phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận án gồm 4 chương và 16 tiết. 5 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN Đ N ĐỀ TÀI LU N ÁN 1. Các công trình nghiên cứu về trí thức và vai trò của trí thức 1. Về trí thức Có rất nhiều công trình trong và ngoài nước bàn đến khái niệm trí thức.
Từ góc độ tiếp cận của mình, các tác giả nhấn mạnh đến một số tiêu chí đặc trưng nào đó. Thông thường, trình độ học vấn là một tiêu chí quan trọng, có nhiều tác giả khi bàn về trí thức đều coi đây là tiêu chí bắt buộc. Tác giả Đỗ Mười trong cuốn Trí thức Việt Nam trong sự nghiệp đổi mới xây dựng đất nước, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995 cho rằng đội ngũ trí thức nước ta ngày càng đông đảo, được tạo thành từ gần 70 vạn người có trình độ đại học và trên đại học, là lực lượng đang và sẽ có nhiều đóng góp to lớn vào sự nghiệp CNH, HĐH đất nước. Theo tác giả, trí thức chính là các nhà khoa học trên tất cả các lĩnh vực, bao gồm các nhà nghiên cứu khoa học tự nhiên, các nhà nghiên cứu trong khoa học xã hội, các kiến trúc sư, công trình sư, bác sỹ, giáo viên… đang ngày càng khẳng định vai trò quan trọng của mình trong sự nghiệp đổi mới đất nước hiện nay [69; 236].
Đồng quan điểm, tác giả Ngô Huy Tiếp chủ biên cuốn Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với trí thức nước ta hiện nay, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2009 và tập thể tác giả Viện Khoa học giáo dục Việt Nam trong cuốn Kinh nghiệm của một số nước về phát triển giáo dục đào tạo khoa học và công nghệ gắn với xây dựng đội ngũ trí thức, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2008 cùng khẳng định trí thức phải đạt những chuẩn mực cơ bản như là dấu hiệu đặc trưng để nhận biết và phân biệt họ với các bộ phận khác trong xã hội. Đó là những người có một lượng kiến thức lớn, đồng thời có khả năng sáng tạo và là những người có đạo đức. Có nhiều cách tiếp cận trí thức khác nhau nhưng dù tiếp cận theo khía cạnh nào thì dấu hiệu nhận biết cơ bản là lao động trí tuệ có chuyên môn sâu và có học vấn cao. Tuy nhiên, theo các tác giả, đó không thể là tất cả các dấu hiệu cần thiết mà trí thức phải là những người vừa có trình độ học vấn, chuyên môn cao, có đạo đức, có khả năng lao động sáng tạo và phải có khả năng ứng dụng những tri thức khoa học góp phần quan trọng thúc đẩy mọi mặt của sự phát triển xã hội.
Gắn người trí thức với tiêu chí về phẩm chất đạo đức cũng là một hướng nghiên cứu khá phổ biến. Tác giả Phạm Tất Dong trong cuốn Định hướng phát triển 6 đội ngũ trí thức Việt Nam trong CNH, HĐH, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2001 cho rằng, để có thể được coi là trí thức thì cần phải thỏa mãn những tiêu chí, bao gồm tiêu chí về trình độ chuyên môn, năng lực cống hiến nhằm cải biến trong thực tiễn và có những phẩm chất đạo đức tốt đẹp. Vì vậy, việc nảy sinh những “nhân tài tiềm tàng” là bẩm sinh, vì nó gắn với di truyền học và sinh học, nhưng nếu thiếu nhân cách, không cống hiến trong thực tiễn xã hội thì cũng không phải là trí thức. Tác giả nhấn mạnh chỉ có trí thức chân chính mới được nhân dân ta thừa nhận, tôn trọng.
Sự khác nhau giữa trí thức chân chính và người có học vấn hoặc người nắm giữ tri thức khoa học, nghệ thuật nói chung là ở chỗ có giữ được “thiên chức” của người trí thức hay không. Người trí thức chân chính luôn hướng sự nghiệp của bản thân chủ yếu bằng lao động trí tuệ hoặc bằng tư duy sáng tạo mang tính cá thể và thường có cá tính. Thứ nữa, trong bối cảnh phát triển hiện nay, trí thức không chỉ là người có học vấn cao tương xứng với thời đại, mà là người bằng lao động trí tuệ sáng tạo của mình gắn nghề nghiệp hay sự nghiệp của mình với nhân dân, với dân tộc và với lý tưởng mà mình theo đuổi. Hay nói cách khác, người trí thức chân chính không thể thiếu nhân cách hướng thiện, hướng về nhân dân và dân tộc mình.
Sự kết hợp giữa hiểu biết và lương tri chính là tính trí thức - đó là tiêu chí căn bản để phân biệt giữa trí thức chân chính và trí thức không chân chính. Trong khi đó, một số tác giả khác lại nhấn mạnh đến tính sáng tạo như là đặc trưng gắn liền với người trí thức. Nguyễn Văn Sơn trong cuốn Trí thức giáo dục đại học Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2002 cho rằng, với điều kiện phát triển của lực lượng sản xuất xã hội hiện nay, chỉ những người đã qua đào tạo hoặc tự học mà đạt trình độ đại học hoặc tương đương mới có thể tiếp cận được kiểu lao động của người trí thức. Nhưng việc nhận biết người trí thức cần căn cứ vào việc đánh giá tính sáng tạo của họ trong quá trình lao động trí óc phức tạp, ở giá trị của những sản phẩm khoa học, và vì vậy, những người có bằng cấp cũng chưa phải là trí thức đúng nghĩa nếu trong thực tế lao động nghề nghiệp của họ không có yếu tố trí tuệ sáng tạo mà chỉ là một dạng lao động trí óc khác, là lao động trí óc giản đơn, thừa hành [76; 9].
