Cơ động xã hội trong cán bộ nhà nước Lào: Nghiên cứu tại Học viện Chính trị

Luận án phân tích cơ động xã hội trong đội ngũ cán bộ nhà nước Lào, tập trung vào trường hợp Học viện Chính trị và Hành chính Quốc gia. Nghiên cứu sâu về yếu

Chuyên ngành

Xã hội học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2021

191
0
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về cơ động xã hội trong đội ngũ cán bộ nhà nước Lào

Cơ động xã hội là khái niệm xã hội học chỉ sự di chuyển của cá nhân hoặc nhóm trong hệ thống phân tầng xã hội. Trong bối cảnh đội ngũ cán bộ nhà nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào, cơ động xã hội thể hiện qua quá trình thay đổi vị trí, vai trò và chức vụ trong bộ máy hành chính công quyền. Nghiên cứu được thực hiện tại Học viện Chính trị và Hành chính Quốc gia Lào với mẫu khảo sát 510 cán bộ. Kết quả cho thấy cơ động xã hội trong đội ngũ cán bộ Lào chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố: điều kiện kinh tế - xã hội, chủ trương chính sách của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào, trình độ học vấn, giới tính và độ tuổi. Đây là luận án tiến sĩ ngành Xã hội học được thực hiện dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Nguyễn Đình Tấn và PGS.TS Phạm Minh Anh tại Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh năm 2021.

1.1. Khái niệm cơ động xã hội và phân loại

Cơ động xã hội được hiểu là sự di chuyển từ vị trí xã hội này sang vị trí xã hội khác trong hệ thống phân tầng. Theo Sorokin (1927), cơ động xã hội gồm hai loại chính: cơ động dọc và cơ động ngang. Cơ động dọc là sự di chuyển lên hoặc xuống giữa các tầng lớp khác nhau, ví dụ từ nhân viên lên trưởng phòng. Cơ động ngang là sự chuyển đổi giữa các vị trí có cùng cấp bậc, ví dụ chuyển từ phòng ban này sang phòng ban khác. Fichter (1972) bổ sung thêm chiều hướng thay đổi địa vị và cơ động vai trò. Trong đội ngũ cán bộ nhà nước Lào, cơ động xã hội phản ánh quá trình thăng tiến nghề nghiệp và thay đổi vị thế trong hệ thống hành chính công.

1.2. Bối cảnh nghiên cứu tại Học viện Chính trị và Hành chính Quốc gia Lào

Học viện Chính trị và Hành chính Quốc gia Lào là cơ quan đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chủ chốt của hệ thống chính trị Lào. Đây là địa điểm nghiên cứu lý tưởng để khảo sát cơ động xã hội trong đội ngũ cán bộ nhà nước. Học viện đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao năng lực lãnh đạo, quản lý cho cán bộ các cấp. Mẫu nghiên cứu gồm 510 cán bộ được lựa chọn đại diện cho các nhóm tuổi, giới tính, trình độ học vấn và vị trí công tác khác nhau. Phương pháp nghiên cứu kết hợp định lượng và định性, sử dụng bảng hỏi và phỏng vấn sâu để thu thập dữ liệu về quá trình cơ động xã hội của cán bộ.

II. Phân tích thực trạng cơ động xã hội trong đội ngũ cán bộ Lào

Thực trạng cơ động xã hội trong đội ngũ cán bộ nhà nước Lào cho thấy nhiều đặc điểm đáng chú ý. Theo kết quả khảo sát, tỷ lệ cơ động dọc chiếm tỷ lệ đáng kể, phản ánh quá trình thăng tiến trong sự nghiệp của cán bộ. Cơ động xã hội có mối liên hệ chặt chẽ với trình độ học vấn, độ tuổi và giới tính. Cán bộ có trình độ học vấn cao thường có cơ hội cơ động dọc nhiều hơn. Độ tuổi cũng ảnh hưởng lớn, nhóm cán bộ trẻ có xu hướng cơ động ngang để tích lũy kinh nghiệm, trong khi nhóm trung niên thường cơ động dọc lên vị trí lãnh đạo. Về giới tính, nam giới vẫn chiếm tỷ lệ cao trong các vị trí lãnh đạo chủ chốt. Đặc điểm kinh tế - xã hội của Lào, với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đang diễn ra, tạo điều kiện cho sự cơ động xã hội nhưng cũng đặt ra nhiều thách thức.

