CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan nghiên cứu Có rất nhiều các yếu tố khác nhau tác động đến việc phát triển của các DNN&V, một trong những yếu tố được nhắc đến khi nghiên cứu đến sự phát triển của loại hình doanh nghiệp này chính là tác động của nguồn tín dụng của các tổ chức tín dụng, các ngân hàng. Các nghiên cứu được thực hiện khai thác những khía cạnh, những mảng vấn đề khác nhau của tín dụng, của sự phát triển DNN&V… Cụ thể: 1. Tổng quan một số nghiên cứu về vai trò hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại cổ phần đối với việc phát triển DNN&V Có sự thống nhất tương đối lớn trong các nghiên cứu liên quan đến hoạt động cho vay của các ngân hàng thương mại khi sử dụng cụm từ: “cho vay” như nghiên cứu của Võ Đức Toàn (2012), Nguyễn Thị Mùi (2006)… Cho vay được hiểu một cách chung nhất là sự chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị từ người sở hữu (NHTM) sang người sử dụng (người vay), sau một thời gian nhất định lại quay về với lượng giá trị lớn hơn lượng giá trị ban đầu.
Thực tế cho thấy, một tỷ trọng tương đối lớn trong các đối tượng khách hàng hướng đến nguồn tín dụng của các ngân hàng thương mại nói chung và các ngân hàng thương mại cổ phần nói riêng chiếm là các DNN&V; một số ngân hàng có bộ phận riêng phục vụ cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa, và các khoản vay tín dụng của các ngân hàng cho loại hình DNN&V này có vai trò vô cùng quan trọng với sự phát triển của các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Trong nghiên cứu của Sophie Brana và cộng sự (1999) với việc sử dụng dữ liệu từ điều tra 420 DNN&V đang hoạt động tại Nga cùng những dữ liệu thứ cấp trong cuộc điều tra thường niên của thời báo Kinh tế Nga (REB) cho thấy, nguồn vốn vay của các ngân hàng tác động tích cực đến hoạt động của các DNN&V của Nga, kể cả về quy mô hoạt động sản xuất kinh doanh và lợi nhuận thực tế của các doanh nghiệp. Không dừng ở đó, nghiên cứu này còn phân tích mức độ tác động của nguồn vốn vay đối với sự phát triển của các doanh nghiệp, đồng thời cũng đã dự báo nhu cầu vốn vay của các doanh nghiệp trong các điều kiện cụ thể. Nghiên cứu của Commander và cộng sự (1993) đã sử dụng dữ liệu được khảo sát từ 41 doanh nghiệp đang hoạt động tại Moscow để phân tích những ứng phó mà doanh nghiệp sẽ thực hiện khi đối mặt với những thay đổi về môi trường kinh tế.
Các chỉ số được sử dụng chủ yếu như sự thay đổi trong sản lượng hay việc làm là thang đo 6 cho đầu ra của sự phát triển của các doanh nghiệp, có mối liên hệ tương quan với các chỉ số tài chính như tình hình lợi nhuận, các nguồn lực tài chính của doanh nghiệp. Nghiên cứu của các nhóm tác giả cũng xem xét mối quan hệ giữa sự phát triển của doanh nghiệp với khoản cho vay của các ngân hàng, đã chỉ ra sự phát triển của các doanh nghiệp hay bản thân chiến lược phát triển của các ngân hàng phụ thuộc khá lớn vào cách thức sử dụng của các khoản tín dụng này đối với cả hai nhóm đối tượng. Đồng thời, trong nghiên cứu nhóm tác giả cũng xây dựng mô hình dự đoán nhu cầu vốn tín dụng của các doanh nghiệp cho sự phát triển của doanh nghiệp này khi đối mặt với các khó khăn hay cú sốc của thị trường, hay đối mặt với những kế hoạch, dự án hoạt động của doanh nghiệp. Trong nghiên cứu của Kazuo Ogawa và cộng sự (2011), nhóm nghiên cứu đã xác định vai trò của các khoản vốn vay và các khoản tín dụng thương mại với sự phát triển của các doanh nghiệp đặc biệt là các DNN&V.
