Chương 1 TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN VIỆC LÀM CỦA THANH NIÊN NÔNG THÔN 1. TÀI LIỆU NƯỚC NGOÀI Các công trình nghiên cứu của nước ngoài có liên quan có thể chia thành 3 nhóm, đó là các nghiên cứu về việc làm nói chung, các nghiên cứu về lao động việc làm tại khu vực nông thôn và các nghiên cứu về việc làm của thanh niên. Nghiên cứu lý thuyết việc làm Nghiên cứu về việc làm thường được các tác giả nước ngoài đề cập đến trong các lý thuyết kinh tế của mình trong mối quan hệ với thị trường và Nhà nước: * John Moynard Keynes trong General Theory on Employment, Interes and Money (1936). Tác phẩm đã được dịch ra tiếng Việt là Lý thuyết tổng quát về việc làm, lãi suất và tiền tệ.
Về cơ bản học thuyết Keynes xem xét việc xác định sản lượng quốc dân và việc làm trên cơ sở tổng mức cầu đối với các hàng hóa, dịch vụ và một nền kinh tế có tiềm năng sản xuất trong điều kiện cụ thể về nguồn lực và công nghệ của chính nó. Giải pháp nhằm làm giảm hoặc loại trừ thất nghiệp của Keynes là: tăng tổng cầu thông qua việc tăng trực tiếp chi tiêu của chính phủ hoặc thông qua các chính sách của Chính phủ khuyến khích gián tiếp đầu tư tư nhân (lãi suất cho vay thấp, trợ giá cho đầu tư, giảm thuế. Nhưng mô hình việc làm của Keynes có một số hạn chế: Một là nó được dựa trên những giả định không thật đúng với các nước đang phát triển, nguồn lực chính phủ hạn chế; Hai là việc tạo thêm công ăn việc làm cho khu vực thành thị bằng cách tăng mức tổng cầu sẽ có thể thu hút thêm nhiều di cư từ các vùng nông thôn bỏ ra thành thị kiếm sống, gây áp lực lên công tác quản lý đô thị1. * Mô hình “hai khu vực cổ điển” của A.Lewis giải thích mối quan hệ giữa nông nghiệp và công nghiệp trong quá trình tăng trưởng.
Mô hình nghiên cứu sự di chuyển lao động từ khu vực nông nghiệp sang khu vực công nghiệp. Trong khu vực 1 Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, Giáo trình Lịch sử các học thuyết kinh tế, NXB ĐHKTQD 2014. 9 nông nghiệp, năng suất lao động và thu nhập của người lao động nông nghiệp thấp, lượng lao động trong xã hội ngày càng tăng nên có sự di chuyển nguồn lao động dư thừa từ khu vực nông nghiệp sang khu vực công nghiệp. Chính vì khu vực nông nghiệp mang tính trì trệ nên cần giảm dần quy mô và tỷ trọng đầu tư, thay vào đó, cần xây dựng và đầu tư vào khu vực công nghiệp để thu hút người lao động.
Mô hình được đề ra dựa trên các giả định: (1) Tỷ lệ lao động thu hút sang khu vực công nghiệp tương ứng với tỷ lệ vốn tích lũy ở khu vực này (thâm dụng vốn, hoặc đầu tư nơi khác); (2) Khu vực thành thị không có thất nghiệp; (3) Có thể giải quyết việc làm cho người lao động ở nông thôn mà không cần phải chuyển ra thành phố; (4) Tiền lương công nghiệp không tăng (thực tế vẫn tăng do nhu cầu về lao động có tay nghề và áp lực từ các tổ chức công đoàn)2. * Mô hình kinh tế tân cổ điển coi công nghệ là yếu tố trực tiếp quyết định tăng trưởng và giúp tối đa hóa lợi nhuận. Đối với khu vực nông nghiệp, nếu áp dụng các tiến bộ công nghệ, lao động có thể cải thiện, nâng cao chất lượng ruộng đất, giúp tăng cả về chất lượng và số lượng sản phẩm. Đầu tư làm tăng năng suất nông nghiệp khiến việc dịch chuyển lao động khỏi nông nghiệp không làm tăng giá nông sản, do đó để tránh bất lợi nên đầu tư vào cả nông nghiệp ngay từ đầu.