2.1. Mối liên hệ giữa đặc điểm nhân khẩu và cơ động xã hội

Nghiên cứu cho thấy mối liên hệ rõ ràng giữa đặc điểm nhân khẩu và cơ động xã hội của cán bộ Lào. Về giới tính, nam giới có tỷ lệ cơ động dọc cao hơn nữ giới, đặc biệt ở các vị trí lãnh đạo cấp cao. Về độ tuổi, nhóm cán bộ từ 35-45 tuổi có tỷ lệ cơ động dọc cao nhất, đây là giai đoạn chín muồi về kinh nghiệm và năng lực. Nhóm cán bộ dưới 30 tuổi chủ yếu cơ động ngang để tích lũy kinh nghiệm. Về trình độ học vấn, cán bộ có bằng đại học trở lên có cơ hội thăng tiến vượt trội so với cán bộ trình độ thấp hơn. Học viện Chính trị và Hành chính Quốc gia đóng vai trò quan trọng trong việc đào tạo, tạo nền tảng cho sự cơ động tích cực.

2.2. Ảnh hưởng của điều kiện kinh tế xã hội đến cơ động cán bộ

Điều kiện kinh tế - xã hội của Lào có tác động sâu sắc đến cơ động xã hội của đội ngũ cán bộ. Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đòi hỏi nguồn nhân lực chất lượng cao, tạo áp lực buộc cán bộ phải không ngừng nâng cao trình độ. Sự phát triển kinh tế kéo theo sự mở rộng bộ máy hành chính, tạo thêm nhiều vị trí công tác mới. Tuy nhiên, sự phát triển không đồng đều giữa các vùng miền cũng gây ra sự chênh lệch về cơ hội cơ động. Cán bộ tại các thành phố lớn như Viêng Chăn có nhiều cơ hội hơn so với cán bộ ở vùng nông thôn, miền núi. Chủ trương chính sách của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cũng ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình cơ động.

III. Giải pháp nâng cao cơ động xã hội tích cực trong đội ngũ cán bộ

Để nâng cao cơ động xã hội tích cực trong đội ngũ cán bộ nhà nước Lào, cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp. Thứ nhất, hoàn thiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, đặc biệt chú trọng đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao tại các cơ sở như Học viện Chính trị và Hành chính Quốc gia. Thứ hai, xây dựng hệ thống đánh giá cán bộ minh bạch, công bằng dựa trên năng lực thực tế, không phân biệt giới tính hay độ tuổi. Thứ ba, tạo cơ hội bình đẳng cho cán bộ nữ tham gia các vị trí lãnh đạo, quản lý. Thứ tư, tăng cường đầu tư phát triển nguồn nhân lực tại các vùng khó khăn, thu hẹp khoảng cách giữa các vùng miền. Thứ năm, ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý cán bộ, xây dựng cơ sở dữ liệu toàn diện về đội ngũ cán bộ phục vụ công tác quy hoạch, bổ nhiệm.

3.1. Hoàn thiện chính sách đào tạo và phát triển nguồn nhân lực

Chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cần được hoàn thiện theo hướng gắn kết giữa lý thuyết và thực tiễn. Học viện Chính trị và Hành chính Quốc gia Lào cần đổi mới chương trình đào tạo, cập nhật kiến thức mới về quản lý hành chính công, hội nhập quốc tế. Tăng cường hợp tác đào tạo với các viện nghiên cứu, trường đại học trong khu vực và quốc tế. Xây dựng hệ thống học bổng khuyến khích cán bộ trẻ nâng cao trình độ. Đẩy mạnh đào tạo theo địa chỉ, đáp ứng nhu cầu cụ thể của từng cơ quan, đơn vị. Đặc biệt chú trọng đào tạo kỹ năng lãnh đạo, quản lý cho cán bộ nữ và cán bộ vùng sâu, vùng xa để tạo cơ hội cơ động bình đẳng.

