MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài 1. Trong thế ky XX, nhờ tận dụng được những ảnh hưởng của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ và lợi dụng được những lợi thế trong tương quan với hệ thống xã hội chủ nghĩa mà chủ nghĩa tư bản hiện đại đã có những thay đổi to lớn và không kém phan bat ngờ. Thế giới tư bản chủ nghĩa đã tạo ra điều kiện góp phần phát triển xã hội và giải quyết các mâu thuẫn vốn có của nó.
Sự phát triển mới của chủ nghĩa tư bản đã làm xuất hiện ý kiến cho rằng, liệu xã hội tư bản chủ nghĩa có phải là xã hội làm tha hoá con người hay chính những điều kiện vật chất trong xã hội tư bản hiện đại lại giúp cho con người được tự do phát triển hơn. Trong khi đó, sau hơn 70 năm tồn tại, phát triển, bên cạnh những thành tựu đạt được, chủ nghĩa xã hội lại bộc lộ những mặt trái với mong đợi và trái với mô hình lý thuyết của Mác. Một trong những mặt trái đó là sự tồn tại của hiện tượng tha hoá. Tha hoá không chỉ là sản phẩm tàn du của xã hội cũ, mà còn là những hiện tượng nảy sinh từ cơ sở kinh tế — xã hội ngay trong lòng xã hội mới.
Chính sự quan liêu, yếu kém của bộ máy nhà nước là một trong những nguyên nhân tạo ra tha hoá, cuối cùng dẫn đến sự khủng hoảng của cả hệ thong chính tri xã hội chu nghĩa ở Liên Xô và các nước Đông Âu. Vấn đề là ở chỗ, học thuyết Mác về xã hội nói chung, quan niệm của Mác về tha hoá nói riêng đúng hay không đúng và có giá trị như thế nào trong điều kiện hiện tại. Để có cái nhìn khách quan về vấn đề này, việc trở lại nghiên cứu một cách có hệ thống quan niệm của các nhà kinh điền mácxít về van dé tha hoá là một yêu cau bức thiết hiện nay. Điều đó, một mặt góp phan làm rõ giá trị khoa học và giá trị thực tiễn của học thuyết Mac trong bối cảnh lịch sử hiện nay, mặt khác góp phần lý giải tính khách quan của con đường xây dựng một xã hội đân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh mà Đảng và nhân dân ta đã lựa chọn.
Việt Nam đang thực hiện công cuộc đổi mới nhằm thực hiện mục tiêu xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội. Sau hơn hai mươi năm thực hiện đường lối đổi mới do Đảng khởi xướng, chúng ta đã đạt được những thành tựu to lớn và có ý nghĩa quan trọng. Nhờ đổi mới, Việt Nam đã vượt qua khủng hoảng, bước vào thời kỳ ổn định và phát triển mới. Cùng với những thành tựu trên lĩnh vực kinh tế, diện mạo đất nước đã có nhiều thay đôi tích cực trên các lĩnh vực khác, tạo nên bước phát triển vượt bậc được cộng đồng thế giới ghi nhận.
Tuy nhiên, nền kinh tế thị trường, trong khi có tác dụng thúc đây mạnh mẽ sự phát triển của đất nước, thì những mặt trái của nó trong đời sống xã hội như phân hoá giàu nghèo, quan liêu, tham nhũng, tha hoá đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên. cũng trở thành những vấn nạn nồi cộm thu hút sự quan tâm, lo lắng của toàn xã hội. Trên thực tế, thực tiễn xây dựng đất nước đang đặt ra rất nhiều van dé mà lý luận cần phải giải đáp: Nhận thức và đánh giá sự tha hoá trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay nghiêm trọng đến mức nào, dé có thái độ và phương pháp đối xử đúng với bản chất của nó trong xã hội Việt Nam; băng cách nao dé hạn chế, loại bỏ những hiện tượng tiêu cực và tha hoá trong đời sống xã hội, loại bỏ tình trạng quan liêu, biến chất trong một bộ phận công chức bộ máy Đảng và Nhà nước. Thực tiễn thế giới và Việt Nam như vừa nêu đòi hỏi phải nhận thức sâu sắc hơn nữa về lý luận tha hoá của các nhà kinh điển mácxít.
