CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MỐI QUAN HỆ TÁC ĐỘNG GIỮA ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của các ngân hàng thương mại 1. Khái quát về hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài Theo UNCTAD (2012), đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là hoạt động đầu tư hàm chứa trong đó mối quan hệ mang tính dài hạn và phản ánh những lợi ích và quyền kiểm soát lâu dài của một thực thể tại một quốc gia (nhà đầu tư nước ngoài hay công ty mẹ) trong một công ty hoạt động tại một quốc gia khác với quốc gia của công ty mẹ hay nhà đầu tư.
Trong cẩm nang cán cân thanh toán tái bản lần 5 của IMF (1993) định nghĩa FDI là “loại hình đầu tư quốc tế trong đó một chủ thể thuộc một nền kinh tế thu được lợi ích lâu dài từ một chủ thể kinh tế thuộc một nền kinh tế khác”. IMF (1993) cũng đưa ra mức vốn cổ phần tối thiểu 10% hoặc quyền biểu quyết trong doanh nghiệp FDI làm căn cứ xác định FDI nhưng cần căn cứ theo theo từng quốc gia/khu vực. Mặc dù vậy tiêu chí hàng đầu vẫn là tính tính bền vững của khoản đầu tư. Còn theo định nghĩa của OECD (1996), đầu tư trực tiếp nước ngoài là “đầu tư nhằm thu được lợi ích lâu dài của một chủ thể đầu tư ở một quốc gia (nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài) vào một chủ thể kinh tế ở một quốc gia khác (doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài)”.
Lợi ích lâu dài gồm: (i) mối quan hệ trong dài hạn giữa nhà đầu tư trực tiếp và doanh nghiệp tiếp nhận vốn, và (ii) mức độ ảnh hưởng nhất định của mối quan hệ này lên hoạt động quản trị của doanh nghiệp. Theo đó dù được diễn đạt theo các cách khác nhau, hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài được định nghĩa khá thống nhất ở 2 đặc điểm cơ bản gồm: (1) có hoạt động di chuyển tài sản của nhà đầu tư qua biên giới trong dài hạn. Trong đó tài sản có thể là tài sản hữu hình (như vốn, máy móc, thiết bị, …) hoặc tài sản vô hình (như quyền sở hữu trí tuệ, kỹ năng quản lý, thương hiệu…). (2) nhà đầu tư trực tiếp sẽ có khả năng ảnh hưởng đáng kể đến hoạt động của doanh nghiệp nhận vốn.
Ở cấp độ quốc gia, đầu tư trực tiếp nước ngoài thường được xem xét từ giác độ là quốc gia đi đầu tư hay quốc gia nhận đầu tư. Thông thường, đối với quốc gia nhận vốn đầu tư, đây là hoạt động thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Còn đối với quốc gia đi đầu tư, đó là hoạt động OFDI. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 Ở cấp độ công ty, hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài được phân loại trong nhóm nghiệp vụ đầu tư góp vốn liên doanh liên kết.
Cụ thể hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài được xem xét ở chiều đầu tư vốn ra nước ngoài. Ngược lại hoạt động nhận vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài sẽ được phân loại vào nhóm nghiệp vụ tăng vốn chủ sở hữu. Theo đó, hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài ở cấp độ công ty sẽ được xác định rõ chiều đầu tư là hoạt động OFDI. Điểm quan trọng khi phân biệt quá trình OFDI của các ngân hàng với các doanh nghiệp khác là bản chất của sản phẩm.
