Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ Triết học với đề tài "Tư tưởng Hồ Chí Minh về động lực tinh thần trong sự phát triển xã hội Việt Nam" do nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Thúy Thanh thực hiện tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội vào năm 2014, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Hồ Trọng Hoài và PGS. Đoàn Thị Minh Oanh. Công trình thuộc chuyên ngành Chủ nghĩa duy vật biện chứng và Chủ nghĩa duy vật lịch sử, mã số 62 22 80 05.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Sự phát triển xã hội được thúc đẩy bởi hệ động lực gồm động lực vật chất và động lực tinh thần. Thực tiễn lịch sử cách mạng và xây dựng đất nước tại Việt Nam cho thấy hai xu hướng đối lập qua từng thời kỳ:
- Giai đoạn trước Đổi mới: Xã hội có biểu hiện tuyệt đối hóa yếu tố tinh thần, kích thích tính tích cực của người lao động chủ yếu bằng động viên tinh thần và lời kêu gọi lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội mà chưa chú trọng đúng mức đến lợi ích vật chất. Tư tưởng nóng vội, chủ quan muốn tiến nhanh lên chủ nghĩa xã hội và việc vận dụng chưa đúng quy luật khách quan đã dẫn tới tình trạng trì trệ, khủng hoảng kinh tế - xã hội vào cuối thập kỷ 70 và đầu thập kỷ 80 của thế kỷ XX.
- Giai đoạn sau gần 30 năm Đổi mới: Đất nước đạt được nhiều thành tựu và thoát khỏi khủng hoảng kinh tế, nhưng mặt trái của kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế lại làm nảy sinh xu hướng quá coi trọng giá trị vật chất và xem nhẹ giá trị tinh thần. Lối sống thực dụng xuất hiện; sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong một bộ phận cán bộ, đảng viên diễn biến nghiêm trọng; một bộ phận người dân phai nhạt niềm tin và lý tưởng. Cùng với đó, các thế lực thù địch đẩy mạnh chiến lược "diễn biến hòa bình" nhằm chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc. Những hiện tượng này tạo ra các phản giá trị tinh thần cản trở tiến trình phát triển.
Trong di sản tư tưởng Hồ Chí Minh, động lực tinh thần luôn được nhìn nhận trong mối quan hệ biện chứng thống nhất với động lực vật chất. Nhận thức đúng và vận dụng hệ thống quan điểm của Người về phát huy động lực tinh thần là đòi hỏi cấp thiết nhằm khắc phục những lệch lạc trên, củng cố nội lực cho sự phát triển bền vững của đất nước.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở lý luận mác-xít về động lực và động lực tinh thần, luận án làm rõ những nội dung chủ yếu của tư tưởng Hồ Chí Minh về động lực tinh thần trong sự phát triển xã hội và đề xuất các giải pháp nhằm phát huy các động lực đó ở Việt Nam hiện nay.
Nhiệm vụ nghiên cứu được xác định cụ thể gồm 3 nhiệm vụ:
- Nghiên cứu tổng quan lý luận về động lực tinh thần và vai trò của nó trong sự phát triển xã hội.
- Nghiên cứu nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về một số động lực tinh thần cơ bản trong sự phát triển xã hội Việt Nam.
- Đề xuất các giải pháp cơ bản nhằm phát huy động lực tinh thần ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Tư tưởng Hồ Chí Minh về động lực tinh thần trong sự phát triển xã hội và các phương thức phát huy động lực tinh thần.
