phần mở đầu, nội dung luận án bao gồm 4 chương, kết luận, phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo. 7 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CÁC VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu về trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng thƣơng mại Vấn đề về trách nhiệm pháp lý do vi phạm HĐTM là chế định quan trọng trong hệ thống các quy phạm pháp luật về thương mại, từ trước đến hiện nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về lý luận, quy định pháp luật và thực tiễn áp dụng đối với những vấn đề có liên quan đến lĩnh vực này. Vì vậy, trước khi nghiên cứu chế định này, tác giả cần tổng quan những công trình đã nghiên cứu có liên quan nhằm (i) tránh trường hợp trùng lặp những nội dung đã được một số công trình nghiên cứu và đặc biệt những nội dung có liên quan đến đề tài đã được các tác giả nghiên cứu mang tính thống nhất, phù hợp và hoàn thiện, (ii) với những điểm mà các công trình trước đó đã đạt được, đề tài sẽ kế thừa nhằm làm cơ sở lý luận, thực tiễn hữu ích cho hoạt động nghiên cứu, (iii) tổng quan giúp cho việc nghiên cứu đề tài thuận lợi và hoàn thiện hơn.
Trong phạm vi tìm hiểu, tác giả thống kê và đánh giá một số công trình liên quan đến đề tài theo hai nhóm chính là khái quát những công trình nghiên cứu trong nước và những công trình nghiên cứu ở nước ngoài.Tổng quan tình hình nghiên cứu trong nƣớc Trách nhiệm pháp lý do vi phạm pháp luật nói chung và trách nhiệm pháp lý do vi phạm đồng thương mại nói riêng là đối tượng nghiên cứu của rất nhiều công trình khoa học khác nhau ở Việt Nam. Các công trình nghiên cứu này đề cập đến các khía cạnh khác nhau về trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng nói chung và HĐTM nói riêng. Sắp xếp theo nội dung vấn đề nghiên cứu của đề tài, tác giả có thể chỉ ra các nhóm công trình khoa học sau đây: - Nhóm công trình nghiên cứu về vi phạm hợp đồng, các loại vi phạm hợp đồng: Trong quyển sách chuyên khảo của Nguyễn Ngọc Khánh [93], ông đã nghiên cứu về khái niệm, đặc điểm, bản chất hợp đồng, giao kết, thực hiện, sửa đổi, hủy bỏ hợp đồng và trách nhiệm hợp đồng, trong đó công trình đã đề cập đến khái niệm vi phạm hợp đồng, các loại vi phạm hợp đồng được quy định trong các văn bản pháp luật giữa các quốc gia như Cộng hòa Liên Bang Đức, Pháp, Anh –Mỹ, CƯV 1980, 8 Việt Nam. Hơn nữa, ông có phân tích thực trạng áp dụng các quy định pháp luật (qua việc phân tích một số bản án trong và ngoài nước).
Từ đó, ông cho thấy rằng quy định của Việt Nam về khái niệm vi phạm hợp đồng, các loại vi phạm hợp đồng của Việt Nam khá tương đồng với quy định của các quốc gia này. Tuy nhiên, công trình này đưa ra một số giải pháp là pháp luật hợp đồng của Việt Nam nên quy định rõ ràng hơn về vi phạm trước thời hạn. Đề tài sẽ kế thừa khái niệm về vi phạm hợp đồng từ những cụm thuật ngữ của các quốc gia cũng như quy định hiện hành của Việt Nam mà ông đã trình bày, tuy nhiên tác giả tiếp tục phát triển thêm khái niệm về vi phạm hợp đồng theo hướng mang tính khái quát hơn. Bên cạnh đó, tác giả còn kế thừa loại vi phạm trước thời hạn mà công trình này đã nêu ra trong phần giải pháp hoàn thiện pháp luật.
