Tổng quan luận án
Đề tài luận án tiến sĩ triết học "Trí thức và vai trò của trí thức trong sự phát triển của Việt Nam hiện nay" do nghiên cứu sinh Lê Thị Sự thực hiện tại Học viện Khoa học xã hội - Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Nguyễn Viết Thông (bảo vệ năm 2018, chuyên ngành Chủ nghĩa duy vật biện chứng và Chủ nghĩa duy vật lịch sử, mã số: 92.002).
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Bối cảnh phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ từ những thập niên cuối thế kỷ XX đã đưa kinh tế nhân loại bước sang giai đoạn kinh tế tri thức, nơi động lực căn bản không còn là tài nguyên thiên nhiên hay các yếu tố vật chất truyền thống, mà là tri thức, kỹ năng, kinh nghiệm và nguồn lực con người chất lượng cao. Trong tiến trình đổi mới và hội nhập quốc tế toàn diện, Việt Nam đang đối mặt với ba "điểm nghẽn" phát triển lớn:
- Sự yếu kém về thể chế, chính sách.
- Kết cấu hạ tầng kém phát triển.
- Nguồn nhân lực có trình độ thấp.
Việc tháo gỡ cả ba điểm nghẽn này phụ thuộc căn bản vào nhân tố con người, trong đó đội ngũ trí thức giữ vai trò hạt nhân trung tâm và là lực lượng quyết định tốc độ cũng như định hướng phát triển quốc gia. Thực tiễn hơn 30 năm đổi mới cho thấy đội ngũ trí thức nước ta phát triển nhanh về số lượng, nhưng chưa thực sự phát huy tương xứng vai trò tiên phong; tình trạng lãng phí chất xám và những bất cập trong cơ chế quản lý, sử dụng, đãi ngộ còn diễn ra gay gắt. Khoảng trống nghiên cứu được luận án nhận diện là: các công trình trước đây chủ yếu dừng lại ở việc mô tả số lượng, cơ cấu hoặc phân tích chung chung về trí thức, thiếu sự xem xét toàn diện, mạch lạc về thực trạng thực hiện vai trò của trí thức trên từng lĩnh vực cụ thể gắn với bối cảnh phát triển mới.
Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở làm rõ khái niệm, tiêu chí nhận diện và vai trò của trí thức, luận án phân tích thực trạng phát triển cùng thực trạng phát huy vai trò của đội ngũ trí thức, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp cơ bản nhằm xây dựng và phát huy vai trò của đội ngũ trí thức đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước hiện nay.
- Nhiệm vụ nghiên cứu (4 nhiệm vụ):
- Tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài luận án.
- Làm rõ khái niệm trí thức, đặc điểm của trí thức Việt Nam và nội dung vai trò của trí thức trên các lĩnh vực của đời sống xã hội.
- Phân tích thực trạng phát triển đội ngũ trí thức và thực trạng việc thực hiện vai trò của trí thức, chỉ ra những thành tựu, hạn chế và các vấn đề cơ bản đặt ra.
- Đề xuất hệ thống giải pháp chủ yếu nhằm xây dựng và phát huy vai trò của đội ngũ trí thức Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Trí thức và vai trò của trí thức trong sự phát triển của Việt Nam hiện nay.
- Phạm vi nghiên cứu:
- Về nội dung và góc độ tiếp cận: Nghiên cứu đội ngũ trí thức dưới góc độ chính trị - xã hội từ hệ thống lý luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử.
- Về thời gian: Tập trung trong thời kỳ đổi mới đất nước, trọng tâm từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng (dấu mốc đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức) đến thời điểm thực hiện luận án (2018).
