Chương 1 là chương Tổng quan về vấn đề nghiên cứu nhằm tổng thuật những công trình nghiên cứu đi trước có liên quan đến đề tài của luận án, cụ thể là những công trình có đối tượng nghiên cứu là sáng tác Y. Banana, thẩm mĩ kawaii và đặc biệt là những công trình quan tâm đến các khía cạnh biểu hiện của thẩm mĩ kawaii trong sáng tác của Y. Từ đó, người nghiên cứu xác tín những cơ sở khoa học cho luận án và chỉ ra những khoảng trống khoa học cần được bổ sung, lấp đầy. Khoảng trống đó là sự xem xét kawaii như một phạm trù thẩm mĩ chi phối toàn bộ các vấn đề từ nội dung tư tưởng đến hình thức nghệ thuật trong sáng tác của Y.
Ở chương này, người viết sẽ lần lượt trình bày các công trình nghiên cứu đi trước (bao gồm cả những tài liệu tiếng Việt và tiếng Anh) đã khai thác vấn đề mà luận án đang nghiên cứu, xem xét các công trình đã nghiên cứu về vấn đề của luận án như thế nào và đến đâu, để từ đó tìm ra khoảng trống khoa học cần giải quyết. Người viết sẽ trình bày theo trình tự: Những nghiên cứu liên quan đến phạm trù thẩm mĩ kawaii Những nghiên cứu liên quan đến kawaii trong sáng tác của Y. Từng mục sẽ được trình bày kết quả của các công trình nghiên cứu theo trình tự thời gian. Những nghiên cứu về kawaii trong và ngoài Nhật Bản 1.
Những nghiên cứu về kawaii ở Nhật Bản Theo Kyoko Koma, quyển sách về kawaii với nhan đề Kawaii Ron được viết bởi tác giả Inuhiko Yomota (Đại học Meiji, nhà xuất bản Chikuma, năm 2006) với mục đích mang kawaii tiếp cận với lượng độc giả đông đảo. Quyển sách có một đoạn tóm tắt: “Những nhân vật Nhật Bản như Hello Kitty, Pokemon, Thủy thủ Mặt Trăng. áp đảo trên toàn thế giới [. Vì sao kawaii của Nhật Bản lại phát ra ánh sáng rực rỡ như vậy? Cuốn sách này là nỗ lực định hướng đầu tiên để phân tích đồng đại và lịch đại cấu trúc của kawaii bằng cách đặt nó vào mĩ học của thế kỉ 11 XXI” [144, 7].
Tác giả đã xem nó như là một thẩm mĩ và phân tích kawaii theo chiều dài lịch sử. Theo tác giả, nguồn gốc của kawaii bắt đầu từ quyển Sách gối đầu (Pillow Book) của Seiso Nagon (966 – 1017, thời Heian). Yomota giải thích rằng dịch giả Arthur David Waley (người dịch tác phẩm này sang tiếng Anh) đã chọn cách dịch từ “utsukushi” (うつくし, 美し) sang tiếng Anh là “pretty”, nghĩa là “đẹp”, nói về một người “ngây thơ” (innocent), “trẻ con” (infant), “trong khiết” (pure), những người cần sự bảo vệ của người lớn. Tác giả tiếp tục chỉ ra thẩm mĩ kawaii phát triển trong thời Edo (1603 – 1868) trong những vở kịch Kabuki nổi tiếng và trong sáng tác của tác giả Osamu Dazai.
Nó được hiểu như là những cảm xúc thẩm mĩ về những gì nhỏ nhắn, mong manh, và cần được bảo vệ. Yomota chỉ rõ, “một người có tính cách kawaii không phải là một người trưởng thành, không phải là một người đẹp, mà nữ tính, trẻ con, ngoan và trong sáng” [144, 8]. Kan Satoko, một thành viên khoa Nghiên cứu Nhật Bản Quốc tế, trường Đại học Ochanomizu, trong bài viết năm 2007: kawaii – từ khóa của Văn hóa thiếu nữ ở Nhật Bản cho rằng, có những kiểu văn hóa mới xuất hiện và đang dần thay thế cho văn hóa Nhật Bản truyền thống, một trong số đó là kawaii. Bà đã đi tìm bản chất của kawaii và đưa ra một khái niệm, cũng là một lí do tác động đến việc hiểu từ kawaii phù hợp, đó là văn hóa nữ giới.
