CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP RA NƯỚC NGOÀI 1. Các công trình nghiên cứu trên thế giới và ở Việt Nam có liên quan đến đầu tư trực tiếp ra nước ngoài 1. Các công trình nghiên cứu nước ngoài Carmen Stoian [19] với bài viết “Extending Dunning’s Investment Development Path: The role of home country institutional determinants in explaining outward foreign direct investment” đã sử dụng lý thuyết con đường phát triển của đầu tư IDP của Dunning làm cơ sở để tiến hành mở rộng bằng các nhân tố mới. Ngoài ba nhân tố điển hình của mô hình IPD là sự phát triển của nền kinh tế nước đi đầu tư được đo bằng GDP bình quân trên đầu người; Yếu tố phát triển khoa học công nghệ và dòng vốn đầu tư trực tiếp vào trong nước; thì tác giả đã bổ sung thêm năm biến khác là: (i) Mức độ mở cửa của nền kinh tế: bao gồm hoạt động ngoại thương và tỷ giá hối đoái; (ii) Mở rộng của cải cách tư nhân hóa ở quy mô lớn; (iii) Tái cấu trúc các doanh nghiệp trong nước; (iv) Cải cách thể chế tổng thể; (v) Cải cách sức cạnh tranh tại quốc gia đầu tư.
Bằng việc lấy số liệu trong 15 năm đến năm 2011 của 20 quốc gia Trung và Đông Âu, cùng với đó đưa thêm những biến mới vào tác giả đã lý giải được hoạt động đầu tư ra nước ngoài tại các nước đang phát triển và chuyển đổi, tác giả đã tìm ra được nhiều mối quan hệ giữa OFDI với các biến mới dựa trên mô hình IDP. Trong nghiên cứu này Carmen Stoian đã chỉ ra rằng tăng trưởng kinh tế được đo lường bằng GDP bình quân trên đầu người tăng, cải cách thể chế, tái cấu trúc các doanh nghiệp và cải cách, nâng cao sức cạnh tranh của quốc gia đầu tư sẽ tác động tích cực lên dòng vốn OFDI, tuy nhiên việc tăng chi ngân sách cho khoa học và công nghệ lại không có tác động tích cực lên dòng vốn OFDI – đây là một phát hiện khá thú vị của Stoian, nó cũng phù hợp với bối cảnh tại các nước đang phát triển và chuyển đổi, bởi lẽ tại các nước này tỷ lệ chi ngân sách cho nghiên cứu khoa học là rất hạn chế, phần lớn đầu tư ra bên nước ngoài của các quốc gia này là vào các nước có trình độ sản xuất tương đương hoặc thấp hơn, do đó các công nghệ lỗi thời phù hợp hơn để chuyển giao. Hơn nữa OFDI từ các quốc gia này để phục vụ cho các ngành lĩnh vực chính và OFDI mục tiêu tìm kiếm tài sản, tài nguyên hơn là dựa vào khoa học công nghệ như các công ty đa quốc gia tại các nước phát triển như một lợi thế cạnh tranh. Nghiên cứu về dòng vốn OFDI của Trung Quốc, Liu (2011) trên cở sở đánh giá dòng vốn OFDI của Trung Quốc vào các quốc gia đang phát triển ở Châu Phi và một số nước tại Châu Á, khẳng định hỗ trợ của chính phủ và cấu trúc ngành của 1 quốc gia đi đầu tư đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện OFDI, trong khi đó, yếu tố công nghệ và quảng cáo tỏ ra ít quan trọng hơn.
