhƣ sau: - Chƣơng 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu (27 trang). Các di tích cƣ trú và xƣởng chế tác đá thời tiền sử ở Đông Nam Bộ (28 trang). Loại hình, quy trình, kỹ thuật và sản phẩm của các xƣởng chế tác đá ở Đông Nam Bộ (50 trang).
Vai trò của các xƣởng chế tác đá thời tiền sử Đông Nam Bộ (34 trang) 7 Luận án còn có các phần: lời cam đoan, lời cảm ơn, mục lục, danh mục hình ảnh minh họa, bảng số liệu, biểu đồ, tài liệu tham khảo, danh mục các bài báo khoa học đã công bố và phụ lục (bao gồm hình ảnh, bảng thống kê - số liệu phân tích, biểu đồ). 8 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Nội dung của chƣơng này trƣớc hết nhằm tìm hiểu điều kiện địa lý tự nhiên, địa chất, địa hình, cảnh quan môi trƣờng để từ đó góp phần nhận diện không gian sinh sống của các cộng đồng cƣ dân cổ trên địa bàn Đông Nam Bộ thời tiền sử. Ngoài ra, tác giả luận án sẽ tổng hợp tình hình phát hiện và nghiên cứu loại hình xƣởng chế tác đá thời tiền sử ở Việt Nam cùng với các phƣơng pháp nghiên cứu loại hình di tích, kỹ thuật chế tác đá và tập trung vào tƣ liệu khảo cổ ở khu vực Đông Nam Bộ về loại hình xƣởng thủ công chế tác đá. Bên cạnh đó, một số nghiên cứu do các học giả nƣớc ngoài có liên quan (trực tiếp hoặc gián tiếp) đến luận án mà tác giả có thể tiếp cận cũng đƣợc đề cập trong nội dung này.
Với các tài liệu đã công bố có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến nội dung luận án từ nhiều nguồn, tác giả đã phân chia theo các chủ đề nghiên cứu, các phƣơng pháp và cách tiếp cận để từ đó đánh giá tƣ liệu cũng nhƣ việc giải quyết các vấn đề nghiên cứu trƣớc đây, trên cơ sở đó tiếp thu có chọn lọc và sử dụng cho luận án. Điều kiện địa lý - tự nhiên của miền Đông Nam Bộ Vùng đất Đông Nam Bộ ngày nay về mặt hành chính bao gồm các tỉnh: Bình Phƣớc, Bình Dƣơng, Tây Ninh, Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu và thành phố Hồ Chí Minh. Phía bắc và đông bắc của khu vực tiếp giáp với cao nguyên Nam Trung Bộ, phía đông và đông nam giáp biển Đông, phía tây và tây bắc giáp Campuchia, phía nam và tây nam giáp Tây Nam Bộ (Hình 1. Tuy nhiên, khái niệm Đông Nam Bộ trong ngữ cảnh khảo cổ học và trong không gian nghiên cứu của luận án này đƣợc mở rộng hơn: là vùng đất nằm tiếp giáp với Nam Tây Nguyên và trải dài cho đến hết vùng đất phù sa cổ, vốn đƣợc một số nhà nghiên cứu đề xuất là ranh giới giữa Đông và Tây Nam Bộ.
Theo đó, khung cảnh Đông Nam Bộ tiền sử đƣợc sử dụng trong luận án còn bao gồm cả một phần vùng đất cao ngày nay thuộc địa phận tỉnh 8 Long An (huyện Đức Hòa) với một số di tích khảo cổ nhƣ: An Sơn, Lộc Giang (Long An). Một số nghiên cứu trƣớc đây cho thấy kể từ thời Toàn tân (Holocen) cách ngày nay khoảng 10.000 năm cho đến hiện đại không có các biến động lớn về mặt địa chất, môi trƣờng, khí hậu ở khu vực Đông Nam Bộ. Chính vì thế, chúng ta có thể hình dung một cách tƣơng đối gần đúng về diện mạo của vùng đất Đông Nam Bộ vào thời điểm gần 4.500 năm trƣớc đây qua các kết quả khảo sát, quan trắc, nghiên cứu gần đây, nhất là đối với các yếu tố mang đặc tính bền vững tƣơng đối cao hay ít bị biến đổi trong vài ngàn năm trở lại đây nhƣ: địa chất, thủy văn, khí hậu và nguồn đá nguyên liệu. Địa chất, địa hình và cảnh quan môi trƣờng - Địa chất, địa hình Đông Nam Bộ Đông Nam Bộ là vùng đất nằm ở vị trí chuyển tiếp giữa khu vực Nam Tây Nguyên và vùng đất thấp Tây Nam Bộ, có độ cao dao động từ vài chục mét cho đến khoảng hơn 300m, với nhiều dạng địa hình khác nhau về nguồn gốc thành tạo.