Trong phạm vi nghiên cứu về nội dung này, quyển sách chuyên khảo của Đỗ Văn Đại [58] đã nghiên cứu về lý luận, thực trạng pháp luật, thực trạng áp dụng pháp luật (phân tích một số bản án tại Việt Nam), giải pháp hoàn thiện pháp luật về vi phạm hợp đồng, các loại vi phạm hợp đồng. Cụ thể, ông đã không sử dụng thuật ngữ vi phạm hợp đồng mà sử dụng thuật ngữ “không thực hiện đúng hợp đồng”; tuy nhiên ông Đại không hoàn toàn bác bỏ mà vẫn sử dụng thuật ngữ “vi phạm hợp đồng” trong một số trường hợp. Tác giả sẽ kế thừa thuật ngữ không thực hiện đúng hợp đồng của Đỗ Văn Đại nhưng tiếp tục phát triển và sử dụng thuật ngữ “không thực hiện đúng hợp đồng” trong trường hợp một bên không chịu trách nhiệm do không thực hiện đúng hợp đồng khi có xảy ra SKBKK hoặc quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền,.Ngoài ra, ông cho rằng thuật ngữ vi phạm cơ bản là mơ hồ, dịch ra từ thuật ngữ “Fundamental breach” của CƯV không có tính khả thi khi áp dụng quy định này vào thực tiễn nên cần thay thế bằng thuật ngữ vi phạm nghiêm trọng. Hơn nữa, ông cũng cho rằng cần xác định rõ trong các văn bản luật hợp đồng đối với vi phạm trước thời hạn.
Qua đây, tác giả sẽ kế thừa những nghiên cứu này tuy nhiên sẽ phát triển bổ sung về căn cứ xác định loại vi phạm nghiêm trọng, vi phạm trước thời hạn để tránh trường hợp khó áp dụng tương xứng giữa hành vi vi phạm và loại trách nhiệm và tránh hành vi vi phạm ngược từ chủ thể bị vi phạm. Trong phạm vi các nghiên cứu được đăng trong các tạp chí khoa học chuyên ngành, Đỗ Văn Đại có bài viết “vi phạm cơ bản hợp đồng”[55]; Võ Sỹ Mạnh có bài viết “vi phạm cơ bản hợp đồng trong pháp luật Việt Nam: Một số bất cập và định 9 hướng hoàn thiện” [135]. Các bài viết cho rằng sử dụng thuật ngữ vi phạm cơ bản và đưa ra khái niệm về vi phạm cơ bản như trong LTM 2005 là khó áp dụng vào thực tiễn, nên sử dụng thuật ngữ vi phạm nghiêm trọng hoặc căn cứ vào thực trạng xét xử (án lệ) để xác định như thế nào là vi phạm nghiêm trọng. Cũng tương đồng với hai tác giả trên về việc nêu và phân tích một số loại vi phạm hợp đồng, Dương Anh Sơn có bài viết “Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc điều chỉnh bằng pháp luật đối với vi phạm hợp đồng khi chưa đến thời hạn thực hiện nghĩa vụ”[139].
Trong bài viết này, ông Sơn đã nghiên cứu về khái niệm, căn cứ xác định, tính rủi ro khi xác định vi phạm trước thời hạn, phân tích một số bản án được tòa án Việt Nam xét xử về những trường hợp tương tự vi phạm trước thời hạn. Với công trình này, đề tài sẽ kế thừa và chứng minh bổ sung một số trường hợp áp dụng vào trong thực tiễn về vi phạm trước thời hạn trong LTM hiện hành. Tóm lại, qua tham khảo các công trình nghiên cứu trên về nội dung liên quan đến vi phạm hợp đồng, đa số các công trình nghiên cứu khái niệm, đặc điểm vi phạm hợp đồng, HĐTM theo hướng liệt kê như không thực hiện, thực hiện không đúng, chậm thực hiện nghĩa vụ hợp đồng, một số khác đưa ra cụm từ không thực hiện đúng hợp đồng để chỉ đến khái niệm vi phạm hợp đồng. Những quan điểm này chính là cơ sở cơ bản để tác giả kế thừa và sẽ tiếp tục nghiên cứu bổ sung để đưa ra khái niệm vi phạm hợp đồng mang tính khái quát hoàn thiện hơn.