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã phân loại, tổng thuật và đánh giá có hệ thống các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước theo 4 hướng tiếp cận chính:
1. Các nghiên cứu về khái niệm và tiêu chí nhận diện trí thức
- Hướng tiếp cận nhấn mạnh tiêu chí học vấn và chuyên môn: Đỗ Mười (Trí thức Việt Nam trong sự nghiệp đổi mới xây dựng đất nước, 1995) nhìn nhận trí thức gắn liền với lực lượng có trình độ đại học và trên đại học (gần 70 vạn người ở thời điểm đó). Ngô Huy Tiếp (Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với trí thức nước ta hiện nay, 2009) và Viện Khoa học giáo dục Việt Nam (2008) xem dấu hiệu nhận biết cơ bản là lao động trí tuệ có chuyên môn sâu và học vấn cao kết hợp với khả năng ứng dụng tri thức.
- Hướng tiếp cận gắn trí thức với phẩm chất đạo đức và nhân cách: Phạm Tất Dong (Định hướng phát triển đội ngũ trí thức Việt Nam trong CNH, HĐH, 2001) khẳng định sự kết hợp giữa hiểu biết và lương tri là "tính trí thức" cốt lõi để phân biệt trí thức chân chính với người thuần túy có học vấn. Dimitri Likhaichev (Phẩm tính trí thức, bản dịch 2009) nhấn mạnh lương tri và sự đoan chính về nhận thức, tính độc lập trước các khế ước tư tưởng và ràng buộc quyền lực.
- Hướng tiếp cận nhấn mạnh tính sáng tạo và trách nhiệm xã hội: Nguyễn Văn Sơn (2002) phân biệt lao động trí tuệ sáng tạo với lao động trí óc giản đơn, mang tính thừa hành. Nguyễn Đắc Hưng (2005, 2009) cho rằng văn bằng chỉ là điều kiện hình thức, tư cách trí thức phải được xã hội kiểm định qua thực tiễn lao động sáng tạo. Đặng Hữu (2008), Trường Lưu (2008) và Võ Văn Thắng (2013) nhấn mạnh bản lĩnh chính trị, tư duy phê phán độc lập và tinh thần dấn thân trước các vấn đề nóng bỏng của thời cuộc.
- Hướng tiếp cận xây dựng hệ tiêu chí phức hợp: Đỗ Thị Thạch (1999), Phan Thanh Khôi (2003), Phan Trọng Thưởng (2008), Đàm Đức Vượng (Đề tài cấp Nhà nước, 2010), Đặng Quang Định (Quan hệ lợi ích kinh tế giữa công nhân, nông dân và trí thức ở Việt Nam hiện nay, 2010 với 6 thuộc tính cơ bản). Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam tại Nghị quyết Trung ương 7 khóa X (2008) đã định nghĩa trí thức dựa trên tổ hợp: lao động trí óc, trình độ học vấn cao, tư duy độc lập sáng tạo, khả năng truyền bá tri thức và tạo ra sản phẩm giá trị cho xã hội.
- Các nghiên cứu quốc tế: Alvin Toffler & Heidi Toffler (Tạo dựng một nền văn minh mới, bản dịch 1996) phác họa mẫu hình lao động tri thức trong làn sóng văn minh thứ ba. Peter F. Drucker (Những thách thức của quản lý trong thế kỷ XXI, 2003; Tinh hoa quản trị của Drucker, 2008) phân tích 6 nhân tố tác động đến năng suất của người lao động tri thức và coi giáo dục là thiết chế trung tâm của xã hội tri thức.
2. Các nghiên cứu về vai trò của trí thức
- Nguyễn Thanh Tuấn (Một số vấn đề về trí thức Việt Nam, 1995) phân chia vai trò trí thức theo ba lĩnh vực: sản xuất vật chất, sản xuất tinh thần và tái sản xuất con người.
- Phạm Tất Dong (2001) nhấn mạnh 3 vai trò: lực lượng sản xuất trực tiếp, sáng tạo văn hóa - giữ vững nền tảng tinh thần dân tộc, và lãnh đạo, quản lý điều hành đất nước.
- Nguyễn Đắc Hưng (2005, 2008) làm rõ vai trò của trí thức trong phát triển rút ngắn, xây dựng khối liên minh công - nông - trí và khơi dậy lòng tự hào dân tộc.