Nhìn đại thể trên toàn vùng, địa hình có độ lƣợn sóng nhẹ và ít bị chia cắt sâu, thuộc dạng bán bình nguyên. Qua hiện trạng phân bậc của địa hình ở Đông Nam Bộ cho thấy trƣớc khi hình thành bề mặt nhƣ hiện nay đã có nhiều hoạt động kiến tạo địa chất diễn ra trong quá khứ. Về mặt nguồn gốc, theo Lê Bá Thảo (2006) khu vực này ngày nay bao gồm các dạng thành tạo địa chất bắt nguồn từ hoạt động của núi lửa và bồi tích từ phù sa sông phủ trên khối nền đá granite cổ bị sụt lún [117] (Hình 1. Hoạt động của núi lửa trong quá khứ đã tạo ra các cao nguyên đất đỏ phân bố trên các khu vực phía bắc và đông bắc của Đông Nam Bộ, do dung nham nguội đi và bị phong hóa.
Ở phía bắc là các cao nguyên đất đỏ trên địa bàn Lộc Ninh - An Lộc (Bình Phƣớc) chúng có xu hƣớng trải dài về phía nam cho đến khu vực Phƣớc Hòa, Phƣớc Bình và Phƣớc Vĩnh (Bình Phƣớc). Các cao nguyên này có độ cao dao động từ 100m đến 300m với địa hình bị chia cắt sâu do hoạt động xâm thực, có thể quan sát rõ nét nhất ở Phƣớc Long (Bình Phƣớc). Trong khi đó, ở phía bắc sông Bé 9 địa hình lại khác biệt hẳn, chỉ hơi lƣợn sóng hay gần nhƣ bằng phẳng do ít chịu tác động của quá trình xâm thực. Lớp vỏ phong hóa ở vùng này khá sâu, có chỗ lớp đất đỏ basalt phong hóa phủ dày 15m bên trên lớp đá gốc basalt.
Ở phía đông bắc của Đông Nam Bộ là vùng cao đất đỏ Gia Kiệm, Xuân Lộc (Đồng Nai) và Đất Đỏ (Bà Rịa - Vũng Tàu) có cao trình khoảng 100m đến 250m, bề mặt uốn lƣợn nhẹ tạo thành những lƣng sóng rộng rãi. Đây chính là nơi còn quan sát đƣợc một cách tƣơng đối rõ nét dấu vết của hoạt động núi lửa khi xƣa với khoảng 110 nón núi lửa ở vùng Long Khánh, lớp đất đỏ do dung nham núi lửa phong hóa ở khu vực này dày khoảng 5m - 10m, thậm chí có nơi nhƣ tại Hƣng Lộc (Đồng Nai) chỉ đến độ sâu khoảng 0,5m - 1m đã gặp tầng đá gốc basalt. Dạng nguồn gốc thành tạo thứ hai ở Đông Nam Bộ chính là trầm tích phù sa sông, đƣợc chia thành hai nhóm: phù sa cổ và phù sa mới. Lớp phù sa cổ hay còn đƣợc gọi là “dải đất xám” chính là các bậc thềm của sông Cửu Long trƣớc đây, có tuổi thuộc Pleistocen.
Lớp phù sa cổ này cũng phủ trùm lên nền đá phiến và đá cát kết (tuổi Trias và Jura), có diện tích phân bố rất rộng, trải dài từ Bến Cát đến Chơn Thành, Phƣớc Thành (Bình Dƣơng và Bình Phƣớc) và ở phía bắc tỉnh Tây Ninh lan đến tận khu vực biên giới Việt Nam - Campuchia. Phù sa cổ ở các thềm sông ở khu vực này có hƣớng phân bố theo hƣớng tây bắc - đông nam, với địa hình thƣờng gặp là dạng đồi dài hay thung lũng rộng và thoải. Phù sa cổ quan sát rõ nhất ở khu vực hạ lƣu sông Đồng Nai (Hố Nai, Long Bình - Đồng Nai và Thủ Đức - Tp. Hồ Chí Minh), cảnh quan thƣờng gặp là những ngọn đồi cao khoảng 100m thoải và rộng, với xu hƣớng hạ thấp dần độ cao về phía thành phố Hồ Chí Minh.
