MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài Trong những năm qua, hệ thống giáo dục đại học (GDĐH) vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) đã đóng vai trò quan trọng trong việc “nâng cao dân trí, dao tạo nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài”, nghiên cứu khoa học và chuyên giao công nghệ, tạo nền tang và động lực thúc đây kinh tế — xã hội (KT-XH) vùng ĐBSCL phát triển. Hàng năm, hệ thống này đã cung ứng cho thị trường lao động khoảng 18.182 cử nhân đại học chính quy, 4.335 hệ vừa làm vừa học, 1.698 đào tạo từ xa và 1.968 thạc sĩ, tiến sĩ (Bộ Giáo dục và Dao tạo, 2021, tr. Nguồn nhân lực (NNL) này sau khi tốt nghiệp, đã tham gia vào các ngành, thành phần kinh tế của vùng ĐBSCL, đóng vai trò quyết định, thúc đây các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của vùng phát triển. Qua đó, góp phần đưa ĐBSCL trở thành “vựa lúa, trung tâm sản xuất thủy sản, trái cây lớn nhất cả nước; đóng góp 31,37% GDP toàn ngành nông nghiệp với hơn 50% sản lượng lúa, 65% sản lượng nuôi trồng thủy sản, 70% lượng trái cây, 95% lượng gạo và 60% sản lượng thủy sản xuất khẩu; đóng vai trò quan trọng đảm bảo an ninh lương thực quốc gia và xuất khẩu” (Thủ tướng Chính phủ, 2022, tr.
Thế nhưng, trong thời đại kinh tế tri thức và Cách mang công nghiệp 4.0, tài nguyên thiên nhiên không còn được xem như thế mạnh hàng đầu của các quốc gia, dân tộc. Tuy có nhiều tài nguyên để phát triển nông nghiệp, thủy sản, nhưng do thiếu NNL chất lượng cao dé tiễn hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nên “KT-XH của ĐBSCL còn những hạn chế, bất cập và gặp nhiều khó khăn, chưa tương xứng với tiềm năng lợi thế. Tăng trưởng kinh tế vùng đang chậm lại. Công nghiệp, nhất là công nghiệp công nghệ cao phát triển cham;.Van hóa — xã hội còn những bắt cập, có nơi van là “vùng tring” về y tế, giáo duc, mức sống và cơ sở hạ tang của cả nước” (Bộ Chính trị, 2022, tr.
Đặc biệt, với tác động mạnh mẽ của biến đổi khí hậu hiện nay đã day ĐBSCL vào một giai đoạn khó khăn, thách thức nhất trong lịch sử tồn tại của vùng, làm cho các chỉ số phát triển KT-XH của vùng ngày càng tụt hậu xa hon so với cả nước. Dé KT-XH vùng ĐBSCL phát triển nhanh và bền vững so với cả nước cần đầu tư nhiều nguồn lực như nhân lực, vật lực và tài lực. Trong đó, nhân lực, nhất là NNL chất lượng cao đóng vai trò quyết định. Những tác động của toàn cầu hóa, Cách mạng công nghiệp 4.0 và biến đổi khí hậu không chỉ đặt ra những thách thức lớn đối với sự KT-XH vùng ĐBSCL, mà còn đòi hỏi hệ thống GDĐH hiện nay phải đổi mới toàn diện, điều chỉnh nội dung, chương trình, phương pháp giảng dạy, nhằm đáp ứng tốt hơn yêu cầu phát triển KT- XH vùng ĐBSCL trong bối cảnh mới.
Vì vậy, phát triển GDDH cho ĐBSCL là một trong những nhiệm vụ cấp bách, hàng đầu của chiến lược phát triên KT-XH vùng ĐBSCL. Do đó, các tỉnh, thành cần đầu tư, phát triển GDĐH dé nâng cao dân trí, đào tạo và bồi dưỡng NNL chất lượng cao. Đồng thời, đây mạnh gắn kết chặt chẽ nhiệm vụ nghiên cứu khoa học và chuyên giao công nghệ ở các cơ sở GDDH với chiến lược phát triển KT-XH của các tỉnh/ thành phố. Đó là chìa khóa thành công, đòn bay quan trọng dé thúc day KT-XH vùng ĐBSCL phát triển nhanh, bền vững.