Đối với khu vực công nghiệp, việc áp dụng các tiến bộ công nghệ dẫn đến chủng loại và chất lượng sản phẩm làm ra ngày càng tăng, vì vậy, các chủ lao động phải trả tiền công cho người lao động cao hơn. Điều này buộc các nhà sản xuất phải lựa chọn công nghệ phù hợp (công nghệ sử dụng nhiều vốn hay công nghệ sử dụng nhiều lao động). Theo mô hình này, việc hình thành việc làm thường là sự tác động đồng thời của ba yếu tố: (1) nhu cầu thị trường; (2) yếu tố cần thiết để sản xuất ra sản phẩm, dịch vụ: sức lao động (sức lực và trí lực), công cụ sản xuất, đối tượng lao động; (3) môi trường xã hội xét cả góc độ kinh tế, chính trị, pháp luật, xã hội3. * Mô hình Harry T.Oshima là nhà kinh tế người Nhật, ông nghiên cứu mối quan hệ giữa hai khu vực dựa trên những đặc điểm khác biệt của các 2 Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, Giáo trình Lịch sử các học thuyết kinh tế, NXB ĐHKTQD 2014.
10 nước Châu Á so với các nước Âu - Mỹ, đó là nền nông nghiệp có tính thời vụ cao. Ông đồng ý với Lewis rằng khu vực nông nghiệp có dư thừa lao động, nhưng theo ông thì điều đó không phải lúc nào cũng xảy ra, đặc biệt là lúc thời vụ căng thẳng thì khu vực nông nghiệp còn thiếu lao động. Oshima đã đưa ra các biện pháp hỗ trợ của Nhà nước nhằm tăng trưởng kinh tế và tăng trưởng việc làm cho người lao động. Theo mô hình này, các nội dung hỗ trợ tạo việc làm chủ yếu là: Thứ nhất, tạo việc làm cho lao động nhàn rỗi theo hướng tăng cường đầu tư phát triển nông nghiệp, đa dạng hóa sản xuất nông nghiệp, xen canh, tăng vụ, trồng thêm rau quả, mở rộng chăn nuôi, trồng cây lâm nghiệp.
Để nâng cao năng suất trong nông nghiệp, Nhà nước cần hỗ trợ phát triển hệ thống tưới nước, vận tải nông thôn, giáo dục và điện khí hóa nông thôn; cải tiến các tổ chức dịch vụ, tổ chức tín dụng; tăng xuất khẩu nông sản thu ngoại tệ, nhập khẩu máy móc phục vụ nông nghiệp. Thứ hai, Nhà nước cần hướng tới tạo việc làm đầy đủ cho lao động bằng cách đầu tư phát triển đồng thời nông nghiệp và công nghiệp (theo chiều rộng) như: phát triển các ngành sử dụng nhiều lao động để GQVL; phát triển ngành công nghiệp chế biến nông sản hàng hóa; phát triển ngành tiểu thủ công nghiệp (nông cụ cải tiến); phát triển ngành công nghiệp sản xuất phân bón, giống và các yếu tố đầu vào; phát triển logistic đồng bộ từ khâu sản xuất, vận chuyển, bán hàng; phát triển nông nghiệp tạo nhu cầu tăng quy mô công nghiệp và dịch vụ4. Nghiên cứu lao động, việc làm khu vực nông thôn Tuan Francis, Somwaru Agap, Diao Xinshen trong cuốn "Lao động nông thôn di cư, đặc điểm và mô hình việc làm - Nghiên cứu dựa trên điều tra nông nghiệp Trung Quốc" cho rằng quá trình công nghiệp hóa diễn ra mạnh mẽ ở Trung Quốc và sự gia tăng năng suất trong nông nghiệp hàm ý rằng những lao động nông thôn sẽ được thu hút vào các hoạt động sản xuất phi nông nghiệp. Kết quả là họ sẽ có nhiều cơ hội để tăng thu nhập phi nông nghiệp.