3.2. Xây dựng hệ thống đánh giá và bổ nhiệm cán bộ công bằng

Hệ thống đánh giá cán bộ cần được xây dựng trên nguyên tắc minh bạch, công bằng và khách quan. Tiêu chí đánh giá phải dựa trên năng lực thực tế, kết quả công tác và sự đóng góp cho tổ chức. Không phân biệt giới tính, độ tuổi hay xuất thân trong quá trình bổ nhiệm, đề bạt. Xây dựng quy trình bổ nhiệm cán bộ rõ ràng, có sự tham gia giám sát của tập thể. Áp dụng cơ chế cạnh tranh lành mạnh trong tuyển dụng, thăng tiến. Xây dựng cơ sở dữ liệu cán bộ toàn diện, lưu trữ thông tin về quá trình đào tạo, kinh nghiệm công tác, thành tích đạt được. Ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, đánh giá cán bộ để đảm bảo tính chính xác, kịp thời.

IV. Kết luận và ứng dụng nghiên cứu cơ động xã hội cán bộ Lào

Nghiên cứu cơ động xã hội trong đội ngũ cán bộ nhà nước Lào tại Học viện Chính trị và Hành chính Quốc gia đã đạt được nhiều kết quả quan trọng. Thứ nhất, nghiên cứu đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về cơ động xã hội áp dụng trong bối cảnh cụ thể của Lào. Thứ hai, đánh giá thực trạng cơ động xã hội của đội ngũ cán bộ, xác định các yếu tố ảnh hưởng. Thứ ba, đề xuất giải pháp nâng cao cơ động xã hội tích cực. Kết luận, cơ động xã hội trong đội ngũ cán bộ Lào chịu tác động đa chiều từ điều kiện kinh tế - xã hội, chính sách Đảng, Nhà nước và yếu tố cá nhân.Ứng dụng của nghiên cứu giúp các cơ quan quản lý nhà nước Lào hoạch định chính sách cán bộ hiệu quả hơn. Nghiên cứu cũng đóng góp vào kho tàng lý luận xã hội học về cơ động xã hội trong khu vực công tại các nước xã hội chủ nghĩa.

4.1. Đóng góp lý luận và thực tiễn của luận án

Luận án đã đóng góp quan trọng vào kho tàng lý luận xã hội học về cơ động xã hội. Về lý luận, nghiên cứu đã vận dụng sáng tạo các lý thuyết cơ động xã hội của Sorokin, Fichter, Bilton vào bối cảnh cụ thể của Lào. Xây dựng khung phân tích phù hợp với đặc điểm đội ngũ cán bộ nhà nước các nước xã hội chủ nghĩa. Về thực tiễn, nghiên cứu cung cấp dữ liệu tin cậy về thực trạng cơ động xã hội, giúp các nhà quản lý hiểu rõ hơn về quá trình thăng tiến, chuyển đổi vị trí của cán bộ. Kết luận và khuyến nghị của luận án có giá trị tham khảo cho việc hoạch định chính sách cán bộ tại Lào và các nước có hoàn cảnh tương tự trong khu vực Đông Nam Á.

4.2. Hướng phát triển và ứng dụng trong tương lai

Nghiên cứu mở ra nhiều hướng phát triển mới cho lĩnh vực cơ động xã hội trong khu vực công. Hướng thứ nhất, mở rộng phạm vi nghiên cứu sang các cơ quan hành chính nhà nước khác tại Lào để có bức tranh toàn diện hơn. Hướng thứ hai, nghiên cứu so sánh cơ động xã hội cán bộ giữa Lào và các nước trong khu vực như Việt Nam, Campuchia. Hướng thứ ba, đi sâu nghiên cứu tác động của hội nhập quốc tế và cách mạng công nghiệp 4.0 đến cơ động xã hội cán bộ. Ứng dụng kết quả nghiên cứu vào công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ tại Học viện Chính trị và Hành chính Quốc gia Lào. Xây dựng mô hình dự báo xu hướng cơ động xã hội phục vụ quy hoạch nguồn nhân lực dài hạn.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