Tác giả đã phân tích những bàn luận về kawaii, xem nó tương đương với khái niệm cute của tiếng Anh, là một trong những yếu tố quan trọng của văn hóa đại chúng Nhật Bản đương đại, đã lan tỏa ra khắp thế giới và trở thành một kiểu văn hóa xuyên quốc gia. Bà cho rằng đây là một từ rất khó dịch: trong tiếng Anh có một từ gần nghĩa là cute nhưng không hoàn toàn giống nhau. Bà đã đi tìm sự phát triển của nội hàm ý nghĩa từ ngữ kawaii và chỉ ra rằng, “trong trường hợp nào cũng vậy, kawaii là một từ ngữ, một khái niệm quan trọng khi nói về xã hội Nhật Bản và những cô gái trẻ”. Kan khẳng định: “Tôi đánh giá cao vai trò của Y.
Banana trong việc làm cho văn hóa đại chúng, trong đó có khái niệm kawaii và thể loại shoujo manga, vốn không quan trọng trước đó, trở nên được tôn trọng và qua Y. Banana, văn hóa thiếu nữ mà chúng ta yêu mến cuối cùng cũng được công nhận” [142, 202]. 12 Tiếp theo nữa là ba quyển sách viết về kawaii năm 2009: Nghiên cứu về thiết kế kiểu mẫu kawaii của tác giả Tomoharu Makabe, Đế chế kawaii: thời trang, truyền thông đa phương tiện và những cô gái của tác giả Reiko Koga, Cuộc cách mạng kawaii thế giới: Vì sao họ muốn trở thành người Nhật? của tác giả Takamasa Sakurai, một thành viên của Ủy ban cố vấn ngoại giao văn hóa của Bộ ngoại giao. Koga cho rằng nguồn gốc của kawaii là từ văn hóa thiếu nữ (shoujo), “thứ được hình thành vào cuối thời Minh Trị (Meiji) và kéo dài đến đầu thời Đại Chính (Taisho)” [144, 7].
Koga đã nhấn mạnh quan điểm của mình thông qua những phân tích lịch đại về kawaii từ khi bắt đầu đến hôm nay, chạm vào khía cạnh truyền thông đa phương tiện. “Văn hóa thiếu nữ”, theo Koga, gắn liền với các khái niệm 清 く[Kiyoko], 正しく[Tadashiku], 美しく[Utsukusiku], nghĩa là Trong khiết (Purity), Chân thành (Honesty) và Đẹp (Beauty) sau Thế chiến thứ II. Năm 2010, trong cuốn Tương lai của sức mạnh sáng tạo Nhật Bản: Những khả dĩ của Nhật Bản học (Hiroki Azuma) có một công trình của một nhà xã hội học là Shinji Miyadai (1959) với tựa đề Bản chất của kawaii [かわいいの本質] [The Essence of kawaii]. Shinji Miyadai cho rằng, khái niệm kawaii đã được sử dụng trong lĩnh vực truyền thông đa phương tiện ở Nhật Bản từ năm 1963.
Ở Nhật, kiểu văn hóa non nớt, chưa trưởng thành vẫn tồn tại bất chấp nỗi ám ảnh về sự trưởng thành và những quy tắc sống. Có thể hiểu đơn giản đó là sự bắt chước, vì đôi khi con người đã trưởng thành (về tuổi tác) nhưng cứ muốn mãi như trẻ thơ, như là cách để đối mặt với những khó khăn, biến cố, bất an trong cuộc sống. Những đặc tính của kawaii được thể hiện rõ nhất khi con người không có ước mơ, chỉ cần sống cho hiện tại. Bằng cách nói ẩn dụ, Miyadai cho rằng “đặc tính của kawaii – sự non nớt, giống như một cái kén tằm, là nơi trú ngụ an toàn cho việc “phải trưởng thành” trước những tác động mạnh mẽ từ quá trình Tây hóa và hiện đại hóa” [144, 11].