Nghiên cứu này cũng cho thấy, dường như các doanh nghiệp nhỏ và vừa có xu hướng ngày càng quan tâm hơn đến khoản tín dụng thương mại do những lợi ích thực tế mà nó mang lại. Từ những năm 1960, Meltzer đã lần đầu tiên nhấn mạnh về vai trò tái phân phối của tín dụng thương mại với các DNN&V. Tác giả đưa ra giả thuyết rằng khi các doanh nghiệp dễ dàng tiếp cận tín dụng từ các ngân hàng thì có thể tăng tín dụng thương mại một cách dễ dàng hơn so với những doanh nghiệp bị hạn chế trong thị trường cho vay ngân hàng. Nói chung, các doanh nghiệp dễ dàng tiếp cận tín dụng ngân hàng là các doanh nghiệp lớn, và bị hạn chế trong thị trường cho vay ngân hàng là các doanh nghiệp nhỏ.
Jaffe (1971), Ramey (1992) và Nilsen (2002) đưa ra bằng chứng tương tự hỗ trợ quan điểm tái phân phối từ chuỗi dữ liệu thời gian, với những thuận lợi, khó khăn của các DNN&V nói riêng và các doanh nghiệp nói chung khi tiếp cận nguồn vốn tín dụng của các ngân hàng. Nghiên cứu của Petersen và Rajan (1997) đã lý giải tại sao các công ty phi tài chính lại cung cấp tín dụng? Dữ liệu thực hiện nghiên cứu được dựa trên khảo sát quốc gia về tài chính của các doanh nghiệp nhỏ (NSSBF), mà các doanh nghiệp nhỏ này lại vấp phải sự hạn chế về khả năng tiếp cận vốn vay từ thị trường vốn. Kết quả nghiên cứu của nhóm tác giả cho thấy rằng, các công ty nhỏ được khảo sát có xu hướng sử dụng tín dụng thương mại nhiều hơn khi nguồn tín dụng từ các tổ chức tài chính khó tiếp cận (không có sẵn cho các doanh nghiệp nhỏ này). Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, việc sử dụng tín dụng thương mại thường xuyên có thể làm giảm chi phí giao dịch đặc biệt là với các khoản tín dụng thương mại ngắn hạn.
7 Nilsen (2002) mở rộng nghiên cứu Petersen và Rajan (1997) cho các công ty niêm yết và thấy rằng các công ty lớn thậm chí còn tăng nhu cầu đối với tín dụng thương mại trong thời kỳ chính sách thắt chặt tiền tệ nếu họ không có trái phiếu có giá. Trong bối cảnh thị trường thương phiếu, Calomiris và cộng sự (1995) chỉ ra ba kết luận, thứ nhất, thương phiếu tăng lên khi suy thoái bắt đầu do các công ty cần tài trợ cho việc gia tăng hàng tồn kho ngoài dự kiến. Thứ hai, các công ty có thể phát hành thương phiếu đóng vai trò trung gian cho các công ty khác (Các công ty bị hạn chế tín dụng). Cuối cùng, có thể là việc phát hành thương phiếu tăng lên trong thời kỳ suy thoái do nhu cầu tăng đối với tài sản an toàn, tài sản lưu động.
Một nghiên cứu khác của Love và cộng sự (2007) tập trung vào các vai trò tái phân phối của tín dụng thương mại dựa trên dữ liệu vi mô quốc tế. Họ đã chỉ ra rằng việc tái phân phối bị dừng lại trong suốt cuộc khủng hoảng tài chính khi tất cả nguồn tài chính sẵn có cho các công ty lớn đều hết. Sử dụng dữ liệu của doanh nghiệp hoạt động trong giai đoạn đồng peso 1994 mất giá tại Mexico và cuộc khủng hoảng châu Á năm 1997, họ thấy rằng các tài khoản phải thu giảm mạnh trong suốt thời kỳ hậu khủng hoảng. Họ kết luận rằng các công ty tiếp cận với các khoản vay ngân hàng buộc họ phải giảm cung cấp tín dụng thương mại cho các doanh nghiệp nhỏ.