Về các loại vi phạm hợp đồng, các công trình nghiên cứu các loại vi phạm hợp đồng khác nhau, trong đó có một số công trình nghiên cứu về vi phạm cơ bản hợp đồng, vi phạm không cơ bản hợp đồng. Một số tác giả nghiên cứu về vi phạm nghiêm trọng hợp đồng, vi phạm trước thời hạn thực hiện hợp đồng. Đây có thể được xem là những nền tảng để xây dựng thành lý luận và hoàn thiện các quy định pháp LTM Việt Nam về vi phạm hợp đồng, các loại vi phạm HĐTM. Từ đó, tác giả sẽ tham khảo chọn lọc sử dụng nhằm hệ thống một cách có khoa học những vấn đề về lý luận, thực trạng, giải pháp nhằm hoàn thiện pháp LTM Việt Nam.
- Nhóm công trình nghiên cứu về các căn cứ xác định trách nhiệm do vi phạm HĐTM: Ở cấp độ là giáo trình giảng dạy tại các trường đại học, quyển “Giáo trình luật Dân sự VN”[211]; “Giáo trình pháp luật về hợp đồng và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng”[53] đã đề cập đến vấn đề cơ bản nhất về khái niệm, đặc điểm của căn cứ hành vi vi phạm hợp đồng, có lỗi, thiệt hại, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi 10 phạm và thiệt hại xảy ra. Trong đó, hai công trình này nghiên cứu cụ thể về yếu tố lỗi để xác định trách nhiệm hợp đồng là căn cứ bắt buộc. Hơn nữa, hai giáo trình này căn cứ quy định của BLDS 2005 để phân tích bốn căn cứ xác định trách nhiệm do vi phạm hợp đồng. Bên cạnh đó, trong phạm vi nội dung này, Nguyễn Văn Luyện, Lê Thị Bích Thọ, Dương Anh Sơn trong cuốn “Giáo trình luật HĐTM quốc tế”[122]; Phan Huy Hồng với “Giáo trình pháp luật về thương mại hàng hóa và dịch vụ” [214].
Các công trình này đề cập đến ba căn cứ xác định trách nhiệm do vi phạm hợp đồng như hành vi vi phạm, thiệt hại và mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm và thiệt hại xảy ra, lỗi không là căn cứ bắt buộc để xác định trách nhiệm do vi phạm HĐTM; riêng công trình thứ hai xác định từng loại căn cứ cho từng biện pháp trách nhiệm, trong đó có nghiên cứu căn cứ thông báo cho một số loại loại trách nhiệm như tạm ngừng, đình chỉ và hủy hợp đồng. Tác giả sẽ tiếp tục kế thừa những quan điểm này về các căn cứ xác định trách nhiệm, tuy nhiên sẽ phân tích thêm về căn cứ thông báo trong từng loại trách nhiệm pháp lý do vi phạm HĐTM. Trong quyển sách chuyên khảo “Chế định hợp đồng trong BLDS Việt Nam”[93], tác giả của công trình này đã phân tích các căn cứ xác định trách nhiệm do vi phạm hợp đồng như căn cứ về hành vi vi phạm, thiệt hại, lỗi, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm và thiệt hại theo quy định về luật hợp đồng, LTM… của một số quốc gia như Đức, Pháp, Anh-Mỹ, CƯV và quy định theo BLDS 2005 của Việt Nam. Ông Khánh cho rằng lỗi vẫn là căn cứ để xác định trách nhiệm ngoài ba căn cứ nêu trên, nhưng cần phải xem xét lỗi theo sự mẫn cán, tận tâm của một chủ thể mà không phải là thái độ chủ quan của một người trước một sự việc.
Trong phạm vi nội dung nghiên cứu này còn có công trình “Áp dụng trách nhiệm hợp đồng trong kinh doanh”[46].