- Ngô Thị Phượng (2007) và Nguyễn An Ninh (2008) đi sâu vào vai trò đặc thù của trí thức khoa học xã hội và nhân văn trong phản biện, dự báo xã hội, cung cấp luận cứ nhân văn định hướng cho phát triển khoa học tự nhiên - kỹ thuật.
- Các học giả Trung Quốc như Thẩm Vinh Hoa, Ngô Quốc Diệu (1996) tổng kết tư tưởng Đặng Tiểu Bình về "tôn trọng trí thức, tôn trọng nhân tài là kế lớn trăm năm"; Triệu Vĩnh Hiền, Trương Hạo Hàm, Hoàng Duy (Nhân tài - Nguồn tài nguyên số 1, bản dịch 2013) xem nhân tài là nguồn tài nguyên quyết định tính tiên tiến của lực lượng sản xuất.
3. Các nghiên cứu về thực trạng và giải pháp phát huy vai trò trí thức
Các công trình của Nguyễn Văn Khánh (Đề tài KX.22/06-10), Đàm Đức Vượng (Đề tài KX.16/06-10), Nguyễn Quốc Bảo và Đoàn Thị Lịch (1998) đã khảo sát cơ cấu, số lượng, phương thức lãnh đạo của Đảng và đề xuất cơ chế khắc phục tình trạng "chảy máu chất xám", đổi mới chính sách đãi ngộ.
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết
- Khắc phục sự thiếu thống nhất và phiến diện trong việc xác định khái niệm bằng cách xây dựng hệ tiêu chí 5 đặc trưng hoàn chỉnh để nhận diện đội ngũ trí thức.
- Chuyển trọng tâm từ việc chỉ nghiên cứu thực trạng đội ngũ trí thức (số lượng, cơ cấu, trình độ) sang nghiên cứu chuyên sâu về thực trạng thực hiện vai trò của trí thức trên từng lĩnh vực cơ bản của đời sống xã hội.
- Cập nhật, hệ thống hóa các mâu thuẫn, điểm nghẽn thực tiễn và đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ, khả thi, phù hợp với giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khung phân tích
Luận án được triển khai trên nền tảng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và hệ thống quan điểm, chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam về con người, nguồn nhân lực chất lượng cao và đội ngũ trí thức.
- Quan điểm Mác - Lênin: Xem trí thức là một tầng lớp xã hội trung gian giữa các giai cấp, thực hiện lao động trí óc phức tạp, không trực tiếp đại diện cho một phương thức sản xuất độc lập.
- Tư tưởng Hồ Chí Minh: Nhấn mạnh tính thực tiễn của tri thức; người trí thức hoàn toàn phải là người đem tri thức sách vở ứng dụng vào giải quyết các nhiệm vụ của thực tế cách mạng, lao động sản xuất và bảo vệ Tổ quốc.
- Khung tiêu chí nhận diện trí thức do luận án xác lập:
- Về vị trí xã hội: Là tầng lớp xã hội đặc thù mang tính chất trung gian.
- Về phương thức lao động: Lao động trí óc phức tạp có tính sáng tạo cao (khác biệt về chất so với lao động trí óc giản đơn, thừa hành).
- Về trình độ: Có trình độ học vấn, chuyên môn cao (từ đại học trở lên gắn với thực học, thực tài) kết hợp với lương tri và đạo đức.
- Về tư duy: Có tư duy độc lập, có chính kiến, có năng lực phản biện mang tính xây dựng và tinh thần dấn thân vì tiến bộ xã hội.
- Về năng lực thực tiễn: Có khả năng truyền bá, xã hội hóa và đưa tri thức khoa học vào cải biến thực tiễn đời sống.
Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành triết học và liên ngành khoa học xã hội:
- Phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử (phương pháp luận chủ đạo).
- Phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết.