Miyadai tiếp tục quan điểm của mình rằng những tác dụng này không chỉ diễn ra ở Nhật mà còn lan tỏa vào bất cứ nơi nào trên thế giới nơi mà con người không thể đạt được những ước mơ. Số người rơi vào những tình huống tồi tệ bởi toàn cầu hóa ngày càng tăng cũng làm tăng số lượng những người sẽ được bảo vệ bởi văn hóa đại chúng Nhật Bản. 13 Năm 2012, trong cuộc triển lãm về kawaii, Viện Bảo tàng Yayoi đã ra mắt quyển sách Tham khảo minh họa về kawaii Nhật Bản được viết bởi Keiko Nakamura. Tác giả đã chỉ ra rằng, “mèo Hello Kitty được xem là biểu trưng cho tính cách kawaii, ngày càng trở nên rộng khắp thế giới, thông qua tiêu thụ hàng hóa” [144, 8].
Trong công trình nghiên cứu Kawaii như là một đại diện của nghiên cứu khoa học: Những khả dĩ của việc nghiên cứu văn hóa kawaii năm 2013, tác giả Kyoko Koma đã phân tích những bàn luận về kawaii, xem nó tương đương với khái niệm cute của tiếng Anh, là một trong những yếu tố quan trọng của văn hóa đại chúng Nhật Bản đương đại, đã lan tỏa ra khắp thế giới và trở thành một kiểu văn hóa xuyên quốc gia. Tác giả cũng đã phác họa những định hướng nghiên cứu xa hơn về văn hóa đại chúng Nhật Bản đương đại, đặc biệt là văn hóa kawaii và những sự liên quan của nó với kỉ nguyên thông tin toàn cầu và xuyên quốc gia này. Tuy công trình này chỉ nhìn về kawaii ở phương diện văn hóa, chưa gắn nó vào lĩnh vực cụ thể như văn học nhưng đã giúp cho người nghiên cứu về kawaii xác tín được đối tượng mình đang hướng tới là phù hợp với xu thế đáng được quan tâm của văn học hiện đại. Mayako Murai thuộc Đại học Kawanaga, Nhật Bản, trong công trình năm 2015 với nhan đề Từ Chàng rể Chó đến Cô gái Sói: Sự chuyển thể truyện cổ tích Nhật Bản đương đại trong cuộc trò chuyện với phương Tây (NXB.
Wayne State University Press, Detroit, Michigan) có viết: “Từ những năm 70, quan niệm dễ thương (kawaii) ở đất nước này đã trở nên quá phổ biến và lan rộng trên toàn thế giới như một nét tiêu biểu của bản sắc Nhật, ngày càng được thương mại hóa và phát triển trong nước. Nhà xã hội học Sharon Kinsella định nghĩa kawaii như sau: kawaii hoặc cute về bản chất nghĩa là giống trẻ con. Kawaii là tiếng nói của sự ngọt ngào, đáng yêu, ngây ngô, trong sáng, thật thà, êm dịu nhưng cũng rất mong manh, yếu đuối, những đặc điểm dễ dàng bắt gặp ở hành vi xã hội từng trải và vẻ bề ngoài. Còn quan niệm hirahira, mang dáng dấp nữ quyền và có lẽ quá gần với kawaii, trong một số trường hợp có thể khoét sâu định kiến phương Tây về người phụ nữ và sự trẻ con trong bản sắc văn hóa Nhật Bản” [144, 10].
Những nghiên cứu về kawaii ngoài Nhật Bản Những công trình nghiên cứu của các học giả nước ngoài về kawaii như một phạm trù thẩm mĩ Nhật Bản có thể kể đến công trình của Botz-Bornstein The Cool Kawaii, xuất bản năm 2011. Botz-Bornsteins đã chỉ ra hai loại thẩm mĩ tác động đến văn hóa giới trẻ thế giới. Tác giả cho rằng, gần đây, kawaii là một trong hai loại thẩm mĩ thống trị văn hóa của những người trẻ trên thế giới, hơn là thẩm mĩ cool của văn hóa Mĩ, Phi như hip-hop. Theo Botz-Bornstein, “trong khi người Âu – Mĩ phân biệt hai khái niệm cool và kawaii rất rõ ràng: cool có thiên tính nam, lạnh lùng và ngầu, phân tán cảm xúc còn kawaii thì có thiên tính nữ, gắn liền với thời thơ ấu và những gì thuần nguyên, sơ khai, tập trung thể hiện tình cảm, cảm xúc.
Tuy nhiên ở Nhật lại không như vậy. Khái niệm cuteness (kawaii) và coolness không tách bạch quá rõ. Chúng tương tác với nhau phức tạp và trong tính chất này có tính chất kia.