Chương 1. Tổng quan về tình hình nghiên cứu liên quan trên thế giới và tại Việt Nam, từ ñó xác ñịnh những vấn ñề tồn tại cần nghiên cứu; Chương 2. Phạm vi, ñịa ñiểm và phương pháp nghiên cứu trình bày về lý do lựa chọn các xã ñảo nghiên cứu, các nguồn tài liệu sử dụng trong quá trình nghiên cứu, phương pháp luận và các phương pháp ñược sử dụng nghiên cứu trong luận án; Chương 3. Kết quả nghiên cứu và thảo luận, trình bày 05 nội dung chính gồm: (i) Cơ sở lý luận chung về kinh tế xanh tại xã ñảo ven bờ Việt Nam; (ii) Cơ sở pháp lý phát triển kinh tế xanh các xã ñảo ven bờ; (iii) ðánh giá thực tiễn phát triển kinh tế xanh tại 3 xã ñảo của Việt Nam; (iv) ðề xuất mô hình kinh tế xanh cho các xã ñảo ven bờ Việt Nam; (v) Giải pháp triển khai mô hình và phát triển kinh tế xanh cho các xã ñảo ven bờ Việt Nam.
Cuối cùng là Kết luận và Khuyến nghị. TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Xu hướng của các mô hình kinh tế toàn cầu trong những thập kỷ trước cho thấy sự gia tăng bất bình ñẳng xã hội, suy thoái môi trường và làm trầm trọng thêm căng thẳng xã hội, ñiều này sẽ gây áp lực lên triển vọng phát triển và tăng trưởng sắp tới của mỗi quốc gia [1]. Các chính sách và thực tiễn kinh tế cần ñược ñiều chỉnh và phù hợp với tính bền vững ñể ñạt ñược các mục tiêu phát triển bền vững [2]. Các nhà hoạch ñịnh chính sách trên toàn thế giới nên chuyển ñổi nền kinh tế ñể xóa ñói giảm nghèo, phát triển nghề nghiệp và công bằng xã hội, tăng cường thu nhập và quản lý môi trường, ñồng thời phát triển theo các mục tiêu phát triển bền vững [3].
Kinh tế xanh ñược khẳng ñịnh có ý nghĩa rất lớn ñối với sự phát triển bền vững của các quốc gia, do ñó có nhiều nhà nghiên cứu từ kinh tế ñến khoa học tự nhiên, môi trường ñã có những nghiên cứu trên các lĩnh vực liên quan ñến kinh tế xanh nhằm có những hiểu biết về bản chất và tác ñộng của nó ñến thực tiễn phát triển trên thế giới. Nghiên cứu trên thế giới 1. ðịnh nghĩa và một số vấn ñề liên quan ñến kinh tế xanh 1. ðịnh nghĩa về kinh tế xanh Kinh tế xanh trong tiếng Anh là Green Economics.
Khái niệm Kinh tế xanh ñược chính thức ñề cập lần ñầu tiên vào năm 1989 bởi một nhóm các nhà kinh tế môi trường gồm David Pearce, Anil Markandya và Edward Barbier trong báo cáo “Blueprint for a green economy” gửi Chính phủ Liên hiệp Vương quốc Anh [4]. Tới năm 2008, trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế toàn cầu, Chương trình Môi trường của Liên Hợp Quốc (UNEP) ñã nhắc lại khái niệm này và coi việc hướng tới xây dựng nền Kinh tế xanh, mà bắt ñầu là các “gói kích thích kinh tế xanh” (Green New Deals) trong một số lĩnh vực cụ thể, và sau ñó là “Tăng trưởng xanh” (Green Growth) ñể hướng tới Kinh tế xanh là lối thoát quan trọng ñể ñưa các quốc gia ra khỏi tình trạng khủng hoảng kinh tế, hướng tới phát triển bền vững [5]. Có nhiều ñịnh nghĩa khác nhau về Kinh tế xanh. Liên minh châu Âu cho rằng “Kinh tế xanh là nền kinh tế tăng trưởng thông minh, bền vững và công bằng”[6].