- Phương pháp hệ thống - cấu trúc (tiếp cận trí thức như một chỉnh thể hữu cơ tương tác với các lĩnh vực KT-XH).
- Phương pháp logic kết hợp với lịch sử.
- Phương pháp thống kê, đối chiếu và so sánh tài liệu.
Nguồn dữ liệu và tư liệu
- Các văn kiện, nghị quyết của Đảng Cộng sản Việt Nam (các kỳ Đại hội Đảng, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 khóa X).
- Văn bản quy phạm pháp luật, chính sách của Nhà nước về khoa học - công nghệ, giáo dục - đào tạo và trí thức.
- Các công trình nghiên cứu khoa học, đề tài cấp Nhà nước (mã số KX.22/06-10, KX.16/06-10), sách chuyên khảo và bài báo trên các tạp chí khoa học chuyên ngành (Tạp chí Triết học, Tạp chí Lý luận Chính trị, Tạp chí Cộng sản).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án
Chương này thực hiện tổng kết toàn diện các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước theo 4 nhóm nội dung lớn:
- Các công trình nghiên cứu về khái niệm và vai trò của trí thức: Phân tích sự tiến triển trong cách tiếp cận từ đơn tiêu chí (học vấn, chức danh, bằng cấp) đến đa tiêu chí (học vấn, tính sáng tạo, đạo đức, tính độc lập tư duy, trách nhiệm xã hội).
- Các công trình nghiên cứu về thực trạng đội ngũ trí thức và thực trạng việc thực hiện vai trò của trí thức: Khái quát các đánh giá về mặt mạnh, mặt yếu trong quy mô, cơ cấu ngành nghề, vùng miền, chất lượng chuyên môn và tâm tư, nguyện vọng của trí thức.
- Các công trình nghiên cứu về giải pháp xây dựng và phát huy vai trò của trí thức: Phân tích các nhóm giải pháp về đổi mới thể chế, đầu tư giáo dục, chính sách trọng dụng và thu hút nhân tài.
- Đánh giá tổng quát và xác lập 4 vấn đề luận án cần tiếp tục giải quyết: Xây dựng định nghĩa và hệ tiêu chí nhận diện thống nhất; phân tích cụ thể vai trò của trí thức theo 5 lĩnh vực; khảo sát thực trạng thực hiện vai trò và chỉ ra 5 mâu thuẫn cơ bản; kiến nghị hệ thống 5 giải pháp mang tính chiến lược.
Chương 2: Một số vấn đề lý luận chung về trí thức và vai trò của trí thức trong sự phát triển của Việt Nam hiện nay
Chương 2 thiết lập khung lý luận nền tảng cho toàn bộ luận án:
- Khái niệm và 5 đặc trưng cơ bản của trí thức: Xác lập nguồn gốc thuật ngữ Intelligentia, phân tích bản chất lao động trí óc phức tạp, phân biệt với lao động trí óc giản đơn và định vị cấu trúc nhân cách "đức - tài" của người trí thức.
- Khung phân tích vai trò của trí thức trên 5 lĩnh vực:
- Lĩnh vực chính trị: Tham gia hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách; thực hiện phản biện xã hội đối với các dự thảo luật và dự án quốc gia; bảo vệ nền tảng tư tưởng.
- Lĩnh vực kinh tế: Đóng vai trò là lực lượng sản xuất trực tiếp; nghiên cứu, tiếp thu, sáng tạo và chuyển giao tiến bộ khoa học - công nghệ; gia tăng hàm lượng tri thức trong sản phẩm kinh tế.
- Lĩnh vực văn hóa: Sáng tạo các giá trị văn hóa - nghệ thuật mới; bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc; thực hiện "bắt chước thông minh" và chọn lọc các giá trị văn hóa ngoại lai trong bối cảnh toàn cầu hóa.
- Lĩnh vực xã hội: Nâng cao dân trí, đào tạo nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài; giải quyết các vấn đề an sinh, công bằng xã hội và nhân đạo.