21/04/2026
Luận án tiến sĩ xã hội học cơ động xã hội trong đội ngũ cán bộ nhà nước của nước cộng hòa dân chủ nhân dân lào nghiên cứu trường hợp tại học viện chính trị và hành chính quốc

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến luận án. Chương 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn đề nghiên cứu. Chương 3: Thực trạng cơ động xã hội trong đội ngũ cán bộ Nhà nước của nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào. Chương 4: Các yếu tố ảnh hưởng và khuyến nghị về cơ động xã hội trong đội ngũ cán bộ Nhà nước của nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào.

11 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 1. CÁC NGHIÊN CỨU VỀ CƠ ĐỘNG XÃ HỘI VÀ CÁN BỘ NHÀ NƢỚC TRÊN THẾ GIỚI VÀ LÀO Trong phần này tác giả tập trung tìm hiểu các bài viết, bài nghiên cứu, công trình nghiên cứu của các nước trên thế giới và Lào về cơ động xã hội và cán bộ Nhà nước như các nghiên cứu chung, quan điểm, khái niệm, các loại hình cơ động xã hội và các nghiên cứu thực nghiệm liên quan đến vấn đề nghiên cứu. Trong các công trình nghiên cứu, NCS tóm tắt những giá trị của các công trình nghiên cứu đã làm được,. Đưa ra quan điểm, đánh giá của NCS đối với các nghiên cứu và các đóng góp của các công trình nghiên cứu có liên quan.

Đồng thời chỉ ra những hạn chế và khoảng trống của các nghiên cứu cần tiếp tục hoàn thiện. Các nghiên cứu về cơ động xã hội và cán bộ nhà nƣớc của các nƣớc phƣơng Tây - Nghiên cứu về cơ động xã hội nói chung Nghiên cứu về hiện tượng phân tầng xã hội nói chung, cơ động xã hội nói riêng với những khác biệt mang tính tầng lớp xã hội đã có lịch sử hàng ngàn năm. Thời Hy Lạp Cổ Đại ở phương Tây, các nhà triết học nổi tiếng như Socrates, Plato, Aristotle đều ít nhiều đề cập đến “mô hình xã hội” với các tầng lớp xã hội khác nhau trong mối quan hệ thống trị - bị trị. Trong cuộc cách mạng công nghiệp và những cuộc cách mạng xã hội ở Tây Âu, người ta đã chứng kiến một số giai cấp mới xuất hiện, một số giai cấp suy tàn, biến mất.

Trong bối cảnh đó, hàng loạt học giả đã nghiên cứu về các giai tầng, về sự khác biệt giữa các giai tầng trong xã hội. Nhà khoa học vĩ đại C. Mác đã đưa ra lý thuyết duy vật lịch sử làm cơ sở cho việc lý giải về sự hình thành các giai cấp và phân tích sự chuyển động của những cơ cấu xã hội cụ thể. Kế tục sự nghiệp của C.

Mác, Lênin đã có những công trình nghiên cứu sâu về kết cấu xã hội. Max Weber đã sử dụng sơ đồ 3 yếu tố: địa vị kinh tế (sở hữu tài sản và cơ may thị trường), địa vị chính trị (quyền lực) và địa vị xã hội (uy tín) để xây dựng lý thuyết về cơ cấu xã hội và phân tầng xã hội. Với sơ đồ phân tích này, ông mở rộng việc nghiên cứu cơ cấu xã hội không phải chỉ ở các giai cấp cơ bản mà còn là những tầng 12 lớp khác nữa (giai tầng), không phải chỉ trong lĩnh vực kinh tế mà cả trong các lĩnh vực khác. Đến khoảng cuối những năm 1920, nghiên cứu phân tầng xã hội và cơ động xã hội đã có nhiều phát triển về mặt thực nghiệm, đã lan sang nhiều nước trên thế giới [4].