- Phạm vi nghiên cứu: Luận án không nghiên cứu toàn bộ mọi khía cạnh phong phú của đời sống tinh thần mà tập trung đi sâu phân tích một số động lực tinh thần cơ bản (yêu nước gắn liền với chủ nghĩa xã hội, đại đoàn kết, dân chủ, giá trị đạo đức cách mạng, khoan dung) cùng các phương thức phát huy các động lực đó trong tư tưởng Hồ Chí Minh và thực tiễn vận dụng tại Việt Nam thời kỳ đổi mới.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Vấn đề động lực phát triển xã hội và tư tưởng Hồ Chí Minh về động lực đã được phân tích ở nhiều cấp độ nghiên cứu trước đây. Tác giả luận án phân chia thành các nhóm công trình tiêu biểu:
Các nghiên cứu lý luận chung về động lực và phát triển xã hội
- Lê Hữu Tầng (chủ biên), Về động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội (1997): Phân biệt ranh giới giữa nguồn gốc (hạt nhân bên trong gây nên sự vận động) và động lực (yếu tố thúc đẩy sự vận động); xác định hệ thống động lực tinh thần gồm công bằng xã hội, dân chủ (do Nguyễn Trọng Chuẩn phân tích), môi trường tâm lý - xã hội và niềm tin (do Phạm Thị Ngọc Trầm phân tích).
- Nguyễn Văn Huyên (chủ biên), Triết lý phát triển C.Lênin, Hồ Chí Minh (2000): Nghiên cứu phép biện chứng duy vật về nguyên lý phát triển, các điều kiện và chuẩn mực của sự phát triển xã hội.
- Hồ Bá Thâm, Động lực và tạo động lực phát triển xã hội (2004): Chỉ rõ động lực không chỉ thúc đẩy mà còn duy trì sự vận động; phân tích động lực đại đoàn kết, dân chủ hóa, động lực con người và chỉ ra các lực cản phát triển (sự chống đối thù địch, tư tưởng tiểu sản xuất, quan liêu, cục bộ).
- Lê Du Phong (chủ biên), Nguồn lực và động lực phát triển trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam: Tiếp cận động lực tinh thần dưới góc độ thúc đẩy việc khai thác các nguồn lực phát triển kinh tế.
- Lê Thị Kim Chi, Nhu cầu: động lực và định hướng xã hội (2005): Luận giải cơ chế chuyển hóa từ nhu cầu khách quan thành lợi ích, động cơ và hành động; nêu các công cụ định hướng xã hội và nhu cầu cấp bách ở Việt Nam.
- Nguyễn Văn Huyên (chủ biên), Văn hóa mục tiêu và động lực của sự phát triển xã hội (2006): Khẳng định văn hóa là chỉnh thể toàn vẹn, là linh hồn và sức mạnh nội sinh thúc đẩy xã hội tiến bộ.
- Đinh Xuân Lý (chủ biên), Đảng lãnh đạo phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội thời kỳ đổi mới (2009) và Hoàng Chí Bảo (chủ biên), Luận cứ và giải pháp phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội ở nước ta thời kỳ đổi mới (2010): Phân tích khái niệm phát triển xã hội theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp; kinh nghiệm quốc tế và hệ giải pháp bảo đảm hài hòa lợi ích do Phạm Xuân Nam đề xuất.
Các nghiên cứu về tư tưởng Hồ Chí Minh liên quan đến động lực
- Giáo trình tư tưởng Hồ Chí Minh (Hội đồng Trung ương chỉ đạo biên soạn Giáo trình quốc gia, 2003) và Giáo trình dành cho khối không chuyên (2010): Phân tích luận điểm chủ nghĩa yêu nước là động lực lớn của đất nước, vai trò của động lực con người trên bình diện cá nhân và cộng đồng đại đoàn kết, sự kết hợp giữa nội lực và ngoại lực.
- Song Thành trong Hồ Chí Minh – nhà tư tưởng lỗi lạc (2005) và Hồ Chí Minh – nhà văn hóa kiệt xuất (2010): Phân tích hệ thống động lực cộng đồng, tư tưởng khoan dung văn hóa kết hợp giá trị phương Đông và phương Tây.
- Phạm Ngọc Anh (chủ biên), Triết lý phát triển Hồ Chí Minh: Làm rõ vai trò động lực của chủ nghĩa yêu nước gắn với phong trào thi đua yêu nước và chiến lược "trồng người".