- Lĩnh vực bảo vệ Tổ quốc: Củng cố tiềm lực quốc phòng - an ninh; nghiên cứu phát triển trang thiết bị, khí tài quân sự; bảo vệ chủ quyền biên giới, biển đảo trên mặt trận lý luận và pháp lý quốc tế.
- Các yếu tố chi phối việc phát huy vai trò trí thức: Chất lượng của hệ thống giáo dục - đào tạo; chính sách sử dụng, đãi ngộ và tôn vinh nhân tài; cơ chế bảo đảm tự do tư tưởng, tự do học thuật và phát huy dân chủ trong xã hội.
Chương 3: Trí thức và vai trò của trí thức - Thực trạng và những vấn đề đặt ra
Chương 3 tập trung phân tích thực trạng phát triển và thực tế thực hiện vai trò của trí thức Việt Nam, chỉ ra những thành tựu, hạn chế và các mâu thuẫn chủ yếu:
- Thực trạng đội ngũ trí thức:
- Mặt tích cực: Số lượng người có trình độ đại học và sau đại học tăng nhanh; lực lượng cán bộ khoa học - công nghệ tiếp cận nhanh với tri thức hiện đại; hình thành nhiều tập thể khoa học mạnh; đại bộ phận giữ vững lập trường chính trị, lòng yêu nước và trách nhiệm xã hội.
- Mặt hạn chế: Cơ cấu ngành nghề, trình độ và phân bố vùng miền mất cân đối nghiêm trọng (tập trung quá lớn ở khu vực đô thị lớn, đồng bằng; thiếu hụt ở vùng sâu, vùng xa); tỷ lệ trí thức làm công tác quản lý hành chính cao nhưng thiếu chuyên gia đầu ngành, tổng công trình sư tầm cỡ quốc tế; khả năng công bố quốc tế và năng lực sáng chế ứng dụng còn thấp.
- Thực trạng thực hiện vai trò theo 5 lĩnh vực: Đã đạt được kết quả bước đầu trong tham mưu chính sách, ứng dụng kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp - công nghiệp, phát triển văn hóa và bảo vệ quốc phòng; tuy nhiên chất lượng phản biện chính sách còn mang tính hình thức, hiệu quả chuyển giao công nghệ từ viện/trường sang doanh nghiệp còn hạn chế, các công trình khoa học xã hội chưa theo kịp sự biến đổi nhanh chóng của thực tiễn.
- Năm vấn đề mâu thuẫn đặt ra trong thực tiễn:
- Mâu thuẫn về nhận thức: Trí thức được xác định có vai trò quyết định nhưng nhận thức thực tế của nhiều cấp ủy, chính quyền và xã hội về vị trí của trí thức còn phiến diện, xem nhẹ.
- Mâu thuẫn về đào tạo: Mục tiêu xây dựng đội ngũ trí thức rất cao nhưng chính sách giáo dục - đào tạo còn nặng về bằng cấp, mất cân đối cơ cấu, chưa gắn kết với nhu cầu thị trường lao động.
- Mâu thuẫn về sử dụng và đãi ngộ: Yêu cầu phát triển đặt ra rất lớn nhưng cơ chế tuyển dụng, bổ nhiệm, tiền lương và tôn vinh chưa tạo ra động lực kinh tế - tinh thần đủ mạnh để kích thích trí thức cống hiến; hiện tượng bố trí trái chuyên môn, lãng phí chất xám diễn ra phổ biến.
- Mâu thuẫn về môi trường sáng tạo: Yêu cầu sáng tạo và phản biện đòi hỏi sự cởi mở tư tưởng nhưng quy chế dân chủ, môi trường học thuật và cơ chế bảo vệ người phản biện chưa thực sự hoàn thiện.
- Mâu thuẫn từ phía chủ thể trí thức: Trí thức là lực lượng tiên phong nhưng một bộ phận không nhỏ còn biểu hiện thụ động, ngại va chạm, thiếu bản lĩnh chính trị và chưa chủ động vươn lên đáp ứng đòi hỏi của thời kỳ mới.