Các nhà xã hội học ở phương Tây đã vận dụng lý thuyết phân tầng xã hội, cơ động xã hội của M. Weber, quan điểm chức năng luận, quan điểm xung đột để đẩy mạnh nghiên cứu phân tầng xã hội, cơ động xã hội về mặt thực nghiệm, qua đó góp phần làm rõ kết cấu giai tầng của các xã hội phát triển ở phương Tây, giúp cho các Nhà nước cầm quyền có thể kiểm soát và quản lý được tương đối hiệu quả sự vận động của xã hội [36]. Liên quan đến vấn đề này, vào cuối thế kỷ XIX, đã xuất hiện câu hỏi nổi bật về sự truyền thụ đặc điểm từ thế hệ này sang thế hệ khác là có tầm quan trọng. Ví dụ: Galton (1886), ông là người sáng tạo ra khái niệm hệ số tương quan trong thống kê và phát triển hồi quy về điểm trung bình.

Ông là người đầu tiên áp dụng các phương pháp thống kê đối với nghiên cứu về sự khác biệt của con người và tính di truyền của trí thông minh đó là “luật hồi quy” của di truyền, đây chính là cách tìm ra tại sao con cái trở nên tầm thường hơn bố mẹ. Trong những năm đầu thế kỷ XX, ở Mỹ, có rất nhiều nhà xã hội học nghiên cứu về vấn đề cơ động xã hội. Pitirim Sorokin, một trong những cha đẻ nổi tiếng trong việc phân tích cơ động xã hội và bàn về cơ động xã hội khá hệ thống. Ông đã nghiên cứu các loại hình xã hội trong lịch sử và kết luận rằng: chưa có bất kỳ xã hội nào hoàn toàn mở ra đầy đủ các cơ hội cho sự cơ động và cũng chưa có bất kỳ xã hội nào (ngay cả xã hội đẳng cấp của Ấn Độ) đóng cửa hoàn toàn những cơ hội cho sự cơ động xã hội.

Ông đưa ra luận điểm rằng, không bao giờ hai xã hội nào đó cho phép (hoặc hạn chế) có cùng một mức độ cơ động. Tốc độ của sự dịch chuyển xã hội hoặc thay đổi xã hội khác nhau qua mỗi giai đoạn lịch sử. Tỷ lệ thay đổi phụ thuộc vào mức độ hiện đại hóa xã hội đó. Ngoài ra, Sorikin đã nghiên cứu sâu hơn đến vấn đề tính cơ động xã hội, ông cho rằng, không nên quá quan tâm đến việc cá nhân hay nhóm đã đạt được địa vị lên - xuống như thế nào mà phải làm rõ xem phương tiện mà họ sử dụng để đạt tới với vị trí của mình trong trật tự xã hội.

Ông coi những nhân tố ảnh hưởng đến sự cơ động xã hội là những nhân tố của quá trình sàng lọc, trong đó nền tảng kinh tế - xã hội của nhóm, của cá nhân cũng như gia đình, học vấn bản thân chính là những nhân tố thúc đẩy và tạo ra cơ động xã hội [39]. 13 Những quan tâm nghiên cứu cơ động xã hội của Joseph H. Fichter cũng có những nét tương đồng với Sorokin. Fichter nhấn mạnh rằng cơ động xã hội không phải là quá trình liên tục mà được thực hiện theo từng giai đoạn, ít nhiều tương tự như sự di chuyển của những người từ một nông trại qua một thành phố nhỏ, đến thành phố lớn rồi đi tới vùng ngoại ô.