Wong (2011) nghiên cứu về dòng vốn OFDI của các công ty tư nhân Trung Quốc, đánh giá lợi thế và bất lợi của hoạt động OFDI so với đầu tư trong nước. Wong khẳng định mặc dù khu vực kinh tế ngoài quốc doanh đã từng bước được cởi trói, xong hoạt động OFDI của Trung Quốc vẫn chịu sự ảnh hưởng nặng nề của các doanh nghiệp nhà nước. Trong nghiên cứu của Lan Gao và cộng sự (2012) khẳng định một lần nữa về vai trò của tăng trưởng kinh tế trong nước (được đo bằng sự gia tăng của GDP bình quân trên đầu người) có vài trò tích cực trong thúc đẩy OFDI của Trung Quốc, tuy nhiên xuất khẩu không có mối quan hệ thuận chiều với OFDI. Cũng trong nghiên cứu này tác giả đã tìm ra mối liên hệ giữa di chuyển nguồn nhân lực của Trung Quốc thông qua sinh viên du học tại các quốc gia và nguồn nhân lực của Trung Quốc từ nước ngoài về trong nước, lại là yếu tố thúc đẩy OFDI của Trung Quốc và nhóm tác giả khẳng định OFDI, về lâu dài, phần lớn được thúc đẩy bởi lợi thế sở hữu được tích lũy trong tài chính và nguồn nhân lực, cũng như các khuyến khích chiến lược để thay thế xuất khẩu của chính phủ Trung Quốc.
Trong nghiên cứu mới gần đây Paulo Reis Mourao (2018) cũng đánh giá FDI của Trung Quốc vào các nước ở Châu Phi với dữ liệu từ 48 nước, nghiên cứu này cho rằng tài nguyên rừng, quy mô dân số và thị trường năng động tại các nước Châu Phi có xu hướng thu hút lượng vốn FDI lớn từ Trung Quốc, cùng với đó là sự ổn định trong chính trị, hiệu quả trong điều hành của các chính phủ cũng là động lực để thu hút vốn FDI từ các DN Trung Quốc. Trong bài nghiên cứu về các công ty đa quốc gia có trụ sở tại 26 nền kinh tế chuyển đổi, Wladimir Andreff, Madeleine Andreff [37] chỉ ra rằng, dòng OFDI của các công ty tại những quốc gia này đã bùng nổ mạnh mẽ từ năm 2000 đến 2007 nhưng sau đó bị “vùi dập” trong cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế lớn. Bằng dữ liệu từ năm 2000 – 2015 từ 15 quốc gia chuyển đổi, hầu hết các quốc gia đang chuyển dần từ giai đoạn thứ hai sang giai đoạn thứ ba trong năm giai đoạn của con đường phát triển (IDP) mà Dunning đã chỉ ra và các MNCs chủ yếu áp dụng chiến lược OFDI tìm kiếm thị trường. Bằng nghiên cứu thực nghiệm, bài viết cũng chỉ ra rằng OFDI được quyết định bởi mức độ phát triển kinh tế của đất nước, quy mô thị trường nước đầu tư và tốc độ tăng trưởng cũng như các biến số công.
Nghiên cứu dòng vốn OFDI của Malaysia, Soo Khoon Goh, Koi Nyen Wong (2012) khẳng định mối quan hệ dài hạn giữa dòng vốn OFDI của Malaysia với các yếu tố ảnh hưởng chủ yếu: Quy mô thị trường nước nhận đầu tư, tỷ giá thực hiệu 2 lực, độ mở của nền kinh tế,… đặc biệt các tác giả đưa ra khuyến nghị chính phủ Malaysia nên có những chính sách thông thoáng hơn nhằm hỗ trợ đối với dòng vốn OFDI của các doanh nghiệp. Cũng nghiên cứu về các nhân tố thúc đẩy dòng vốn OFDI của Malaysia, Rosfadzimi Mat Saad, Abd Halim Mohd Noor, Abu Hassan Shaari Md Norb [73], lại có những nghiên cứu tập trung vào các yếu tố quyết định OFDI của Malaysia bằng lý thuyết Yếu tố đẩy của Dunning. Phân tích hồi quy được thực hiện trên dữ liệu chuỗi thời gian bắt đầu tư 1981 đến năm 2011. Nghiên cứu cho thấy GDP, mức FDI tiếp nhận vào quốc gia đó, năng suất, tỷ giá hối đoái, mức xuất khẩu và bằng sáng chế chính là các nhân tố thúc đẩy dòng OFDI của Malaysia.
