CHƯƠNG 1 MOT SO VAN DE CHUNG VE TiCH HỢP TRONG GIÁO DỤC 1. Quan niệm về tích hợp 1. Một số quan niệm về tích hợp qua nghiên cứu của nước ngoài Tích hợp (tiếng Anh: Integration) có nguồn gốc từ tiếng La tỉnh “integration” với nghĩa: xác lập lại cái chung, cái toàn thé, cái thống nhất trên cơ sở những bộ phận riêng lẻ. Theo /ử điển Anh - Anh [58], từ integrate có nghĩa là kết hợp những phần, những bộ phận với nhau trong một tông thể.
Những phần, những bộ phận này có thể khác nhau nhưng thích hợp với nhau. Theo ứừ điển Bách khoa Khoa học Giáo đục của Cộng hòa Liên bang Đức (Enzyklopadie Erziehungswissienscheft, Bd.2, Stuttgart 1984), ti integration có hai khía cạnh: (7) Là quá trình xác lập lại cái chung, cải toàn thể, cái thống nhất từ những cái riêng lẻ; (2) Là trạng thái mà trong đó có cái chung, cái toàn thể được tạo ra từ những cái riêng lẻ. Tích hợp có thể hiểu là sự hợp nhất giữa các loại hình kiến thức và các môn học tương ứng [64]. Trên thực tế có thể có nhiều hình thức tích hợp.
Chẳng hạn, từ bình diện của các môn gần nhau như: Thiên văn học, Sinh học, Hóa học, Địa chất và Vật lý tạo ra một khóa học Khoa học có thể xem là một bước hướng đến tích hợp. Cũng có thể hình dung về một chiếc bánh thập cẩm so với một chiếc bánh có nhiều lớp để biểu thị các mức độ khác nhau của tích hợp. Quan niệm về tích hợp qua một số nghiên cứu trong nước Theo ứờ điển Anh — Việt [48], integration có nghĩa là: Sự hợp lại thành một hệ thống thống nhất. Trong fờ điển tiếng Việt [43], tích hợp được hiểu là sự lắp rap, nối kết các thành phần của một hệ thống theo quan điểm tạo nên một hệ thống toàn bộ.
10 Trong rừ điển Giáo đục học [9], tích hợp được hiểu là hành động liên kết các đối tượng nghiên cứu, giảng dạy, học tập của cùng một lĩnh vực hoặc vài lĩnh vực khác nhau trong cùng một kế hoạch DH. Theo Dương Tiến Sỹ [20], tích hợp là sự kết hợp một cách hữu cơ, có hệ thống các kiến thức (khái niệm) thuộc các môn học khác nhau thành một ND thống nhất, đựa trên cơ sở các mối quan hệ về lý luận và thực tiễn được để cập trong các môn học đó. Theo Đỗ Mạnh Cường [25], trong DH, tích hợp có thê được coi là sự liên kết các các đối tượng giảng dạy, học tập trong cùng một kế hoạch hoạt động để đảm bảo sự thống nhất, hài hòa, trọn vẹn của hệ thống DH nhằm đạt mục tiêu DH tốt nhất. Ví đụ, trong dạy nghề, mục tiêu của hệ thống dạy nghề la NL ma nguoi hoc đạt được sau quá trình học tập.
Bởi thế mọi loại hình, mọi ND tích hợp trong dạy nghề đều nhằm đạt được sự trọn vẹn của NL người học nghề. Sự trọn vẹn Ấy được quyết định bởi sự kết hợp hài hòa giữa kiến thức, kỹ năng và thái độ của người học. Theo góc độ tiếp cận khác nhau, cách hiểu, quan niệm về tích hợp có những phát biêu khác nhau: + ïếp cận theo góc độ của CT, môn học: tích hợp được hiểu là sự kết hợp một cách hữu cơ, có hệ thống các kiến thức trong một môn học hoặc giữa các môn học thành một ND thống nhất. Theo từ điển Giáo dục học [9] có các loại tích hợp: Tích hợp chương trình; Tích hợp các bộ môn học; Tích hợp giảng dạy; Tích hợp học tập; Tích hợp kiến thức; kĩ năng;.