Công trình này tập trung nghiên cứu cấu trúc lực lượng lao động nông thôn và những đặc điểm của lao động nông thôn để đánh giá tiềm năng di cư lao động nông thôn vào các lĩnh vực phi nông nghiệp. Công trình phân tích thị trường lao động nông thôn Trung Quốc dựa trên điều tra 4 A.Silem, Bách khoa toàn thư về Kinh tế học và Khoa học quản lý, NXB Lao động- Xã hội 2002. 11 dân số nông nghiệp Trung Quốc lần thứ nhất, với những đặc điểm nhân khẩu học của lực lượng lao động nông thôn, tính liên kết giữa các loại công việc, nơi làm việc và di cư lao động của lao động nông thôn. Dựa trên sự phân bổ nhân khẩu học của lực lượng lao động nông thôn, các tác giả đã tìm ra được mối liên hệ giữa lao động nông thôn với việc phân bổ các nguồn lực khác, đặc biệt là quỹ đất đai ngày càng hạn chế, từ đó áp dụng kỹ thuật logit polytomous tổng quát để phân tích các mô hình sử dụng lao động nông thôn và dự báo quá trình di cư lao động nông thôn.
Ren Mu, Dominique van de Walle trong cuốn Left Behind to Farm? Women’s Labor Re-Allocation in Rural China chứng minh rằng sự chuyển đổi công việc và di cư lao động trong quá trình phát triển kinh tế nhanh chóng của Trung Quốc diễn ra rất mạnh mẽ, song có vấn đề tồn tại là sự phân bổ lại lao động nông nghiệp truyền thống đối với những người phụ nữ nông thôn. Báo cáo nghiên cứu phương thức làm việc và phân bổ thời gian của những người phụ nữ không di cư nhưng chịu ảnh hưởng bởi sự di cư của những người thân trong gia đình. Thực tế cho thấy, những người phụ nữ bị bỏ lại ở nông thôn đang phải làm nhiều công việc đồng áng hơn trước và điều này diễn ra trong thời gian dài chứ không chỉ là tạm thời đảm nhiệm. Trong khi đó, đối với những người đàn ông bị bỏ lại ở nông thôn thì không gặp phải trường hợp này.
Các chuyên gia kinh tế đã đặt câu hỏi về mô hình thu nhập tổng hợp của hộ gia đình dựa trên những bằng chứng thực nghiệm, những khả năng phát sinh có thể đi kèm với các hiệu ứng phân phối trong các hộ gia đình trong quá trình phát triển kinh tế tổng thể. Đối tượng nghiên cứu của công trình này là những phụ nữ nông thôn không di cư, phương cách làm việc, phân bổ thời gian lao động và sức khỏe của họ bị ảnh hưởng khi sống trong gia đình có người di cư. Tìm hiểu về vấn đề này có ý nghĩa quan trọng đối với tăng trưởng chung và các chính sách phát triển kinh tế - xã hội. Những cải thiện hay hỗ trợ người phụ nữ trong việc cung cấp các dịch vụ công cho trẻ em và chăm sóc người cao tuổi có thể giúp làm giảm bớt gánh nặng của công việc đồng áng đối với những người phụ nữ này.
Dịch vụ khuyến nông có vai trò đặc biệt quan trọng đối với phụ nữ có học vấn và kiến thức về nông nghiệp thấp trong 12 các gia đình có người di cư. Ngoài ra những chính sách xóa đói, giảm nghèo thông qua các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, tín dụng, việc làm phi nông nghiệp và mạng lưới an sinh xã hội an toàn cũng sẽ giúp những người phụ nữ này có cuộc sống tốt hơn.