Không giống như sản xuất hàng hóa hữu hình, dịch vụ ngân hàng nói riêng có sản phẩm dưới dạng vô hình, mức độ chuyên nghiệp hóa cao, không thể chia nhỏ, sản xuất và tiêu dùng được thực hiện đồng thời, việc hình thành những năng lực, kinh nghiệm tốn nhiều thời gian. Vì vậy việc thâm nhập vào thị trường nước ngoài của các ngân hàng không đơn giản chỉ là tích hợp vào mạng lưới những nhà cung cấp, khách hàng mà chủ yếu là lặp lại chuỗi giá trị ở mỗi quốc gia (Moore và Birkinshaw, 1998). Những khía cạnh liên quan đến hoạt động OFDI của các ngân hàng tập trung vào: hình thức OFDI, quá trình gia nhập, kinh doanh tại thị trường nước ngoài, mở rộng mạng lưới quốc gia (Bouquet, 2004) và những động lực của việc thực hiện OFDI (Cardone-Riportella, Cazorla-papis, 2001), 1. Các hình thức đầu tư trực tiếp ra nước ngoài Có 3 hình thức được xếp vào nhóm OFDI như sau: Chi nhánh: đây là hình thức rất phổ biến.
Hình thức này có những ưu điểm cơ bản gồm: mức độ cam kết nguồn lực đầu tư không tạo áp lực, dễ dàng đảm bảo tính nhất quán văn hóa giữa các đơn vị tách biệt về mặt địa lý, thuận tiện trong quản lý. Trái lại, những nhược điểm của hình thức này cũng khá nhiều: (1) Đầu tiên là quá trình triển khai diễn ra chậm hơn và do đó có nguy cơ mất cơ hội kinh doanh. (2) Thứ hai là việc thành lập chi nhánh tại thị trường nước ngoài thường vướng phải rất nhiều hạn chế trong hoạt động kinh doanh. Điển hình như yêu cầu mức vốn tối thiểu cho mỗi chi nhánh, giới hạn số lượng chi nhánh được thành lập, giới hạn phạm vi hoạt động, lĩnh vực kinh doanh… Do đó trong nhiều trường hợp, việc thành lập chi nhánh ngân hàng tại nước ngoài lại đòi hỏi phải đầu tư rất nhiều nguồn lực để có thể cạnh tranh tại thị trường nước ngoài.
(3) Thứ ba chi nhánh không có sự độc lập về mặt pháp lý. (4) Cuối cùng, hầu hết các quốc gia trên thế giới đều giới hạn hoạt động của các chi nhánh ngân hàng ở phạm vi cung cấp dịch vụ ngân hàng bán buôn, không được cung cấp dịch vụ ngân hàng bán lẻ (Clarke & ctg. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 Liên doanh: ngân hàng nước ngoài có thể lựa chọn liên doanh với một ngân hàng tại thị trường nước ngoài và cùng chia sẻ lợi nhuận rủi ro. Phương án này thường được lựa chọn khi ngân hàng đi đầu tư nhận thấy những lo ngại về rủi ro, khó tiếp cận được nguồn khách hàng nội địa, thiếu kinh nghiệm thị trường hay muốn cung cấp những dịch vụ không được phép đối với ngân hàng nước ngoài độc lập.
Khi thành lập liên doanh, các ngân hàng nhằm đến 3 mục tiêu chính. (1) Đầu tiên là cải thiện dịch vụ cho khách hàng của ngân hàng hoạt động ở quốc gia khác. (2) Thứ hai là nhằm mục đích chia sẻ, trao đổi các nguồn lực, như khả năng phân phối, kinh nghiệm, công nghệ… giữa ngân hàng đi đầu tư và ngân hàng nội địa tại thị trường nước ngoài. Việc chia sẻ, trao đổi nguồn lực là một trong những yếu tố quan trọng nhất giúp cho hình thức liên doanh thường là hình thức được chấp nhận nhiều nhất tại các quốc gia chưa mở cửa thị trường ngân hàng.