- Bùi Đình Phong, Triết lý Hồ Chí Minh về phát triển Việt Nam (2010): Khẳng định mục tiêu độc lập - tự do - hạnh phúc là triết lý phát triển xuyên suốt.
- Trần Văn Giàu, Hồ Chí Minh vĩ đại một con người (2010): Khẳng định khối liên minh công - nông là nòng cốt của động lực cách mạng.
- Phạm Văn Bính (chủ biên), Phương pháp dân chủ Hồ Chí Minh (2008); Hoàng Chí Bảo, Văn hóa đạo đức Hồ Chí Minh (2007).
- Các bài báo chuyên ngành: Hồ Trọng Hoài (2003, 2005, 2006) về khoan dung tôn giáo, khoan dung đạo đức và dân chủ; Đoàn Thị Minh Oanh (2012) về nâng cao đạo đức cách mạng, dân chủ nông thôn và kiểm soát quyền lực nhà nước; Lê Văn Tích (2013) về phát huy chủ nghĩa yêu nước; Phạm Ngọc Anh (2011, 2012); Trần Nhâm (2011).
| Nhóm nghiên cứu |
Đại diện tiêu biểu |
Trọng tâm phân tích |
Khoảng trống để lại |
| Lý luận chung về động lực và phát triển xã hội |
Lê Hữu Tầng (1997), Hồ Bá Thâm (2004), Lê Thị Kim Chi (2005), Hoàng Chí Bảo (2010) |
Khái niệm nguồn gốc, động lực, nhu cầu, văn hóa, cấu trúc quản lý xã hội |
Chưa đi sâu làm rõ bản chất chuyên biệt của động lực tinh thần và cơ chế vận hành độc lập |
| Tư tưởng Hồ Chí Minh về động lực cách mạng |
Song Thành (2005), Phạm Ngọc Anh (2011), Trần Văn Giàu (2010), Bùi Đình Phong (2010) |
Động lực con người, khối liên minh công nông, mục tiêu độc lập - tự do - hạnh phúc |
Khảo cứu ở tầm khái quát chung hoặc tập trung vào động lực kinh tế, vật chất |
| Tư tưởng Hồ Chí Minh về các yếu tố tinh thần riêng lẻ |
Hoàng Chí Bảo (2007), Phạm Văn Bính (2008), Hồ Trọng Hoài (2003, 2005) |
Văn hóa đạo đức, phương pháp dân chủ, văn hóa khoan dung, kiểm soát quyền lực |
Tiếp cận các nhân tố đạo đức, dân chủ, khoan dung thành từng mảng riêng biệt |
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết
Các công trình tiền nhiệm đã đề cập đến các nhân tố tinh thần như đạo đức, dân chủ, khoan dung, văn hóa nhưng chủ yếu xem xét chúng như những phạm trù độc lập hoặc nghiên cứu động lực phát triển xã hội nói chung. Chưa có công trình nào nghiên cứu một cách có hệ thống, toàn diện và chuyên sâu về "động lực tinh thần" trong tư tưởng Hồ Chí Minh, làm rõ cấu trúc, cơ chế tác động, phương thức phát huy và xây dựng hệ thống giải pháp vận dụng trực tiếp vào bối cảnh phát triển của Việt Nam hiện nay.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết
- Luận án dựa trên nền tảng thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin: các nguyên lý duy vật biện chứng và duy vật lịch sử về hình thái kinh tế - xã hội, vai trò quyết định của tồn tại xã hội đối với ý thức xã hội, tính độc lập tương đối và sự tác động trở lại của ý thức xã hội đối với tồn tại xã hội.
- Hệ thống quan điểm, tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội.
- Các nghị quyết, văn kiện, đường lối, chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam thời kỳ đổi mới.