Theo định nghĩa của James A. Barber một nhà nghiên cứu nổi tiếng về cơ động xã hội. Theo quan điểm của ông, cơ động xã hội đề cập đến một số dịch chuyển, hoặc lên hoặc xuống giữa các tầng lớp xã hội cao hơn hoặc thấp hơn; hay chính xác hơn, di chuyển giữa những vai trò được đánh giá là có ý nghĩa xã hội về mặt chức năng cao hơn hoặc thấp hơn. Sự dịch chuyển này như là một quá trình diễn ra theo thời gian, đối với các cá nhân, đây là sự di chuyển từ một vai trò và vị trí đã xảy ra với họ trong các loại tương tác xã hội khác nhau.

Sự cơ động phát sinh trong tương tác xã hội, khi từng cá nhân phản ứng với những người khác trong một loạt thay đổi về vai trò xã hội [4]. Với ý nghĩa này, cơ động “đem lại cho cá nhân nhiều hơn hoặc ít hơn những lợi ích mà nền kinh tế và xã hội đã cung cấp”. Ví dụ như con trai của một người của một nhân viên bán hàng trở thành một luật sư; con của một người đẩy xe kéo trở thành một bác sĩ… Trong mỗi trường hợp, một sự thay đổi trong vai trò giữa người cha và con trai đem lại cho người con nhiều điều tốt đẹp trong cuộc sống. Khi nghiên cứu cơ động xã hội trong xã hội Mỹ, theo LJ.Zelznick trong cuốn Xã hội học đã sử dụng bốn tiêu chí để xác định tính chất của cơ động xã hội.

Cái mới được đưa vào nghiên cứu của hai ông là thói quen, văn hóa, triển vọng di chuyển của dân chúng là những yếu tố quan trọng tác động đến sự cơ động xã hội [29]. Ngoài ra, còn có rất nhiều tác giả nghiên cứu về vấn đề “cơ động xã hội” trong nhiều tác phẩm khác nhau và ở những góc độ khác nhau nhưng phần lớn có quan điểm rằng: cơ động xã hội là đề cập đến sự di chuyển của các cá nhân hoặc các nhóm từ một vị trí của một hệ thống phân tầng xã hội này sang hệ thống phân tầng xã hội khác. Đây là sự di chuyển lên hay xuống của các nhóm trong xã hội mà họ đã được chỉ định. Trong đó, sự nổi lên của một người từ một nền tảng rất nghèo đến chức tổng thống (ví dụ, A.

Abdul Kalam, tổng thống của Ấn Độ) hoặc một số vị trí khác về uy tín, quyền lực hay phần thưởng tài chính lớn là một ví dụ về tính cơ động xã hội. Tính cơ động cả đi lên và đi xuống. Vì vậy, nó là một phong trào lên hoặc xuống trong các bậc thang xã hội hoặc trong địa vị xã hội. Đồng thời, trong một số xã hội, một số người 14 không thể duy trì được thứ hạng lớp xã hội của họ, trong đó họ được sinh ra vì mất của cải hoặc có nghề nghiệp có thu nhập thấp và tình trạng cuộc sống cũng thấp hơn yêu cầu của xã hội đó.

Đây chính là những triệu chứng và quá trình di chuyển xuống. Trái ngược với điều này, những người có được tài sản, thu nhập, địa vị hoặc sự thay đổi trong công việc xếp hạng cao hơn cho thấy sự di chuyển lên trên. Và điều đó là một điều tất nhiên như Lipset và Bendix (1960) đã xác định tính cơ động xã hội là “một quá trình mà cá nhân di chuyển từ vị trí này sang vị trí khác giữa các sắp xếp phân cấp như vậy được tìm thấy trong mỗi xã hội” [89, tr 424-426]. Trên thực tế, nghiên cứu về tính cơ động xã hội ở một khuôn khổ so sánh đã trở thành một vấn đề quan trọng trong bối cảnh đối diện với lý thuyết xung đột mệnh đề.

Một mặt, chuyên gia lý thuyết chức năng cho rằng phát triển kinh tế sẽ dẫn đầu các xã hội công nghiệp để trở nên công bằng hơn và tận hưởng tỷ lệ cơ động xã hội cao hơn (Blau & Duncan (1967); Kerr, Dunlop, Harbison và Myers (1960); Parsons (1960); Treiman (1970).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