Chương 4: Giải pháp cơ bản xây dựng và phát huy vai trò đội ngũ trí thức Việt Nam hiện nay
Chương 4 đề xuất hệ thống 5 nhóm giải pháp đồng bộ:
- Nâng cao nhận thức về vai trò của trí thức: Tuyên truyền, quán triệt sâu sắc các quan điểm của Đảng về vị trí trung tâm của trí thức trong hệ thống động lực phát triển; nâng cao trách nhiệm của người đứng đầu các cơ quan, tổ chức trong việc đánh giá đúng và trọng dụng trí thức.
- Đổi mới căn bản công tác đào tạo, bồi dưỡng trí thức: Đổi mới chương trình, phương pháp giáo dục đại học và sau đại học theo chuẩn mực quốc tế; gắn kết chặt chẽ quy trình đào tạo của trường đại học, viện nghiên cứu với nhu cầu của doanh nghiệp và xã hội; chú trọng đào tạo đội ngũ chuyên gia đầu ngành, trí thức trẻ tài năng.
- Đổi mới chính sách thu hút, sử dụng, đãi ngộ và tôn vinh trí thức: Xây dựng cơ chế tuyển dụng, bổ nhiệm dựa trên thực tài và sản phẩm khoa học cụ thể thay vì thâm niên; cải cách chế độ tiền lương, phụ cấp đặc thù, phân phối công bằng lợi ích từ quyền sở hữu trí tuệ; hoàn thiện chính sách đãi ngộ xứng đáng đối với các nhà khoa học đầu ngành và tài năng trẻ.
- Tạo lập môi trường thể chế thuận lợi nhằm phát huy tính độc lập, sáng tạo của trí thức: Hoàn thiện hệ thống quy chế dân chủ, bảo đảm tự do học thuật, tự do tư tưởng trong nghiên cứu khoa học; thể chế hóa quy trình tư vấn, thẩm định và phản biện xã hội độc lập của trí thức đối với các chủ trương, chính sách, dự án phát triển kinh tế - xã hội.
- Tăng cường tính chủ động, tích cực tự thân của người trí thức: Bản thân mỗi trí thức phải không ngừng tự học tập, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, ngoại ngữ và kỹ năng nghiên cứu; rèn luyện bản lĩnh chính trị, giữ gìn y đức, đạo đức nghề nghiệp và ý thức phụng sự đất nước.
Bảng tổng hợp các mâu thuẫn và giải pháp đối ứng trong luận án
| STT | Vấn đề / Mâu thuẫn đặt ra (Chương 3) | Nhóm giải pháp cơ bản giải quyết (Chương 4) |
|---|---|---|
| 1 | Nhận thức về vị trí, vai trò của trí thức trong xã hội còn nhiều hạn chế | Nâng cao nhận thức của hệ thống chính trị và toàn xã hội về vai trò của trí thức |
| 2 | Mục tiêu phát triển rất cao nhưng công tác đào tạo, bồi dưỡng còn nhiều bất cập | Đổi mới căn bản công tác đào tạo, bồi dưỡng trí thức theo chuẩn mực hiện đại |
| 3 | Chính sách sử dụng, đãi ngộ và tôn vinh chưa tạo ra động lực kích thích cống hiến | Đổi mới chính sách thu hút, tuyển dụng, đãi ngộ vật chất - tinh thần và tôn vinh thực tài |
| 4 | Yêu cầu sáng tạo, phản biện cao nhưng môi trường học thuật, dân chủ chưa hoàn thiện | Xây dựng môi trường thể chế thuận lợi, bảo đảm tự do học thuật và cơ chế phản biện xã hội |
| 5 | Bản thân một bộ phận trí thức còn thụ động, giảm sút tinh thần dấn thân | Tăng cường tính chủ động, tự đổi mới, rèn luyện đạo đức và trách nhiệm xã hội từ phía trí thức |
Kết quả và những đóng góp mới
Về mặt lý luận
- Hệ thống hóa các quan điểm kinh điển và hiện đại, xây dựng định nghĩa khoa học cùng hệ tiêu chí 5 đặc trưng toàn diện để nhận diện đội ngũ trí thức trong thời kỳ mới.
