mở đầu của nền văn minh công nghiệp trong lịch sử nhân loại. Những thành tựu về kinh tế, chính trị, xã hội và giáo dục tạo điều kiện, tiền đề quan trọng cho sự phát triển khoa học nói chung, triết học nói riêng. Những tiến bộ của khoa học với việc phát minh ra điện tạo bước nhảy vọt từ công trường thủ công tới công nghiệp cơ khí. Bên cạnh sự phát triển của khoa học như một nhu cầu lịch sử, triết học thâm nhập vào cuộc sống, tìm tòi và khám phá sức mạnh lý tính con người, trong đó triết học I.Kant là một ví dụ điển hình cho khuynh hướng đó.
Trong khi nhiều nước Tây Âu đang có những thay đổi nhảy vọt, thì ở nước Đức cho đến đầu thế kỷ XIX vẫn là một quốc gia phong kiến lạc hậu, sự phân tán về kinh tế và chính trị là lực cản lớn của nước Đức trên con đường phát triển tư bản chủ nghĩa. Nước Đức nửa sau thế kỷ XVIII - nửa đầu thế kỷ XIX vẫn còn trong tình trạng lạc hậu, nghèo nàn, suốt từ năm 1618 đến năm 8 1648 xảy ra liên tiếp các cuộc chiến tranh với nước láng giềng làm tình hình đất nước kiệt quệ, trì trệ. Bộ máy nhà nước cồng kềnh, hà khắc, tư tưởng dân chủ, tiến bộ bị chèn ép. Nước Đức so với các nước châu Âu khác như Anh lạc hậu hơn 200 năm, với Pháp 50 năm.
Về kinh tế, nền kinh tế bị ràng buộc bởi quan hệ sản xuất phong kiến lạc hậu, ruộng đất tập trung chủ yếu trong tay các địa chủ, những tàn dư của chế độ nông nô khiến cho năng suất lao động thấp, đời sống nhân dân hết sức bấp bênh, khốn khổ và cùng cực. Về chính trị, triều đình Phổ đứng đầu là Vua Friedrich Wilhem II rất bảo thủ và ngoan cố tăng cường quyền lực, duy trì chế độ quân chủ chuyên chế hà khắc, dã man. Về tư tưởng, hệ tư tưởng thần học chiếm vị trí độc tôn trên vũ đài lý luận. Thần học là khoa học cơ bản trong các trường đại học tổng hợp, triết học thỏa hiệp với tôn giáo.
Trước một thực trạng xã hội rối ren, phức tạp và mâu thuẫn chồng chất, mặc dù kinh tế, chính trị nước Đức thời kỳ này còn lạc hậu, nhưng triết học, nghệ thuật và văn hóa đã đạt được nhiều thành tựu. Nước Đức là nơi sinh ra nhiều nhà tư tưởng nhà văn nổi tiếng như Gớt, Sinlơ, Hécđơ…Fichte những tác phẩm của họ toát lên tinh thần bất thuận và thái độ phẫn nộ đối với sự bất công trong xã hội đương thời. Giai cấp tư sản Đức ra đời muộn hơn so với nước khác cho nên đã tiếp thu được kinh nghiệm của các dân tộc đi trước, kế thừa có chọn lọc, phát triển trong điều kiện của mình, bất chấp sự khó khăn về vật chất, tri thức và tư tưởng có sự tiến bộ xa hơn. Mặc dù bị nước Anh và Pháp vượt xa về kinh tế, song nước Đức với cuộc cách mạng trong lĩnh vực lý trí đạt nhiều thành tựu về văn hóa triết học.
9 Thời kỳ này mâu thuẫn xã hội bị đẩy lên cao, mâu thuẫn giữa lý tưởng và hiện thực xã hội. Nước Đức tuy lạc hậu hơn hẳn về kinh tế và chính trị dẫn đến mâu thuẫn xã hội càng khó giải quyết. Một mặt các triết gia Đức thừa nhận tiến trình lịch sử là không thể đảo ngược nhưng mặt khác các triết gia Đức không chấp nhận cái giá phải trả cho tự do và dân chủ. Các nhà tư tưởng Đức lấy tư duy triết học làm vũ khí phê phán và chuyển tải tư tưởng cách mạng, đối với họ triết học là nơi thể hiện khát vọng cải tạo hiện thực của con người.