Phương pháp nghiên cứu
Luận án áp dụng phương pháp nghiên cứu định tính thuần túy của khoa học triết học:
- Phương pháp phân tích văn bản: Khảo sát, trích dẫn, bóc tách câu chữ trong các tác phẩm, bài nói, bài viết của C. Mác, Ph. Ăngghen, V.I. Lênin và Chủ tịch Hồ Chí Minh.
- Phương pháp kết hợp lịch sử và logic: Tái hiện sự hình thành quan điểm của Hồ Chí Minh trong tiến trình lịch sử cách mạng, từ đó khái quát thành hệ thống luận điểm lý luận chặt chẽ.
- Phương pháp so sánh, đối chiếu, chứng minh: Đặt các quan niệm triết học cạnh nhau để phân định rõ nội hàm các khái niệm (nguồn gốc với động lực, công bằng với bình đẳng, nghĩa rộng với nghĩa hẹp của xã hội).
- Kết hợp nghiên cứu lý luận với tổng kết thực tiễn: Khảo cứu tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ giới hạn qua tác phẩm lý luận mà đặt trong chỉnh thể hoạt động thực tiễn cách mạng của Người và sự chỉ đạo của Đảng.
Nguồn tư liệu và dữ liệu
- Các trước tác kinh điển của C. Mác, Ph. Ăngghen, V.I. Lênin (Tư bản, Biện chứng của tự nhiên, Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của Nhà nước...).
- Bộ sách Hồ Chí Minh Toàn tập.
- Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc và các Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (trong đó có Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI).
- Báo cáo phát triển của Ngân hàng Thế giới (năm 1992), tài liệu Hội nghị Thượng đỉnh Copenhagen về phát triển xã hội (năm 1995), các từ điển chuyên ngành và các công trình sách báo, tạp chí triết học đã xuất bản.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Động lực tinh thần và quan niệm của Hồ Chí Minh về động lực tinh thần trong sự phát triển xã hội
Chương 1 xây dựng khung lý luận từ các khái niệm cơ bản đến quan niệm của Hồ Chí Minh:
-
Khái niệm xã hội và phát triển xã hội:
Tác giả khảo sát các quan niệm xã hội học (Anthony Giddens xem xã hội là nhóm người cùng lãnh thổ, chịu một quyền lực chính trị và có ý thức bản sắc; Ian Robertson xem xã hội là tập hợp dân cư cùng lãnh thổ, hệ thống chính trị và văn hóa chung; GS. Tô Duy Hợp xem xã hội là hệ thống các thành viên, quan hệ và hoạt động). Theo chủ nghĩa Mác - Lênin, xã hội là mối liên hệ hiện thực giữa người với người được xác lập trước hết trong lao động sản xuất. Luận án tiếp cận khái niệm xã hội theo nghĩa rộng: là một hệ thống cấu trúc - chỉnh thể bao gồm đời sống kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội; thiết chế quản lý nhà nước; chế độ xã hội và ý thức hệ của lực lượng lãnh đạo.
Từ đó, luận án xác định: Phát triển xã hội theo nghĩa rộng là sự phát triển của cá nhân và cộng đồng trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, đảm bảo cuộc sống ổn định và chất lượng cuộc sống được nâng cao, thúc đẩy hình thái kinh tế - xã hội vận động theo hướng tiến bộ.
-
Khái niệm động lực và động lực tinh thần:
Dựa trên phân tích của GS. Lê Hữu Tầng, luận án chỉ rõ sự khác biệt giữa "nguồn gốc" và "động lực": nguồn gốc là mâu thuẫn bên trong gây nên sự vận động, còn động lực là cái thúc đẩy sự vận động đó. Khái niệm động lực rộng hơn nguồn gốc, bao gồm nguồn gốc với tư cách là hạt nhân cùng các yếu tố khác làm gia tăng tác động của nguồn gốc.
Động lực tinh thần được định nghĩa là các nhân tố, giá trị tinh thần (thuộc phạm trù ý thức xã hội) có khả năng kích thích, thúc đẩy các chủ thể xã hội hành động tích cực vì mục tiêu tiến bộ xã hội.