(2016), Pages 153-184, Chapter 5: Evolution and Determinants of OFDI, Foreign Direct Investment in Brazil. Chương sách nghiên cứu về sự phát triển và mô hình đầu tư trực tiếp ra nước ngoài từ Brazil. Cụ thể, nghiên cứu chỉ ra các động lực của OFDI từ góc độ kép. Đầu tiên, tác giả đánh giá vai trò của hiệu quả kinh tế của thị trường thuộc về bên nước đầu tư, điển hình là nghiên cứu trường hợp các công ty đa quốc gia mới nổi.
Thứ hai, tác giả nghiên cứu các tác động của nước nhận đầu tư đối với dòng vốn OFDI bằng cách ước tính vai trò của phát triển kinh tế và khoảng cách địa lý; thông qua đánh giá định tính và thực nghiệm về các yếu tố kinh tế và thể chế đối với các mô hình của OFDI qua nghiên cứu các nước châu Mỹ La Tinh và Brazil. Yanmin Shao, Yan Shang [94] cho rằng các công ty đa quốc gia đã đưa ra quyết định liên quan tới hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài tuỳ thuộc vào nhân tố năng suất yếu tố tổng hợp (TFP). Cụ thể, bài viết xem xét với TFP của một công ty riêng biệt ở ngưỡng nào thì có tương tác với các yếu tố của nước nhân đầu tư và tác động gián tiếp của nó đến quyết định lựa chọn địa điểm đầu tư. Bài viết sử dụng nguồn dữ liệu hàng năm giai đoạn 2008 – 2013 của các công ty đa quốc gia được niêm yết công khai ở Trung Quốc để nghiên cứu.
Các kết quả thực nghiệm cho thấy, trước tiên, TFP có thể kích thích sự tham gia củ OFDI của một công ty. Thứ hai, ảnh hưởng của TFP của một công ty là nhất quán giữa các công ty với các tổ chức khác. Thứ ba, TFP của công ty giảm tầm quan trọng của thị trường tiềm năng của nước nhận đầu tư về khả năng thâm nhập của các công ty vào những nước này. Còn trong bài nghiên cứu xem xét ảnh hưởng của các điều kiện kinh tế vĩ mô của nước chủ đầu tư và các chính sách của chính phủ nước đó đối với dòng chảy OFDI từ Ấn Độ trong giai đoạn 1984 – 2015, Rishika Nayyar, Jaydeep Mukherjee [72] qua mô hình nghiên cứu thực nghiệm của mình đã cho ra kết quả cho thấy sự 3 tồn tại của mối quan hệ mật thiết giữa các luồng vốn OFDI và chính sách kinh tế vĩ mô của nước chủ đầu tư.
Các chính sách đó liên quan đến ngoại thương, đầu tư và phát triển ngành tài chính được coi là những yếu tố quyết định quan trọng. Yu Zhou, Jingjing Jiang, Bin Ye, Bọun Hou [95] với bài viết “Green spillovers of outward foreign direct investment on home countries: Eviden from China’s province – level data”, đã xem xét thực nghiệm tác động lan toả ngược của OFDI của Trung Quốc tới phát triển xanh trong nước. Dựa trên bộ dữ liệu bảng liên quan đến 30 tỉnh trong giai đoạn 2006 - 2015, nghiên cứu chỉ ra rằng năng suất yếu tố tổng hợp xanh (green TFP) của tỉnh được tính toán và mối quan hệ của nó với OFDI nhưng không đồng đều giữa các tỉnh. Như vậy, có thể thấy được việc nghiên cứu dòng vốn OFDI đã nhận được nhiều sự quan tâm của các học giả trên toàn thế giới.
Đã có nhiều nghiên cứu tập trung vào các quốc gia đang phát triển và chuyển đổi, rất phù hợp với các yếu tố thực tại tại Việt Nam. Bằng nhiều nghiên cứu định tính và định lượng, các tác giả đã phần nào làm rõ những yếu tố thúc đẩy cũng như kìm hãm sự phát triển của hoạt động OFDI tại các quốc gia này.