Luận án tiến sĩ về quản lý nhà nước phát triển nông nghiệp công nghệ cao tại Hà Nội

Luận án tiến sĩ nghiên cứu quản lý nhà nước về phát triển nông nghiệp công nghệ cao của chính quyền địa phương cấp tỉnh nghiên, phát triển phương pháp mới, đánh giá hiệu quả ứng

Chuyên ngành

Khoa học quản lý

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2021

191
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Quản lý nhà nước về phát triển nông nghiệp công nghệ cao

Luận án tập trung phân tích vai trò của quản lý nhà nước trong việc thúc đẩy phát triển nông nghiệp công nghệ cao tại Hà Nội. Các chính sách và quy hoạch của chính quyền địa phương được xem xét kỹ lưỡng, đặc biệt là việc ban hành các chương trình hỗ trợ và đầu tư vào cơ sở hạ tầng. Luận án nhấn mạnh tầm quan trọng của việc xây dựng một hệ thống quản lý hiệu quả để đảm bảo sự phát triển bền vững của nông nghiệp công nghệ cao.

1.1. Chính sách nông nghiệp và đầu tư

Luận án đánh giá các chính sách nông nghiệp hiện hành, bao gồm các chính sách hỗ trợ vốn, đất đai và đào tạo nguồn nhân lực. Các chính sách này được xem là yếu tố then chốt để thu hút đầu tư nông nghiệp và thúc đẩy ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất. Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại những hạn chế trong việc triển khai và tiếp cận các chính sách này.

1.2. Quản lý nông nghiệp bền vững

Luận án đề cập đến việc quản lý nông nghiệp theo hướng bền vững, đảm bảo cân bằng giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường. Các giải pháp được đề xuất bao gồm việc tăng cường giám sát và kiểm soát các hoạt động sản xuất, đồng thời khuyến khích sử dụng công nghệ thân thiện với môi trường.

II. Phát triển nông nghiệp công nghệ cao tại Hà Nội

Luận án phân tích thực trạng phát triển nông nghiệp công nghệ cao tại Hà Nội, nơi được coi là trung tâm khoa học công nghệ hàng đầu của cả nước. Mặc dù có nhiều tiềm năng, việc ứng dụng công nghệ cao trong nông nghiệp vẫn chưa đạt được kỳ vọng. Luận án chỉ ra các nguyên nhân chính, bao gồm sự thiếu chuyên nghiệp trong quản lý và các chính sách chưa đi vào thực tiễn.

2.1. Công nghệ nông nghiệp và đổi mới

Luận án nhấn mạnh vai trò của công nghệ nông nghiệpđổi mới công nghệ trong việc nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm. Các mô hình ứng dụng công nghệ cao được nghiên cứu và đánh giá, từ đó đề xuất các giải pháp để nhân rộng các mô hình thành công.

2.2. Hỗ trợ nông dân và phát triển kinh tế

Luận án đề cập đến việc hỗ trợ nông dân trong việc tiếp cận công nghệ và nguồn vốn. Các chương trình đào tạo và tập huấn kỹ thuật được xem là yếu tố quan trọng để nâng cao năng lực sản xuất của nông dân, góp phần vào phát triển kinh tế nông thôn.

III. Giải pháp tăng cường quản lý nhà nước

Luận án đề xuất các giải pháp cụ thể để tăng cường quản lý nhà nước về phát triển nông nghiệp công nghệ cao tại Hà Nội. Các giải pháp bao gồm việc rà soát và hoàn thiện các chính sách hiện hành, tăng cường đầu tư vào cơ sở hạ tầng và nguồn nhân lực, đồng thời thúc đẩy sự phối hợp giữa các bên liên quan.

3.1. Rà soát quy hoạch và chính sách

Luận án đề xuất việc rà soát lại các quy hoạchchính sách nông nghiệp hiện có để đảm bảo tính khả thi và phù hợp với thực tiễn. Các chính sách cần được điều chỉnh để đáp ứng nhu cầu thực tế của người dân và doanh nghiệp.

3.2. Tăng cường đầu tư và phối hợp

Luận án nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tăng cường đầu tư nông nghiệp vào các lĩnh vực then chốt như cơ sở hạ tầng và công nghệ. Đồng thời, cần thúc đẩy sự phối hợp giữa chính quyền, doanh nghiệp và người dân để đảm bảo hiệu quả của các chương trình phát triển.