Nhóm Liên minh kinh tế xanh (The Green Economy Coalition) ñịnh nghĩa kinh tế xanh là “nền kinh tế tạo ra chất lượng cuộc sống tốt hơn cho tất cả mọi người trong giới hạn sinh thái của trái ñất” [7]. Phòng Thương mại Quốc tế xem xét kinh tế xanh từ góc ñộ kinh doanh và cho rằng “Kinh tế xanh là nền kinh tế mà tăng trưởng kinh tế và trách nghiệm môi trường ñi ñôi với nhau và tương hỗ cho nhau, ñồng thời hỗ 6 trợ quá trình phát triển xã hội” [8]. Báo cáo của Ủy ban các vấn ñề Kinh tế - Xã hội của Liên Hợp Quốc tổng hợp các ñịnh nghĩa của nhiều quốc gia và chỉ ra ñiểm chung mà một nền kinh tế xanh cần hướng tới là việc giảm các tác ñộng tiêu cực của hoạt ñộng kinh tế tới môi trường và xã hội [9]. Nhiều ñịnh nghĩa về Kinh tế xanh thể hiện các cố gắng nhận dạng khái niệm mới mẻ này, từ rộng ñến hẹp theo nội hàm của cụm từ này [10].
Năm 2012, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Tổng cục Môi trường trong báo cáo tại Hội thảo “Kinh tế xanh và Phát triển bền vững” thấy rằng “hầu hết các ý kiến ñều cho rằng trong ñịnh nghĩa về kinh tế xanh vấn ñề năng lượng sạch là vấn ñề cốt lõi”[11]. ðến nay nội hàm khái niệm kinh tế xanh ñã ñược mở rộng hơn với thống kê chưa thật ñầy ñủ, ñã có tới vài chục ñịnh nghĩa về nó và ñịnh nghĩa sau ñây của Chương trình Môi trường của Liên Hiệp Quốc (UNEP) trong cuốn sách “Hướng tới Nền kinh tế Xanh - Lộ trình cho PTBV và xóa ñói giảm nghèo” ñã nói ở trên viết dành cho các nhà hoạch ñịnh, xây dựng chính sách ñược trích dẫn nhiều hơn cả: Kinh tế xanh “là nền kinh tế vừa mang lại hạnh phúc cho con người và công bằng xã hội, vừa giảm thiểu ñáng kể các nguy cơ về môi trường và suy giảm sinh thái. ðó là nền kinh tế ít phát thải cacbon, sử dụng hiệu quả tài nguyên và ñảm bảo công bằng xã hội” [12]. Kinh tế xanh và Phát triển bền vững Về nguyên tắc, phát triển bền vững là quá trình vận hành ñồng thời ba bình diện phát triển: kinh tế tăng trưởng bền vững, xã hội thịnh vượng, công bằng, ổn ñịnh, văn hoá ña dạng và môi trường ñược trong lành, tài nguyên ñược duy trì bền vững.
Do vậy, hệ thống hoàn chỉnh các nguyên tắc ñạo ñức cho phát triển bền vững bao gồm các nguyên tắc phát triển bền vững trong cả ba lĩnh vực kinh tế, xã hội, môi trường. Cho tới nay, khái niệm về phát triển bền vững trên bình diện quốc tế có ñược sự thống nhất chung. Mục tiêu ñể thực hiện phát triển bền vững trở thành mục tiêu thiên niên kỷ [13]. ðối chiếu với khái niệm và 17 mục tiêu của Phát triển bền vững, có thể thấy kinh tế xanh tương ñồng nhưng không thay thế cho phát triển bền vững.
Kinh tế xanh cũng quan tâm tới 3 lĩnh vực cốt lõi của phát triển bền vững (kinh tế, xã hội và môi trường). Nhưng cách tiếp cận của kinh tế xanh là chú trọng tới kinh tế (Vốn sản xuất – Produced Capital) và môi trường ở góc ñộ hệ sinh thái (Vốn tự nhiên – Natural Capital) trước, rồi lấy ñó làm nền tảng thúc ñẩy sự thịnh vượng của con người (Vốn 7 xã hội và nhân văn – Social and Human Capital). Cách tiếp cận này xuất phát từ việc con người ngày càng thấy rõ hơn rằng việc hướng tới Phát triển bền vững cần dựa trên cơ sở nền tảng là một cách thức phát triển kinh tế ñúng ñắn [14]. Sơ ñồ tính phổ quát trong lý luận phát triển bền vững và kinh tế xanh Nguồn: European Environment Agency [15] (A) phát triển bền vững; (B) kinh tế xanh và con ñường phát triển bền vững Tuy nhiên, cần lưu ý rằng kinh tế xanh không coi nhẹ sự thịnh vượng của con người.