Trong bối cảnh hiện nay, quan điểm của các nhà kinh điển Mác - Lênin sẽ là căn cứ tin cậy dé chúng ta nhận thức và giải quyết các van đề về xây dựng chủ nghĩa xã hội và phát triển con người Việt Nam trong điều kiện kinh tế thị trường, toàn câu hóa và hội nhập quôc tê. Xuất phát từ những lý do đó, chúng tôi chọn “Quan niệm của C. Mác về tha hoá vàý nghĩa của nó đối với phát triển con người Việt Nam hiện nay” làm đề tài nghiên cứu của luận án này. Tình hình nghiên cứu Tha hoá là van đề được nhiều hoc giả trong giới nghiên cứu triết học quan tâm.
Ngay từ rất sớm, đầu những năm 20 (thế kỷ XX), những công trình nghiên cứu về tha hoá đã xuất hiện. Năm 1923, trong công trình nghiên cứu của G. Lucatso (Georg Lukacs): “Vat hod và ý thức của giai cấp vô sản” (Reification and the Consciousness of Proletariat), quan niệm về tha hoá đã được nghiên cứu. Trong tác phẩm nay Lucátsơ đưa ra quan niệm về “vật hoá”, về ý thức của giai cấp công nhân đối với tha hoá và đấu tranh chống tha hoá.
Theo Lucatso thì vật hoá là sự tha hoá của lao động phát triển sang bản thân ý thức khiến cho quan hệ giữa người với người chuyển sang quan hệ giữa vật và vật, làm cho giai cấp công nhân không thể đứng lên chống lại tha hoá. Ông cho rằng vật hoá chỉ là một loại ý thức giả, chỉ cần vạch trần ý thức giả này ở góc độ lý luận thì có thé làm thức tỉnh được giai cấp công nhân có ý thức về sứ mệnh lịch sử của mình. Tiếp sau là loạt các công trình nghiên cứu quan niệm của Hêghen và Mác về tha hoá: “Héghen trẻ” (The Young Hegel) (1938) của Lucatso; “Sw vật hoa con người và bái vật giáo hang hoa” (Reification of People and the Fetishism of commodities) (1943); “Lý thuyét tha hoá: Sự tiếp tục của Mác từ Héghen” (The Theory of alienation: Marxs debt to Hegel) của Raya Dunayevskaya. Vào cuối những năm 50 đầu những năm 60 của thé ky XX, các nha “Mác học” phương Tây và một số người theo “chủ nghĩa Mác phương Tây” lại day lên việc nghiên cứu quan niệm của Mác về tha hoá và van dé tha hoá trong chủ nghĩa xã hội.
Mục đích của họ là: thứ nhất, muốn đồng nhất triết học mácxít với lý luận tha hoá; thứ hai, họ thối phông hiện tượng “tha hoá”, áp dụng vào cả chủ nghĩa xã hội. Đáng chú ý nhất trong số những công trình nghiên cứu của các nhà triết học phương Tây là những nghiên cứu của các học giả thuộc trường phái Phranphuốc (Frankfurt School) ở Đức. Trường phái này đã tiếp tục mở rộng lý luận “vật hoá” mà Lucatso nêu ra trong tác phẩm “vat hoá và ý thức của giai cấp Vô sản” kết hợp với quan điểm thời kỳ đầu của Mác về tha hoá dé đưa ra lý luận mới về thống trị. Theo trường phái này thì thống trị có nghĩa là vật hoá đã thâm thấu vào ngóc ngách của cá tính con người, nó làm cho con người không nhận ra được sự tha hoá của mình mà còn cảm thấy thoả mãn với những điều kiện vật chất mà xã hội tư bản chủ nghĩa đem lại, do đó nó ngăn cản cả hoạt động giải phóng giai cấp và giải phóng cá nhân.