Những thành tựu tiêu biểu nhất mà các nhà triết học Đức đạt được trong thời kỳ này là phép biện chứng. Thực tiễn đặt ra nhu cầu phải thay đổi tư duy. Các nhà triết học Đức dưới tác động của chuyển biến kinh tế, chính trị xã hội tại Anh, Pháp đã tìm cách thay đổi tư duy. Trong xã hội tư bản phép biện chứng thâm nhập trong mọi khoa học, thể hiện tính năng động và phát triển của thời đại, tồn tại trong hệ thống duy tâm, tư tưởng tiến bộ, cách mạng hòa chung với các yếu tố bảo thủ.
Tính chất cải lương thỏa hiệp về tư tưởng chính trị của tầng lớp trí thức Đức đương thời đã có ảnh hưởng lớn đến Kant. Bối cảnh lịch sử, tiền đề thực tiễn của triết học Kant là cách mạng Pháp và hiện thực nước Đức nửa sau thế kỷ XVIII - nửa đầu thế kỷ XIX. Cách mạng Pháp, lý tưởng của các nhà khai sáng được hiện thực hóa, tác động không nhỏ đến định hướng về dân chủ, nhân văn trong triết học Kant, khơi dậy tinh thần hoài nghi và phê phán đối với chủ nghĩa giáo điều và bảo thủ trong khoa học lẫn chính trị. Triết học Kant được ví như “triết học Đức của cách mạng Pháp”, vì sao vậy? Như trên cũng đã nói, hiện thực nước Đức được thể hiện ở hệ thống triết học Kant một mặt phản ánh khát vọng chiến thắng lý trí trước những điều phi lý, muốn vượt qua cuộc sống hiện thực khắc nghiệt.
Mặt khác chịu ảnh hưởng của hiện thực, buộc nhà triết học phải chấp nhận giới hạn của sự tự do, tuân thủ các chuẩn mực phổ biến đã 10 trở thành “mệnh lệnh tuyệt đối”. Mâu thuẫn của triết học Kant cũng chính là mâu thuẫn của thực tại được tái hiện lại trong hệ thống lý luận. Từ những phân tích trên có thể đi đến kết luận rằng triết học thực tiễn của Kant (trong đó có tư tưởng về đạo đức và pháp quyền) là sản phẩm tất yếu của hoàn cảnh kinh tế - xã hội nước Đức cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX, nó phản ánh một cách đúng đắn thực trạng xã hội Đức với những mâu thuẫn phát sinh trong lòng xã hội đó. Những tiền đề lý luận hình thành quan niệm đạo đức và pháp quyền của Kant Cũng như những hệ thống triết học khác, triết học Kant không phải là sản phẩm thuần túy của tư duy cá thể, mà có sự kế thừa chọn lọc, tinh hoa trí tuệ nhân loại của các tư tưởng, quan điểm, các trường phái triết học trước đó, có phê phán, lựa chọn và phát triển những tư tưởng mới, thể hiện sự phát triển tất yếu của lịch sử.
Sau thế kỷ XVIII sự phát triển nhanh chóng, vượt bậc của khoa học tự nhiên, khoa học thực nghiệm dần khẳng định vai trò của mình, làm lu mờ phương pháp tư duy siêu hình cũ. Sự ra đời về thuyết nguyên tử của Danton (1766 - 1844), phát minh về điện của Galvani (1737 - 1798), học thuyết về sự xuất hiện tự nhiên của trái đất từ những hạt tinh vân đầu tiên của Laplace (1749 - 1827) đánh vào thành trì quan niệm “phi vật chất”. Những thành tựu phát triển của khoa học tự nhiên có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của triết học Kant. Bối cảnh lịch sử và tư tưởng của các nhà triết học ảnh hưởng mạnh mẽ tới triết học Kant thể hiện trong những tác phẩm của ông ở hai thời kỳ chính là tiền phê phán, và thời kỳ phê phán.