Đồng quan điểm như vậy có tác giả Nguyễn Đắc Hưng trong hai cuốn Trí thức Việt Nam trước yêu cầu phát triển đất nước, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội (2005) và Trí thức Việt Nam bước vào thời kỳ hội nhập, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội (2009). Tác giả nhấn mạnh, “với cách hiểu như vậy thì những người tuy chưa có bằng cấp cao nhưng lao động bằng trí tuệ và có tính sáng tạo thì cũng có thể coi là 7 trí thức. Vì vậy, văn bằng chỉ là chứng nhận về mặt trình độ học vấn, còn để được công nhận là trí thức thì phải được xã hội kiểm định chất lượng thông qua lao động sáng tạo trong hoạt động thực tiễn” [47; 16 - 17]. Một số tác giả khác lại nhấn mạnh về trách nhiệm xã hội của người trí thức.
Tiêu biểu, tác giả Đặng Hữu trong bài Đội ngũ trí thức trong thời kỳ CNH, HĐH và phát triển kinh tế tri thức, Tạp chí Lý luận Chính trị, số 7 - 2008 cho rằng đặc điểm của trí thức không chỉ là có trình độ học vấn cao và có năng lực sáng tạo, mà quan trọng là có bản lĩnh, phẩm chất tốt đẹp, luôn đem tri thức phục vụ nhân dân, đấu tranh cho tiến bộ xã hội, hạnh phúc của nhân loại. Người trí thức hơn hết phải là người quan tâm và có chính kiến trước những vấn đề chính trị, xã hội nóng bỏng của thời cuộc. Bổn phận của người trí thức là trung thực với lương tâm mình, kiên trì lý tưởng được cống hiến cho xã hội, phục vụ Tổ quốc và cả nhân loại. Trong khi đó, một nhóm các tác giả khác lại nhấn mạnh đến tính độc lập sáng tạo của người trí thức.
Tác giả Trường Lưu trong bài Xây dựng và phát triển đội ngũ trí thức Việt Nam ngang tầm với yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn mới, Tạp chí Cộng sản, số 9 - 2008 cũng khẳng định: Trí thức là những người không chỉ có trình độ học vấn, chuyên môn cao, mà còn là những người quan tâm và có chính kiến trước những vấn đề chính trị - xã hội nóng bỏng của thời cuộc. Đặc điểm cơ bản của trí thức là lao động trí óc và có tính sáng tạo. Kiểu lao động trí óc và sáng tạo ấy đặt ra đòi hỏi cao về tính độc lập của người trí thức trong tư duy, vận dụng kiến thức và kinh nghiệm đã được tích lũy cũng như năng lực chuyên môn nghề nghiệp để tìm ra biện pháp tối ưu giải quyết công việc. Tương tự, tác giả Võ Văn Thắng trong bài viết Phát huy vai trò của đội ngũ trí thức trong thời kỳ CNH, HĐH và hội nhập quốc tế (Tạp chí Triết học, số 2 (261) - 2013) cho rằng, bằng cấp cao chỉ là một dấu hiệu, hơn nữa không phải là dấu hiệu bản chất của trí thức.
Trên thực tế, có những người không có bằng cấp cao nhưng do tư chất thông minh, lại chịu khó học hỏi nên có vốn kiến thức sâu rộng, có nhiều sáng tạo và được cộng đồng ghi nhận trong những lĩnh vực chuyên môn nhất định như là một trí thức. Và do vậy, một người có học vấn hay chuyên môn cao, cho dù là giáo sư, tiến sỹ chưa hẳn đã là nhà trí thức nếu họ là những kẻ thụ động tinh thần, chấp nhận một cách dễ dãi những gì được dạy, không chịu nỗ lực suy nghĩ chín chắn về những vấn đề xã hội, không có khả năng hình thành ý kiến độc lập với những gì được nhiều người công nhận. Và vì vậy, theo tác giả, cái căn cước của trí 8 thức không phải dựa vào vị trí công việc mà là thái độ, hành động và những giá trị mà họ tạo ra hoặc giữ gìn, dấn thân cho những mục tiêu cao cả của cộng đồng. Bên cạnh xu hướng nhấn mạnh đến một số tiêu chí nào đó, trên thực tế cũng có rất nhiều các công trình nghiên cứu cho rằng cần phải xác định và xây dựng cả một hệ tiêu chí thì mới có thể xác định được đúng đắn và biểu hiện được nội hàm đầy đủ của khái niệm này.
Tiêu biểu đầu tiên có thể kể đến quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam trong Nghị quyết Hội nghị Trung ương bảy, khóa X - 2008 về xây dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước. Đảng ta xác định: “Trí thức là những người lao động trí óc, có trình độ học vấn cao về lĩnh vực chuyên môn nhất định, có năng lực tư duy độc lập, sáng tạo, truyền bá và làm giàu tri thức, tạo ra những sản phẩm tinh thần và vật chất có giá trị đối với xã hội [31; 82]. Khái niệm trên đã bao quát những đặc trưng và tiêu chí cơ bản nhất của trí thức Việt Nam hiện nay nhưng lại chưa bao quát hết được các đối tượng trí thức cụ thể và những trường hợp ngoại lệ.