-
Quan niệm của Hồ Chí Minh:
Hồ Chí Minh nhìn nhận phát triển xã hội là một quá trình toàn diện nhằm hiện thực hóa mục tiêu độc lập dân tộc, tự do cho nhân dân và hạnh phúc con người. Người luôn gắn kết động lực tinh thần với động lực vật chất, không tách rời thực tiễn đời sống. Tinh thần chỉ trở thành động lực cách mạng mạnh mẽ khi gắn liền với việc chăm lo quyền lợi vật chất thiết thân của nhân dân (ruộng đất, cơm áo, việc làm).
Chương 2: Một số động lực tinh thần chủ yếu và phương thức phát huy động lực tinh thần theo tư tưởng Hồ Chí Minh
Chương 2 làm rõ nội dung 5 động lực tinh thần cốt lõi và 5 phương thức phát huy trong di sản tư tưởng của Người:
Chương 3: Phát huy động lực tinh thần theo tư tưởng Hồ Chí Minh ở Việt Nam hiện nay - vấn đề và giải pháp
Chương 3 khảo sát thực trạng bối cảnh hiện nay và đề xuất 5 nhóm giải pháp:
-
Thực trạng và vấn đề đặt ra:
Bên cạnh lòng yêu nước và tinh thần tự hào dân tộc vẫn được duy trì, thực tiễn nảy sinh nhiều xung đột giá trị: chủ nghĩa cá nhân phát triển, đạo đức xuống cấp, tình trạng quan liêu tham nhũng làm suy giảm niềm tin vào thể chế; việc thực hành dân chủ cơ sở còn hình thức; các biểu hiện thiếu khoan dung và âm mưu "diễn biến hòa bình" tác động xấu tới khối đại đoàn kết.
-
Hệ thống 5 giải pháp cơ bản:
- Nâng cao nhận thức cho nhân dân về vai trò của động lực tinh thần trong sự phát triển xã hội: Tuyên truyền, giáo dục chính trị, bồi dưỡng lý tưởng cách mạng, khơi dậy tinh thần tự lực tự cường.
- Hoàn thiện thể chế xã hội nhằm phát huy vai trò các động lực tinh thần: Thể chế hóa quyền làm chủ của nhân dân, hoàn thiện hệ thống luật pháp, chính sách xã hội bảo đảm công bằng và minh bạch.
- Nâng cao năng lực và sức chiến đấu của Đảng trong việc phát huy động lực tinh thần: Thực hiện nghiêm túc Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI, làm trong sạch bộ máy, củng cố mối liên hệ máu thịt giữa Đảng và nhân dân.
- Nêu gương người tốt, việc tốt: Đẩy mạnh học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh; dùng người thật, việc thật để giáo dục, lan tỏa lối sống lành mạnh.
- Đấu tranh chống âm mưu diễn biến tư tưởng của các thế lực thù địch: Chủ động phòng ngừa, phản bác các quan điểm sai trái, ngăn chặn sự suy thoái tư tưởng và các phản giá trị tinh thần du nhập.
| Chương |
Tên chương trong văn bản |
Luận điểm và nội dung cốt lõi |
| Chương 1 |
Động lực tinh thần và quan niệm của Hồ Chí Minh về động lực tinh thần trong sự phát triển xã hội |
Xác định khái niệm xã hội nghĩa rộng; phân định ranh giới nguồn gốc và động lực; định nghĩa động lực tinh thần; chỉ ra tính biện chứng giữa tinh thần và vật chất trong tư tưởng Hồ Chí Minh. |
| Chương 2 |
Một số động lực tinh thần chủ yếu và phương thức phát huy động lực tinh thần theo tư tưởng Hồ Chí Minh |
Phân tích 5 động lực tinh thần (yêu nước - CNXH, đại đoàn kết, dân chủ, đạo đức, khoan dung) và hệ thống 5 phương thức kích hoạt các động lực đó. |
| Chương 3 |
Phát huy động lực tinh thần theo tư tưởng Hồ Chí Minh ở Việt Nam hiện nay - vấn đề và giải pháp |
Đánh giá mâu thuẫn giữa mặt tích cực và tiêu cực trong kinh tế thị trường; đề xuất hệ thống 5 nhóm giải pháp toàn diện từ nhận thức, thể chế đến xây dựng Đảng. |
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận
- Luận án góp phần làm rõ lý luận chung về khái niệm động lực, động lực phát triển xã hội và động lực tinh thần; chỉ ra vị trí của động lực tinh thần với tư cách là một hệ thống các giá trị ý thức xã hội tích cực tác động trở lại tồn tại xã hội.