(3) Cuối cùng là mục tiêu tìm kiếm thêm cổ đông, nhà đầu tư để san sẻ rủi ro, góp thêm nguồn lực cho quá trình đầu tư của các ngân hàng. Ngân hàng 100% vốn nước ngoài: hình thức này thường được tiến hành bằng cách ngân hàng đi đầu tư thực hiện mua lại một ngân hàng ở thị trường nước ngoài mục tiêu. Khi các NHTM nội địa của một quốc gia hoạt động kém hiệu quả, năng lực cạnh tranh thấp hơn các NHTM nước ngoài, các ngân hàng nội địa có thể bị mua lại hoặc sáp nhập vào các NHTM nước ngoài. Điều này thường xảy ra tại các quốc gia đang phát triển và kém phát triển (với nhiều ngân hàng yếu kém) và hiếm khi xảy ra tại các nước phát triển (nơi có hệ thống ngân hàng phát triển cao) (Clarke & ctg.
Tuy nhiên cũng không ít trường hợp các ngân hàng tự thành lập ngân hàng 100% vốn nước ngoài tại thị trường nước ngoài. Ưu điểm lớn nhất của hình thức này là việc nhanh chóng đạt được đạt được quy mô tối thiểu và thâm nhập nhanh chóng vào thị trường nước ngoài. Hoạt động thôn tính ngân hàng, giống như hoạt động thôn tính công ty, thường mang lại lợi thế quan trọng thứ hai là ngân hàng mua ngân hàng khác biết rõ mục tiêu cần đạt được. Đây là điểm khác biệt rất quan trọng so với các liên doanh.
Trong các liên doanh luôn cần cân bằng quyền lực và ý chí dẫn đến tình trạng không đạt được thống nhất. Điều này khiến cho các liên doanh thường hoạt động kém hiệu quả. Trong khi đó hình thức thành lập ngân hàng con bằng biện pháp mua lại sẽ đảm bảo hoạt động kinh doanh sẽ luôn hướng theo những mục tiêu đã được xác định rất rõ ngay từ đầu. Tuy nhiên, ở chiều ngược lại, việc mua bán sáp nhập để thâm nhập vào thị trường nước ngoài làm nảy sinh rất nhiều vấn đề nghiêm trọng.
Thứ nhất, chi phí thường rất cao. Vấn đề thứ hai là việc mua ngân hàng làm nảy sinh các vấn đề văn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Thứ ba là các vấn đề liên quan đến các quyền nghĩa vụ kế thừa từ ngân hàng bị mua lại. Ngoài 3 hình thức trên, có điểm đặc biệt cần lưu ý là ngoài các hiện diện trong lĩnh vực ngân hàng, thường các quốc gia đều cho phép thành lập các hiện diện trong lĩnh vực tài chính như bảo hiểm, chứng khoán, công ty tài chính.
Thường việc thành lập các hiện diện này được cho phép trước ngân hàng do tính nhạy cảm trong lĩnh vực ngân hàng. Do đó, hoạt động OFDI của các ngân hàng sẽ bao gồm cả các hình thức công ty tài chính, bảo hiểm, công ty chứng khoán có thể dưới dạng 100% hoặc dưới dạng liên doanh. Các động lực khi thực hiện đầu tư trực tiếp ra nước ngoài 1. Những động lực từ môi trường Những động lực quan trọng nhất thúc đẩy các NHTM thực hiện OFDI liên quan đến yếu tố ngành.
Đầu tiên là sự gần gũi với khách hàng và theo chân khách hàng (Walter, 1988). Theo đó, các ngân hàng sẽ thực hiện OFDI để cung cấp cho khách hàng của chính họ tại quốc gia khác một loạt các dịch vụ có chất lượng, điều kiện tương tự như thị trường trong nước. Yếu tố này có ý nghĩa quan trọng do hoạt động kinh doanh ngân hàng là hoạt động yêu cầu tính ổn định trong quan hệ với khách hàng rất cao. Ở chiều ngược lại, các công ty hoạt động tại thị trường nước ngoài sẽ khó tiếp cận nguồn tín dụng tại thị trường nước ngoài, chi phí vay cũng lớn hơn so với công ty bản địa.
Vastrup (1983) cho rằng chi phí trong thẩm định tín dụng cho một doanh nghiệp mới là rất lớn.