+ Tiếp cận theo góc nhìn tổng thể, thì tích hợp là một phương điện của quá trình phát triển liên quan đến tổng hợp trong một thê thống nhất các thành phần và các yếu tố riêng lẻ đã có từ trước đó [34]. + Tiép cận theo cấu trúc môn học [36], tích hợp là sự kết hợp, tô hợp các ND từ các môn học/lĩnh vực học tập khác nhau thành một “môn học” mới. Hoặc tích hợp là sự lồng ghép các ND cần thiết vào những ND vốn có của một môn học (theo chủ dé). + Tiếp cận theo góc độ DH [30], tích hợp là sự liên kết các các đối tượng giảng dạy, học tập trong cùng một kế hoạch hoạt động để đảm bảo sự thống nhất, hài hòa, trọn vẹn của hệ thống DH, nhằm đạt mục tiêu DH tốt nhất.
DH nhằm hình 11 thành ở HS những NL giải quyết hiệu quả các tình huống thực tiễn dựa trên sự huy động ND, kiến thức, kĩ năng thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau; Là định hướng DH trong đó GV tô chức, hướng dẫn để HS biết huy động tông hợp kiến thức, kĩ năng thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau nhằm giải quyết các nhiệm vụ học tập, đời sống: thông qua đó hình thành những kiến thức, kĩ năng mới; phát triển được những NL cần thiết, nhất là NL giải quyết vấn đề trong học tập và trong thực tiễn cuộc sống. + Tiếp cận ở bình điện tổ chức DH [31], DHTH là tổ chức, hướng dẫn để HS biết huy động tổng hợp kiến thức, kĩ năng thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau nhằm giải quyết các nhiệm vụ học tập; thông qua đó hình thành những kiến thức, kĩ năng mới; phát triển được những NL cần thiết, nhất là NL giải quyết vẫn đề trong học tập và trong thực tiễn cuộc sống. Nhận xét chung: Tuy có nhiều cách phát biểu không như nhau, nhưng cũng có những điểm chung trong quan niệm về tích hợp, có thê hiểu: Tích hợp là một quá trình kết hợp các đối tượng khác nhau vào một chỉnh thể thống nhất. Kết quả quá trình kết hợp đó là sự hình thành một hệ thống mới hoặc có thể bao gồm chính các phần có ít nhiều liên hệ với các hệ thống trước đó, chúng có mối liên hệ với nhau chặt chẽ hơn và có sự thay đổi về chất trong bản thân thuộc tích của mỗi bộ phận.
Tích hợp là xu thế tất yếu trong phát triển chương trình giáo dục Qua tìm hiểu một số công trình nghiên cứu về tích hợp của các tác giả nước ngoài như Susan M. Drake, Robin Fogarty hay Xavier Roegiers,. đều cho rằng tích hợp là xu thế tat yếu trong xây dựng CT GD phô thông ở thế kỉ XXI. Ở nước ta, hiện có một số nghiên cứu về tích hợp và đa số các nghiên cứu chỉ ra rằng tích hợp là xu thế tất yếu trong xây dựng CT GD phổ thông.
Chang han: Theo Trần Đức Tuấn [78]: Xây dựng và phát triển CT, SGK theo quan điểm tích hợp, LM là xu hướng ở nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là các nước tiên tiến. Ở nhà trường phô thông nhiều nước phát triển như Mỹ, Anh, Đức, Thụy Điển, Australia và một số nước như Hàn Quốc, Singapore. đã xuất hiện CT và SGK cho những môn học tích hợp như: Nghiên cứu xã hội; nghiên cứu môi trường; nghiên cứu tự nhiên; Lịch sử - Địa lý hoặc ĐỊa lý - Chính trị - Giáo dục công dân;. Trong 12 các CT, SGK mang tính tích hợp nhiều ND/môn học khác nhau được xây dựng thành các lĩnh vực học tập mà ở đó ND, cấu trúc và cach thé hiện không chỉ hạn chế ở kiến thức, kĩ năng, vấn đề của từng bộ môn riêng biệt mà còn hướng đến thể hiện các vẫn đề LM, xuyên môn và các kĩ năng sống, giá trị, NL chung.