Ngược lại, ngay trong các ñịnh nghĩa của kinh tế xanh, các yếu tố như “công bằng xã hội”, “chất lượng cuộc sống tốt hơn”, “hạnh phúc cho con người và công bằng xã hội” ñã luôn ñược nhấn mạnh. Trong thực tế, ñiều này cũng ñược thể hiện qua các chỉ số theo dõi quá trình thực hiện kinh tế xanh tại Châu Âu, ñã bao gồm nhiều chỉ số liên quan tới vốn xã hội (Social capital) và vốn nhân văn (Human capital) [16]. Trong bối cảnh có nhiều thách thức mới như sự suy giảm tài nguyên thiên nhiên, suy thoái môi trường và ñặc biệt là biến ñổi khí hậu, việc hướng ñến phát triển bền vững ngày càng trở nên khó khăn hơn. Các mục tiêu của phát triển bền vững vì thế ñã ñược cụ thể hoá cho từng lĩnh vực.
Từ 3 lĩnh vực lớn trước ñây (kinh tế, xã hội, môi trường), các nhà nghiên cứu và chính sách hiện ñã xác ñịnh ñược 17 mục tiêu của phát triển bền vững - 17 SDGs [17], gồm: 1-Xoá nghèo; 2-Xoá ñói; 3- Sức khoẻ tốt và cuộc sống hạnh phúc; 4-Giáo dục chất lượng; 5-Bình ñẳng giới; 6- Nước sạch & vệ sinh;7-Năng lượng sạch với giá hợp lý; 8-Tăng trưởng kinh tế và việc làm bền vững; 9-Công nghiệp, sáng tạo và hạ tầng; 10-Giảm bất bình ñẳng; 11- Thành phố và cộng ñồng bền vững; 12-Sản xuất và tiêu dùng có trách nghiệm; 13- 8 Hành ñộng vì khí hậu; 14-Các ñại dương bền vững; 15-Sử dụng ñất bền vững; 16- Hoà bình và công lý; 17-Hợp tác ñể hướng tới mục tiêu chung. Kể từ năm 2015, các mục tiêu này ñã thay thế cho các Mục tiêu thiên niên kỷ (Milennium Goals), trở thành kim chỉ nam cho sự phát triển của các quốc gia. Kèm theo ñó là Bộ chỉ tiêu Mục tiêu phát triển bền vững (SDGs), do Phòng thống kê của Liên Hợp Quốc xây dựng [18]. Ngoài ra, cũng cần phải nhắc tới Bộ chỉ tiêu Phát triển bền vững (Sustainable Development Indicators-SDIs), phát triển bởi Vụ các vấn ñề kinh tế và xã hội của Ban thư ký Liên Hợp Quốc [19].
Trong khi Bộ chỉ tiêu SDGs giúp theo dõi quá trình thực hiện của các quốc gia theo 17 mục tiêu ñã xác ñịnh của Phát triển bền vững toàn cầu, thì bộ chỉ tiêu SDIs nhằm ñánh giá quá trình hướng tới Phát triển bền vững theo ñặc thù của từng quốc gia, từng vùng [20]. Kinh tế xanh và Tăng trưởng xanh Khái niệm Tăng trưởng xanh ñược ñề cập chính thức tại Hội nghị Bộ trưởng về Môi trường và Phát triển (MCED) năm 2005 tại Seoul, Hàn Quốc. Tuy xuất hiện sau khái niệm Kinh tế xanh, nhưng tới nay Tăng trưởng xanh lại ñược biết ñến nhiều hơn. Bởi lẽ, khái niệm này ñã sớm ñược cụ thể hóa trong các thỏa thuận của MCED, từ ñó nhanh chóng hình thành ñược các chiến lược và hành ñộng cụ thể của các quốc gia [21].
Tiêu biểu, ngay từ năm 2008, Hàn Quốc ñã dành 80% trong khoảng 38,1 tỉ USD thuộc gói kích cầu kinh tế ñể thực hiện Chiến lược Tăng trưởng xanh quốc gia [22]. Trong kế hoạch 5 năm lần thứ 12 của mình (2011-2015), Trung Quốc ñã dành tổng cộng 140 tỉ USD cho ñầu tư xanh [23]. Nhiều quốc gia như Úc, UAE, Nhật Bản, ðan Mạch và Na Uy ñã tham gia với Hàn Quốc tạo nên một tổ chức liên chính phủ trong lĩnh vực tăng trưởng xanh (Global Green Growth Institute - GGGI) [23].