Riêng ở khu vực Biên Hòa và Tây Ninh, các nghiên cứu về địa chất còn tìm thấy không những thềm phù sa cũ của sông Cửu Long mà còn có cả những thềm phù sa mới nằm phủ lên trên do quá trình bồi tích từ các sông Đồng Nai, Sài Gòn và của các nhánh sông khác thuộc hệ thống các dòng sông này vào giai đoạn địa chất muộn hơn [117]. Ngoài ra, trong địa bàn Đông Nam Bộ còn có một số ngọn núi đá nằm rải rác mà nhiều nhà nghiên cứu gọi là dạng "địa hình đá hoa cƣơng trồi kiểu Thái Bình Dƣơng" nhƣ: núi Bà Đen (Tây Ninh) cao 986m, núi Bà Rá (Bình Phƣớc) cao 736m, 10 núi Chứa Chan (Đồng Nai) cao 838m, núi Bao Quan (Bà Rịa - Vũng Tàu) cao 516m [117]. Theo Địa chí Bình Dƣơng, trên địa bàn tỉnh cũng có dạng địa hình núi sót với diện tích không đáng kể, là các nhọn núi đá thấp với sƣờn dốc, đỉnh bằng nhƣ: núi Ông (cao 284m), núi Tha La (198m), núi Chùa (63m), núi Đất (115m), núi Châu Thới (82m) [123]. - Môi trƣờng Theo các nghiên cứu địa lý, rừng khu vực Đông Nam Bộ mang tính chất của vùng nhiệt đới ẩm, thảm thực vật tƣơng đối phát triển, phân hóa rõ rệt theo địa hình và nguồn nƣớc.
Ở vùng đất cao có các loại cây lớn thuộc họ Dầu, Vấp Huỳnh, Xoan Mộc, tầng dƣới chủ yếu là các loài cỏ tranh, cỏ gai, ở vùng đất thấp, ẩm ƣớt là các thảm cỏ xanh quanh năm. Ven các dòng sông là dạng rừng hành lang, nơi đó cây cối mọc dày và kín, có nhiều loại gỗ quý. Thực vật nơi đây chịu ảnh hƣởng bởi yếu tố mùa rất rõ, chúng thƣờng xanh tƣơi vào mùa mƣa và rụng lá vào mùa khô khiến cảnh quan trở nên trơ trụi. Trên sông Đồng Nai, ở đoạn trung lƣu trở ngƣợc về phía tây là những mảng rừng tre lồ ô rộng lớn với mật độ cây khá dày đặc.
Những rừng tre dạng này còn phát triển trên một khu vực rộng, kéo dài từ An Lộc (Bình Phƣớc) lên phía biên giới Campuchia, chúng góp phần làm tăng độ ẩm và bổ sung nguồn nƣớc cho hệ thống sông suối trong vùng [117]. Quần thể động vật trong vùng cũng phong phú về giống loài và nhiều về số lƣợng, ngoài các loài thú dữ, thú hoang dã, còn có các loài hƣơu nai, bò rừng và thỏ… sinh sống trên môi trƣờng rừng nhiệt đới ẩm dày đặc ở vùng đất Đông Nam Bộ từ hàng ngàn năm trƣớc. Các kết quả nghiên cứu về các quần thể động - thực vật trong hiện tại trên vùng đất Đông Nam Bộ cho thấy có độ đa dạng sinh học cao, qua đó cũng góp phần hình dung phần nào môi trƣờng cổ. Trong một số di tích khảo cổ đƣợc khai quật đã tìm thấy nhiều di cốt động vật, trên các đoạn xƣơng có các dấu vết cắt hay chặt cho thấy khả năng chúng từng là nguồn thức ăn của các cộng đồng cƣ dân cổ nhƣ tại di tích Cù Lao Rùa có các loài thú lớn: trâu (trâu rừng?