Để tạo điều kiện phát triển DHTH và LM, các nước như Australia, Canada, Đan Mạch, Phần Lan, Ireland, Italy, New Zealand, Thụy Sĩ, Thổ Nhĩ Kì, Vương quốc Anh. đều đôi mới cấu trúc, ND và cách trình bày của SGK để khuyến khích, hỗ trợ GV tổ chức các hoạt động DH tích cực, hợp tác và tương tác, đồng thời tạo điều kiện để HS học phương pháp học, cách tự học và tự đánh giá kết quả học tập của mình. Theo Đinh Thị Kim Thoa [79]: Tích hợp là xu thé tất yếu vì GD phải mang lại NL cho từng cá nhân. Đối với mỗi giai đoạn thì chúng ta sẽ trang bị cho HS, lựa chọn CT thế nào đề có thể hình thành NL thực tiễn cho người học.
Theo Mai Văn Hưng [81]: Ngày nay, nhiều nước trên thế giới coi tích hợp LM là một quan điểm cơ bản trong việc triển khai CT môn học từ tiêu học đến THCS và THPT. Một xu hướng khá phổ biến là tích hợp các môn học truyền thống, như Vật lý, Hoa hoc, Sinh hoc, tao thành môn học mới thông qua tích hợp LM và tích hợp xuyên môn. Ngoài ra, còn có một xu hướng khác, đó là thực hiện quan điểm tích hợp nhưng không tạo ra môn học mới, đại diện cho xu hướng này là: Đức, Hà Lan, Thụy Điền. Nhiều nước đã xây dựng CT theo hướng tích hợp như: Hàn Quốc, Singapore, Malaysia, Úc, Pháp, Anh, Mỹ, Canada.
Một số nước đã đưa dự án vào CT GD phô thông, qua đó thực hiện tích hợp xuyên môn, đưa HS vào môi trường thực tiễn thông qua việc xác định chủ đề dự án, lập kế hoạch, thực hiện và tổng hợp kết quả dự án. Các chủ đề học theo dự án chủ yếu liên quan đến việc học và đời sống hàng ngày của HS, có thể nằm trong các môn học tích hợp hoặc nằm ngoài CT. Theo Nguyễn Anh Dũng [30]: Qua nghiên cứu CT của hơn 20 nước trên thế giới cho thấy: Tích hợp là một trong những quan điêm GD đã trở thành xu thé trong việc xác định ND DH trong nhà trường phô thông và trong việc xây dựng CT môn học ở nhiều nước trên thế giới. Quan điểm tích hợp được xây đựng trên cơ sở những quan niệm tích cực về quá trình học tập và quá trình DH.
Thực tiễn ở nhiều nước đã 13 chứng tỏ rằng, việc thực hiện quan điểm tích hợp trong GD và DH sẽ giúp phát triển những NL giải quyết những vấn đề phức hợp và làm cho việc học tập trở nên có ý nghĩa đối với HS hơn so với việc các môn học, các mặt GD được thực hiện riêng rẽ. Tình hình nghiên cứu về tích hợp 1. Một số hình thức tích hợp chương trình giáo dục 1. Cách tiếp cận của Susan M.
Tích hợp đa môn Cách này chủ yếu áp dụng với các môn học. Theo đó, GV chọn lựa và sắp xếp các yêu cầu cần đạt từ các môn học, hướng vào đạt mục tiêu chung, qua một chủ đề chung. Thực tiễn cho thấy có rất nhiều cách khác nhau dé tạo ra các CT đào tạo, chủ đề đa môn và xu hướng khác nhau về mức độ tích hợp. Tuy nhiên, có thể thấy có các cách tiếp cận chính sau: () Tiếp cận nội môn: Là tích hợp các phân môn nhỏ trong phạm vi một chủ đề để đạt mục tiêu đã định.