- Xây dựng khung lý luận hoàn chỉnh, mạch lạc về vai trò của đội ngũ trí thức trên 5 lĩnh vực cơ bản của đời sống xã hội (chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, bảo vệ Tổ quốc) trong điều kiện đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển kinh tế tri thức.
Về mặt thực tiễn
- Phác họa bức tranh khách quan, toàn diện về thực trạng phát triển và thực trạng thực hiện vai trò của trí thức Việt Nam giai đoạn từ Đại hội IX đến năm 2018.
- Chỉ rõ 5 mâu thuẫn thực tiễn mang tính then chốt đang cản trở việc phát huy nguồn lực trí thức nước nhà.
- Đề xuất hệ thống 5 nhóm giải pháp đồng bộ, có tính khả thi, kết hợp chặt chẽ giữa tác động cơ chế chính sách từ phía Đảng, Nhà nước với trách nhiệm tự thân của người trí thức.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của đề tài
- Luận án tiếp cận chủ yếu dưới góc độ triết học chính trị - xã hội theo chuyên ngành CNDVBC&CNDVLS, do đó tập trung vào các quy luật, cơ chế chung mà chưa đi sâu vào phân tích định lượng chi tiết theo từng phân ngành khoa học kỹ thuật hoặc khoa học tự nhiên chuyên biệt.
- Phạm vi khảo sát tài liệu và số liệu thực tiễn tập trung chủ yếu từ Đại hội IX đến năm 2018, chưa bao quát được các diễn biến mới của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (CMCN 4.0) và xu thế chuyển đổi số mạnh mẽ trong những năm gần đây.
Hướng nghiên cứu tiếp
- Nghiên cứu sự chuyển biến về chất của đội ngũ trí thức Việt Nam dưới tác động của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, trí tuệ nhân tạo và kinh tế số.
- Nghiên cứu cơ chế liên kết ba nhà (Nhà nước - Nhà khoa học/Viện trường - Nhà doanh nghiệp) trong mô hình đổi mới sáng tạo quốc gia.
Giá trị tham khảo
Đối tượng thụ hưởng
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên: Thuộc các ngành Triết học, Chủ nghĩa xã hội khoa học, Xây dựng Đảng và Chính quyền nhà nước, Quản lý khoa học và công nghệ, Xã hội học.
- Giảng viên, nhà nghiên cứu: Sử dụng làm tài liệu tham khảo trong giảng dạy các học phần về nguồn nhân lực chất lượng cao, cơ cấu xã hội - giai cấp và chính sách phát triển khoa học - giáo dục.
- Cán bộ lãnh đạo, quản lý và người làm chính sách: Tại các cơ quan tham mưu chiến lược như Ban Tuyên giáo Trung ương, Ban Tổ chức Trung ương, Bộ Nội vụ, Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam trong việc xây dựng quy chế phản biện xã hội và chiến lược thu hút nhân tài.
Các nội dung đáng tham khảo
- Hệ tiêu chí 5 đặc trưng nhận diện người trí thức chân chính tại [Chương 2].
- Khung phân tích vai trò của trí thức trên 5 lĩnh vực phát triển tại [Chương 2].
- Hệ thống 5 mâu thuẫn thực tiễn và 5 nhóm giải pháp phát huy nguồn lực trí thức tại [Chương 3] và [Chương 4].
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án xác lập những tiêu chí cốt lõi nào để nhận diện một người là trí thức?
Luận án xác lập hệ thống 5 tiêu chí bắt buộc:
- Thuộc tầng lớp xã hội đặc thù mang tính chất trung gian.