- Phân tích một cách có hệ thống quan niệm của Hồ Chí Minh về động lực tinh thần trong sự phát triển xã hội Việt Nam, chứng minh tư tưởng của Người không tách rời tinh thần khỏi vật chất mà luôn kết hợp hài hòa lợi ích vật chất với sự động viên tinh thần.
- Khái quát hóa được 5 động lực tinh thần cốt lõi và 5 phương thức phát huy mang tính đặc thù trong di sản tư tưởng Hồ Chí Minh.
Đóng góp về mặt thực tiễn
- Nhận diện đúng đắn những mặt trái của nền kinh tế thị trường và quá trình hội nhập quốc tế đối với đời sống tinh thần của xã hội Việt Nam đương đại (suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, lối sống thực dụng, phai nhạt niềm tin).
- Đề xuất hệ thống 5 nhóm giải pháp cơ bản, có cơ sở lý luận và tính khả thi nhằm phát huy hiệu quả các động lực tinh thần, ngăn chặn các phản giá trị tinh thần và âm mưu "diễn biến hòa bình", phục vụ công cuộc phát triển đất nước trong giai đoạn hiện nay.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Luận án giới hạn phạm vi nghiên cứu vào 5 động lực tinh thần cơ bản (yêu nước gắn liền với chủ nghĩa xã hội, đại đoàn kết, dân chủ, đạo đức, khoan dung) và các phương thức phát huy chủ yếu. Luận án chưa thể bao quát toàn bộ mọi khía cạnh đa dạng khác của đời sống văn hóa - tinh thần (như văn hóa nghệ thuật, tâm lý học dân tộc chuyên sâu, các nhân tố tinh thần trong quản lý kinh tế vi mô).
- Hướng nghiên cứu tiếp:
- Đi sâu nghiên cứu từng động lực tinh thần cụ thể (như văn hóa khoan dung hoặc cơ chế kiểm soát quyền lực để thực thi dân chủ) gắn với từng giai tầng xã hội cụ thể.
- Nghiên cứu mô hình thể chế hóa tư tưởng Hồ Chí Minh về động lực tinh thần trong hệ thống chính sách, pháp luật của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo chuyên khảo hữu ích cho các nhóm đối tượng cụ thể:
- Cơ quan quản lý và hoạch định chính sách: Cung cấp luận cứ triết học để xây dựng chính sách văn hóa, tư tưởng, hoàn thiện thể chế quản lý xã hội, giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và tiến bộ, công bằng xã hội.
- Giảng viên và nhà nghiên cứu: Dùng làm tài liệu tham khảo phục vụ giảng dạy các chuyên đề Triết học Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, Lịch sử tư tưởng Việt Nam và Xã hội học.
- Học viên cao học và nghiên cứu sinh: Cung cấp phương pháp tiếp cận văn bản học kết hợp logic - lịch sử trong nghiên cứu các vấn đề lý luận chính trị - xã hội.
- Nội dung tham khảo nổi bật: Mục phân biệt ranh giới giữa nguồn gốc và động lực (Chương 1); hệ thống 5 phương thức phát huy động lực tinh thần (Chương 2); nhóm giải pháp về tự phê bình, phê bình và nêu gương gắn với Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI (Chương 3).