Xuất phát từ thực trạng vai trò của GDĐH đối với sự phát triển KT-XH vùng ĐBSCL trong những năm qua, việc di sâu phân tích, đánh giá thành tựu, han chế trong vai trò của GDĐH đối với sự phát triển KT-XH vùng ĐBSCL trên các mặt kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, đồng thời tìm hiểu những nguyên nhân của những thành tựu, hạn chế trong vai trò của GDĐH đối với sự phát triển KT-XH vùng ĐBSCL là hết sức cần thiết. Trên cơ sở thực trạng đó, luận án dé xuất những phương hướng, giải pháp nhằm phát huy hơn nữa vai trò của GDĐH đối với sự phát triển KT — XH vùng ĐBSCL hiện nay. Từ lý do trên, tác giả chọn đề tai: “Vai frò của giáo dục đại học đối với sự phát triển kinh tế - xã hội ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long hiện nay” làm đề tài luận án tiến sĩ chuyên ngành Chủ nghĩa duy vật biện chứng và Chủ nghĩa duy vật lịch sử. Tổng quan tình hình nghiên cứu của đề tài Nghiên cứu về GDĐH, vai trò của GDĐH đối với sự phát triển KT-XH luôn được sự quan tâm của nhiều nhà khoa học trên thế giới.
Đã có nhiều nhà nghiên cứu tìm hiểu và tiếp cận dưới các góc độ, theo những quan điểm khác nhau như: Triết học, giáo dục học,. Trong phạm vi những nội dung liên quan đến đề tài, tựu trung có thể khái quát thành ba nhóm chính sau: Thứ nhất, những công trình nghiên cứu về giáo dục đại học và vai trò của giáo duc đại học doi với sự phát triển kinh tế - xã hội Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài: Nghiên cứu dưới góc độ triết học có các công trình: Modern philosophies of Education,1962, của tác giả John S. Brubacher; A New History of Educationnal Philosophy, 1993, của Jemes S.Kaminsky; Philosophy of Education: An Encyclopedi, 1996 do J. Chambliss chủ biên, xuất bản tại New York & London.
Ở Trung Quốc: Triết học giáo dục, 1994, của Hoàng TẾ và Triết học giáo dục hiện đại, 1997, của Lương Vĩ Hùng và Không Khang Hoa. Nghiên cứu dưới góc độ giáo dục học có giáo sư Andrew H. Delbanco, là nhà nghiên cứu người Mỹ thuộc trường Đại học Columbia, ông là tác giả cuốn sách nổi tiếng về GDĐH: Dai học đã làm gi và sẽ như thế nào? (College: What It Was, Is and Should Be), 2012. Ong đã khái quát lich sử phát trién GDDH ở Mỹ, đồng thời qua đó phân tích sâu sắc những thay đổi căn bản của GDĐH Mỹ trong thé kỷ XXI cùng với sự phát triển của công nghệ thông tin và nền kinh tế tri thức.
Sự thay đối này đã tác động mạnh mẽ đến nhận thức, mục đích vả cuộc sống của sinh viên. Tác phẩm: Dân chủ và giáo dục, 2008; Kinh nghiệm và giáo dục, 2011, là hai cuốn sách bàn về triết lý giáo dục của John Dewey. Đặc biệt cuốn sách: Cai cách giáo dục ở các nước phát triển ở Mỹ, Anh, Pháp, Đức, Oxtraylia, 2010 do Lữ Đạt, Chu Mãn Sinh (chủ biên) cho thấy chiến lược, cách thức cải cách giáo dục ở các nước phát triển, mỗi một quốc gia khác nhau thì cách thức diễn ra và hiệu quả khác nhau. Do vậy, cuốn sách là tài liệu tham khảo quý giá để nghiên cứu, kế thừa nhằm xây dựng triết lý giáo dục riêng cho dân tộc.