Mc Millan và Woodruff (1999) sử dụng dữ liệu được khảo sát từ các doanh nghiệp Việt Nam có chứa chi tiết thông tin về các mối quan hệ giữa cá nhân các doanh nghiệp và khách hàng của họ. Với những dữ liệu thu thập được, nhóm nghiên cứu chỉ ra rằng, các khoản tín dụng nhận được từ các nhà cung cấp làm tăng đáng kể khả năng cấp tín dụng cho khách hàng (Cụ thể là các DNN&V) từ các tổ chức tín dụng. Tại Nhật Bản, những nghiên cứu về lĩnh vực này cũng nhận được sự quan tâm của các nhà nghiên cứu, Ono (2001) và Ogawa (2003) đã sử dụng dữ liệu chuỗi thời gian để xem xét mối quan hệ giữa các khoản phải trả với các nhân tố ảnh hưởng tới nó cụ thể là mức chênh lệch lãi suất giữa các ngân hàng cho vay với các khoản vay của các doanh nghiệp. Kết quả nghiên cứu cho thấy: chênh lệch lãi suất giữa các ngân hàng tác động tích cực tới các tài khoản phải trả, đồng thời tác giả cũng chỉ ra rằng tín dụng thương mại và các khoản vay ngân hàng là có thể thay thế.
Ogawa (2003) sử dụng mô hình hồi quy để giải thích các nhân tố ảnh hưởng tới tín dụng thương mại của các DNN&V, một trong những nhân tố được tác giả đề cập đến và có ảnh hưởng khá lớn với khoản tín dụng thương mại này là thái độ cho vay của các tổ chức tài chính, các ngân hàng thương mại, kết quả nghiên cứu cho thấy khi chiều hướng cho vay trở nên chặt chẽ hơn, khoản phải trả của các doanh nghiệp tăng đáng kể. Mặt khác, Taketa 8 và Udell (2006) đưa ra một số bằng chứng cho thấy tín dụng thương mại và tổ chức tài chính cho vay là yếu tố bổ sung lẫn nhau trong thời kỳ khủng hoảng tài chính. Nghiên cứu Takehiro và Ohkusa (1995) là nghiên cứu đầu tiên dựa trên các dữ liệu vi mô được thu thập từ các các công ty Nhật Bản. Sử dụng các dữ liệu của các công ty niêm yết hơn 26 năm (1967-1992), họ phát hiện thấy rằng khoản vay từ các tổ chức tài chính ngày càng tăng trong khi có sự thay đổi trong các khoản tín dụng thương mại.
Bằng chứng này cho thấy tín dụng ngân hàng và tín dụng thương mại là những hạng mục bổ sung chứ không phải là sản phẩm thay thế cho sự phát triển của các DNN&V. Uchida và cộng sự (2006) trong nghiên cứu của mình đã xác định mối quan hệ giữa các khoản vay của các DNN&V phục vụ cho mục đích phát triển các doanh nghiệp và ngân hàng thương mại tín dụng bằng cách sử dụng một biến để đại diện cho sức mạnh của các mối quan hệ người mua-người bán trong mối liên hệ giữa các khoản vay của ngân hàng với sự phát triển của doanh nghiệp. Kết quả của nghiên cứu ủng hộ quan điểm cho rằng các khoản tín dụng ngân hàng có tác động tích cực tới sự phát triển của các DNN&V. Các nghiên cứu khác dựa trên dữ liệu khảo sát các doanh nghiệp cũng ủng hộ các quan điểm về việc tái phân phối: Tsuruta (2008) nhận thấy rằng khi lãi suất vay ngân hàng tăng lên, khách hàng vay tăng tín dụng thương mại.