- Thực hiện phương thức lao động trí óc phức tạp có tính sáng tạo cao.
- Có trình độ học vấn, chuyên môn cao (từ đại học trở lên gắn với thực học, thực tài) kết hợp chặt chẽ với lương tri và đạo đức.
- Có tư duy độc lập, có chính kiến và tinh thần phản biện mang tính xây dựng.
- Có năng lực truyền bá và áp dụng tri thức vào cải biến thực tiễn đời sống xã hội.
2. Ba "điểm nghẽn" phát triển của Việt Nam được luận án đề cập là gì và trí thức có vai trò như thế nào trong việc giải tỏa các điểm nghẽn đó?
Ba điểm nghẽn phát triển của Việt Nam gồm: sự yếu kém về thể chế/chính sách, kết cấu hạ tầng kém phát triển, và nguồn nhân lực có trình độ thấp. Cả ba điểm nghẽn này đều do con người tạo ra và phụ thuộc vào chất lượng nhân lực; trong đó, đội ngũ trí thức giữ vai trò hạt nhân trung tâm, trực tiếp nghiên cứu hoàn thiện thể chế, thiết kế xây dựng hạ tầng kỹ thuật và dẫn dắt nâng cao trình độ của toàn bộ lực lượng lao động xã hội.
3. Luận án phân tích vai trò của trí thức trên những lĩnh vực cụ thể nào của đời sống xã hội?
Luận án phân tích vai trò của trí thức một cách toàn diện trên 5 lĩnh vực:
- Lĩnh vực chính trị (hoạch định đường lối, phản biện xã hội, bảo vệ nền tảng tư tưởng).
- Lĩnh vực kinh tế (lực lượng sản xuất trực tiếp, chuyển giao công nghệ, phát triển kinh tế tri thức).
- Lĩnh vực văn hóa (sáng tạo văn hóa - nghệ thuật, bảo tồn bản sắc dân tộc, chọn lọc tinh hoa nhân loại).
- Lĩnh vực xã hội (nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, giải quyết công bằng xã hội).
- Lĩnh vực bảo vệ Tổ quốc (tăng cường quốc phòng - an ninh, nghiên cứu trang bị kỹ thuật, bảo vệ chủ quyền quốc gia).
4. Đâu là các mâu thuẫn thực tiễn lớn nhất trong việc phát huy vai trò trí thức được luận án chỉ ra?
Luận án xác định 5 mâu thuẫn cơ bản:
- Mâu thuẫn giữa vai trò quyết định của trí thức với nhận thức xã hội còn hạn chế.
- Mâu thuẫn giữa mục tiêu phát triển cao với chính sách đào tạo còn nhiều bất cập.
- Mâu thuẫn giữa đòi hỏi thực tiễn lớn với cơ chế sử dụng, đãi ngộ và tôn vinh chưa tạo động lực.
- Mâu thuẫn giữa yêu cầu sáng tạo/phản biện với môi trường học thuật, dân chủ chưa hoàn thiện.
- Mâu thuẫn giữa sứ mệnh tiên phong của trí thức với sự thụ động từ chính bản thân một bộ phận trí thức.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của Lê Thị Sự là công trình nghiên cứu hệ thống dưới góc độ triết học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử về vấn đề trí thức và vai trò của trí thức trong sự nghiệp đổi mới đất nước. Bằng phương pháp nghiên cứu chặt chẽ, luận án đã làm rõ hệ tiêu chí nhận diện trí thức, xây dựng khung phân tích vai trò của trí thức trên 5 lĩnh vực cơ bản của đời sống xã hội, đồng thời chỉ ra 5 mâu thuẫn thực tiễn then chốt tại Việt Nam. Trên cơ sở đó, công trình đề xuất hệ thống 5 nhóm giải pháp đồng bộ nhằm xây dựng, trọng dụng và phát huy tối đa nguồn lực trí thức, góp phần tháo gỡ các điểm nghẽn phát triển và thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.