Trong đó phải kể đến triết học Hy Lạp La Mã cổ đại với những quan điểm của Socrate, Plato, Aristotle hay sau này là các nhà khai sáng pháp như Rousseau…Cùng với đó triết học Kant ra đời, hình thành và phát triển còn dưới sự ảnh hưởng bởi tư tưởng của các bậc tiền 11 bối trong lịch sử tại Pháp, Anh, Đức với những khám phá mới trong khoa học, thiên văn học, vật lý. Nhà triết học Socrate (470 - 399 Tr.CN) người thầy của Plato, là một triết gia nổi tiếng đặc biệt quan tâm tới những vấn đề về con người, ông cho rằng triết học không có gì khác là sự nhận thức của con người về chính bản thân mình, chuẩn mực đạo đức chung cho mọi người là nhận thức được điều thiện, điều ác. Đề cao vai trò tri thức khái niệm trong hoạt động của con người, nền tảng đức hạnh chính là tri thức. Kết quả của sự dốt nát, ngu ngốc là những hành vi trái với đạo đức.
Muốn đến được với tri thức thì con người cần hoàn thiện nhân cách, phân biệt rõ ràng giữa cái thiện và cái ác, hạnh phúc chính là đức hạnh. Người nào nhận thức được đức hạnh là gì thì mới hiểu được hạnh phúc là gì. Kết quả của sự không hiểu biết cái thiện chính là cái ác và bất hạnh. Socrate bàn nhiều đến khía cạnh đạo đức trong triết học của mình, nền tảng của đạo đức chính là chân lý và tri thức.
Đóng góp lớn nhất trong triết học của Socrate là thấy được mối quan hệ giữa thực tiễn và lý luận trong hoạt động thực hành đạo đức của con người. Điểm nổi bật trong triết học của Socrate là việc đề cao tri thức, đạo đức của con người là vấn đề trung tâm mà sau này trong triết học đạo đức của Kant bàn nhiều tới vấn đề cái thiện, đạo đức, đức hạnh và sự tự do của con người. Bên cạnh quan niệm về đạo đức, Socrate còn đề cập đến tư tưởng về pháp luật, theo Socrate luật pháp không thể tồn tại bên ngoài nhà nước, muốn có công bằng phải phục tùng pháp luật, luật pháp là điều kiện cần thiết để duy trì sự tồn tại của nhà nước. Ông viết: “bất cứ một đạo luật nào, mặc dù còn thiếu sót đến đâu, cũng mang tính cứu sinh hơn tình trạng phạm pháp.
Nếu như mọi công dân đều tuân thủ theo pháp luật, thì nhà nước mà trong đó họ đang sống sẽ trở nên hùng mạnh và phồn thịnh hơn nhiều” [Dẫn theo 74, 12 tr. Dân chủ không thể tồn tại nếu thiếu pháp luật hay pháp luật bất lực, giá trị cao nhất là công lý, nghĩa là người ta tuân thủ pháp luật nhà nước. Tư tưởng đề cao pháp luật đó, sau này Kant tiếp thu và phát triển trong hệ thống tư tưởng pháp quyền của mình. Một trong những học trò xuất sắc của Socrate là Plato triết gia vĩ đại với nhiều ảnh hưởng to lớn đến tiến trình phát triển tư tưởng nhân loại.
Trong hệ thống tư tưởng của mình Plato bàn về khía cạnh đạo đức. Ông cho rằng, nhân cách đạo đức con người chỉ có thể có trong một nhà nước lý tưởng. Quan niệm đạo đức của Plato thiên về tính chất xã hội. Trong xã hội, Plato chia làm ba hạng người tương ứng với mỗi hạng người đó là phần linh hồn của con người.
Hạng người được xếp vị trí cao nhất trong xã hội đó là những nhà triết học, những nhà thông thái, họ am hiểu mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.