Cuốn sách: Giáo duc và ý nghĩa cua cuộc sống, 2007, của học giả Krishnamurti; Nền giáo dục cho thé kỷ 21: Những triển vọng của Châu A — Thái Bình Dương về canh tân giáo dục vì sự phát triển, 1994, của tác giả Raja Roy Singh; Highter Education in the Twenty — first Century, Vision and Action (Giáo dục đại học thé ky XXI, Tam nhìn — Hành động, 1998, là khâu hiệu trong Hội thao về giáo duc được UNESSCO tô chức. Mimar Turkkahraman tại Đại học Akdeniz, Khoa Giáo dục Antalya, Thé Nhĩ Kỳ viết bài luận với chủ đề: Vai trò của giáo duc trong phát triển xã hội, đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Giáo dục thé giới Tháng 11 năm 2012, Tập: 2 Số phát hành: 4. Bài viết: 04 ISSN: 2146-7463 đã khang định: Giáo dục, như một hiện tượng, vừa là một nên tảng xã hội, vừa là một quá trình xảy ra trong xã hội. Mục đích chính của giáo dục là để duy trì tính cá nhân và cải thiện xã hội.
Các chương trình giáo dục và các chính sách đóng một vai trò quan trọng trong tiến bộ xã hội và mỗi một cá nhân. Trong mỗi quan hệ giữa giáo dục và xã hội, xã hội không thé không có giáo dục và ngược lại. Giáo dục ảnh hưởng không chỉ đối với người được giáo dục mà cả toàn bộ cộng đồng băng cách bắt đầu từ gia đình họ. Nói cách khác, nâng cao cuộc sống cho cá nhân và góp phần quan trọng làm cho xã hội thịnh vượng hơn là trách nhiệm của giáo dục và các cơ sở giáo dục.
Tác phẩm: Hiện đại hóa giáo dục do Vương Bân Thái (chủ biên), Nxb. Chính tri Quốc gia - Sự thật, 2014. Cuốn sách với nội dung đề cập đến tầm quan trọng của sự nghiệp giáo dục trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước ở các quốc gia trên thế giới và ở tỉnh Giang Tô, Trung Quốc; nghiên cứu và phân tích nhiều khía cạnh về mục tiêu, con đường hiện đại hóa giáo dục, đầu tư cho giáo dục, xây dựng đội ngũ giáo viên, cải cách thé chế giáo dục, bồi dưỡng nhân tài, mở cửa đối ngoại trong giáo dục, từ đó xác định mô hình hệ thống giáo dục của Trung Quốc trong tương lai. Sách sẽ là tài liệu tham khảo có giá trị đối với các nhà giáo dục, các nhà hoạch định chính sách và những ai quan tâm tới nền giáo dục nước nhà.
Tác giả Mohammad Zahir Akbari với bài viết: Vai trò của giáo dục trong phát triển kinh tế đăng trên http://outlookafghanistan.php? Postid =16303 #ixzz4bAW3MI9P ngày 29 thang 9 năm 2016 đã phân tích: Giáo duc theo moi nghĩa là một trong những yếu tố cơ bản của phát triển kinh tế. Không một quốc gia nào có thé đạt được sự phát triển kinh tế bền vững nếu không có sự đầu tư đáng ké vào vốn con người. Giáo dục làm phong phú thêm sự hiểu biết của mọi người về bản thân và thế giới. Nó cải thiện chất lượng cuộc sống của họ và dẫn đến những lợi ích xã hội rộng rãi cho cá nhân và xã hội.
Giáo dục nâng cao năng suất và su sáng tạo của con người và thúc day tinh thần kinh doanh và tiễn bộ công nghệ. Ngoài ra, nó còn đóng một vai trò rất quan trọng trong việc đảm bảo tiễn bộ kinh tế - xã hội và cải thiện thu nhập cá nhân. Các công trình nghiên cứu ở Việt Nam: Các công trình nghiên cứu của Cô Thủ tướng Phạm Văn Đồng: Sw nghiệp giáo dục trong chế độ xã hội chủ nghĩa, 1986; Vẻ vấn dé giáo dục va dao tao, 1999: Giáo dục đào tạo quốc sách hàng đâu, tương lai của dân tộc, 2008, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.