Đại biểu tiêu biểu của trường phái này là H. Ông đã có những nghiên cứu khá sâu quan niệm của Mác về tha hoá qua phan: “Mdc bàn về lao động tha hoá” (Marx on Alienated labour), trong tác phẩm “Ly tính và cách mạng” (Reason & Revolution) (1941). Trong đó Mácquidơ phân tích quan niệm của Mác về quá trình lao động, sự tha hoá lao động và sự thủ tiêu lao động tha hoá. Mácquidơ là người phân tích khá sâu phép biện chứng của Mác về sự phát triển xã hội.
Trên cơ sở quan niệm của Mác về tha hóa, Mácquidơ cũng như các nhà lý luận của trường phái Phranphuốc khăng định, quan niệm của Mác về sự tha hoá con người vẫn đúng trong xã hội tư bản hiện đại. Mácquidơ cho rằng, trong xã hội ngày nay tuy cuộc sông vật chất phong phú nhưng bản chất con người cũng bị tha hoá chưa từng có. Trong hai tác pham sau đó: “Con người một chiểu ”(One — Dimentional Man) (1964) và “Phản cach mạng và khởi nghĩa” (Counterrevolution and revolt) (1972), Mácquidơ đã đưa ra cơ sở lý luận cho việc phê phán chủ nghĩa tư bản cực quyền. Theo ông chủ nghĩa cực quyền hiện đại đã thành công trong việc nuôi dưỡng “nhu cầu giả”.
Nó lôi kéo mọi người chạy theo sự tiêu dùng vô hạn, không mang lại cho con người hạnh phúc đích thực, biến những người vừa có nhu cau vật chất, vừa có nhu cau tinh thần thành những con người một chiều, hoàn toàn bị dục vọng vật chất chi phối. Điều tai hại là những thành tựu vật chất của chủ nghĩa tư bản làm cho con người lầm tưởng rằng hiện thực hiện hữu là xã hội tốt đẹp nhất cho mọi người, từ đó mà tự giác giúp cho chế độ tư bản vận hành một cách có hiệu quả. Trong xã hội hiện đại con người không tự giác nhận thấy cảnh ngộ tha hoá của mình, ảo giác tự chủ cá nhân đã đánh lừa họ, khiến họ không nhận ra bản chất đích thực là cuộc sống của họ bị thao túng. Chính điều đó làm cho con người tự giác từ bỏ nhu cầu giải phóng khỏi mọi sự tha hoá, mọi sự thao túng.
Một mặt khẳng định quan niệm của Mác về tha hoá trong xã hội tư bản chủ nghĩa vẫn đúng trong xã hội hiện đại, nhưng mặt khác trường phái Phranphuốc cũng phủ nhận quan niệm của Mác về vai trò chủ thể lịch sử của giai cấp vô sản. Họ đi tìm chủ thể của cách mạng từ bên ngoài xã hội. Đó là những người ở thế giới thứ ba và những người thuộc “phái tả mới” trong xã hội công nghiệp hiện đại mà thành viên chủ yếu là những người lang thang, tầng lớp thanh niên trí thức và sinh viên. Giới lý luận của các Đảng Cộng sản Pháp và Anh, cũng đưa ra những nghiên cứu về vấn đề tha hoá trong quan niệm của Mác cũng như về vấn đề tha hoá trong chủ nghĩa xã hội.
Theo đó hình thành hai loại ý kiến khác nhau về vẫn đề tha hoá trong học thuyết Mác. Loại ý kiến thứ nhất cho răng, “tha hoá” là quan niệm trọng tâm của triết học, là một trong những chủ đề vĩnh cửu của triết học, là “chất men trong tư tưởng của Mác”.