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án phân biệt khái niệm "nguồn gốc của sự phát triển" và "động lực của sự phát triển" như thế nào?
Dựa trên quan điểm của GS. Lê Hữu Tầng, luận án chỉ rõ nguồn gốc là cái gây nên sự vận động và phát triển (chính là các mâu thuẫn bên trong sự vật), còn động lực là cái thúc đẩy sự vận động và phát triển ấy. Khái niệm động lực rộng hơn khái niệm nguồn gốc, bao gồm nguồn gốc với tính cách là hạt nhân cùng với các yếu tố khác mà thông qua đó tác dụng của nguồn gốc được tăng cường thêm.
2. Năm động lực tinh thần chủ yếu trong tư tưởng Hồ Chí Minh được luận án xác định là những động lực nào?
Luận án xác định 5 động lực tinh thần chủ yếu tại Chương 2 gồm: (1) Lòng yêu nước và yêu chủ nghĩa xã hội; (2) Tư tưởng đại đoàn kết; (3) Tư tưởng dân chủ; (4) Các giá trị đạo đức của người cách mạng; (5) Tư tưởng khoan dung.
3. Khuyết tật trong việc phát huy động lực ở Việt Nam trước thời kỳ Đổi mới là gì?
Giai đoạn trước Đổi mới, chúng ta đã quá đề cao yếu tố tinh thần, tuyệt đối hóa tinh thần mà không đặt trong mối quan hệ với vật chất; kích thích tính tích cực của người lao động chỉ bằng sự động viên tinh thần và lời kêu gọi chung chung, chưa quan tâm đúng mức đến lợi ích vật chất của người lao động. Điều này dẫn đến sự suy giảm động lực lao động và khủng hoảng kinh tế - xã hội cuối thập kỷ 70 đầu thập kỷ 80 của thế kỷ XX.
4. Luận án đề xuất những phương thức nào để phát huy động lực tinh thần theo tư tưởng Hồ Chí Minh?
Tại Chương 2, luận án chỉ rõ 5 phương thức: (1) Thông qua hoạt động của các chủ thể cách mạng; (2) Thông qua việc xây dựng và hoàn thiện thể chế xã hội; (3) Thông qua việc nêu gương người cán bộ cách mạng và vai trò tiền phong của Đảng; (4) Đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước, khơi dậy lòng tự hào, tự tôn dân tộc, danh dự, tính tích cực của công dân; (5) Thông qua phương thức tự phê bình và phê bình.
5. Luận án tiếp cận khái niệm "xã hội" theo nghĩa rộng hay nghĩa hẹp?
Luận án tiếp cận khái niệm xã hội theo nghĩa rộng: xã hội là một hệ thống cấu trúc - chỉnh thể bao gồm đời sống xã hội trên 4 mặt (kinh tế, chính trị, văn hóa và xã hội); tổ chức thiết chế quản lý mà trụ cột là nhà nước; chế độ xã hội với vai trò của ý thức hệ và lực lượng lãnh đạo xã hội (Đảng cầm quyền).
Kết luận
Luận án tiến sĩ của Nguyễn Thị Thúy Thanh đã phân tích một cách có hệ thống lý luận mác-xít và tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của động lực tinh thần trong tiến trình phát triển xã hội Việt Nam. Tác giả đã làm rõ cấu trúc gồm 5 động lực tinh thần cơ bản, 5 phương thức kích hoạt và đề xuất hệ thống 5 nhóm giải pháp khắc phục sự suy thoái tư tưởng đạo đức trong nền kinh tế thị trường hiện nay. Công trình là sự kết hợp chặt chẽ giữa nghiên cứu trước tác lý luận và tổng kết thực tiễn cách mạng, khẳng định sự cần thiết phải gắn kết hài hòa động lực tinh thần với động lực vật chất để thúc đẩy xã hội phát triển bền vững. Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn cao cho công tác nghiên cứu triết học, giảng dạy lý luận chính trị và hoạch định chính sách xã hội ở nước ta.