01/03/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN 1. Các nghiên cứu về phát triển nông nghiệp công nghệ cao 1. Các nghiên cứu nước ngoài về phát triển nông nghiệp công nghệ cao Cũng như nhiều lĩnh vực kinh tế khác, phát triển nông nghiệp là lĩnh vực được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm và khai thác ở các khía cạnh khác nhau, trong bối cảnh các quốc gia khác nhau. Linda Lundmark, Camilla Sandstrom (năm 2013) trong cuốn “Natural resources and regional development theory”(Lý thuyết nguồn lực tự nhiên và sự phát triển vùng) đã bàn về cơ cấu kinh tế nông thôn và các biểu hiện KT-XH của kinh tế nông thôn ở Thụy Điển như sự thay đổi hạ tầng kỹ thuật, sự phát triển KT-XH trên một quy mô tổng thể, đa chiều và phụ thuộc lẫn nhau chứ không phải chỉ một vài khía cạnh riêng lẻ.

Peterson trong cuốn "Agricultural structure and economic adjustment" (năm 1986) (Cơ cấu nông nghiệp và sự điều chỉnh nền kinh tế) đã đánh giá những yếu tố góp phần làm thay đổi chuyển đổi kinh tế nông nghiệp tại Mỹ và mô tả kinh nghiệm của châu Âu trong chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp, và cho rằng đây là những bài học quan trọng đối với Mỹ, nơi không có chính sách điều chỉnh cơ cấu một cách cụ thể. Trong nghiên cứu này, tác giả cũng cho rằng nước Mỹ nên tập trung vào các phương pháp để giảm bớt chi phí điều chỉnh chứ không phải về những nỗ lực để ngăn chặn quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp.Van der Heideb và W.Heijman trong cuốn "The economic impact of multifunctional agriculture in Dutch regions: An input-output model” (năm 2013) (Sự ảnh hưởng kinh tế của nền nông nghiệp đa chức năng ở các vùng miền Hà Lan: Mô hình cân đối liên ngành) đã làm rõ bốn khía cạnh của nền nông nghiệp đa chức năng bao gồm: (i) phát triển cây xanh, (ii) du lịch, giải trí, giáo dục, (iii) kinh doanh trang trại, và (iv) dịch vụ xanh.Alston (năm 2014) trong cuốn “Agriculture in the Global Economy” (Nông nghiệp trong nền kinh tế toàn cầu) đã nghiên cứu về triển vọng phát triển nông nghiệp trên thế giới diễn ra khác nhau ở các nền kinh tế khác nhau, cụ thể là sản lượng nông nghiệp có xu hướng giảm ở các nước có thu nhập cao như Mỹ trong khi đó lại tăng ở các nước thu nhập trung bình như Trung Quốc, Ấn Độ, Brazil, Indonesia. Khi phân tích các mô hình tăng trưởng nông nghiệp ở các nước có thu nhập trung bình, các tác giả đã đưa ra đề nghị chuyển đổi cơ cấu ngành nông nghiệp để đáp ứng nhu cầu ngày càng gia tăng cho những người nghèo. Barbara 7 Chmielewska (năm 2009) trong cuốn "The Problems of Agriculture and Rural Areas in the Process of European Integration” (Vấn đề nông nghiệp, nông thôn trong quá trình hội nhập châu Âu) đã khẳng định ngành nông nghiệp trên thế giới sẽ ít có cơ hội phát triển nếu không có sự hỗ trợ tài chính của chính phủ EU, đặc biệt là tại các nước kém phát triển.

Do vậy, giải pháp chính cho phát triển nông nghiệp ở các nước EU là phát triển đa ngành, đa lĩnh vực. Chỉ có phát triển đa ngành, đa lĩnh vực mới có thể đảm bảo cho nông nghiệp phát triển bền vững. Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp Quốc (FAO) trong tài liệu “Rapid growth of selected Asian economies Lessons and implications for agriculture and food security China and India” (2006) (Bài học tăng trưởng nhanh của các nền kinh tế tiêu biểu ở châu Á và ý nghĩa đối với sản xuất nông nghiệp và an ninh lương thực ở Trung Quốc và Ấn Độ) đã cho thấy sự phát triển kinh tế của một nước bắt đầu bằng việc phát triển và tái cơ cấu nông nghiệp theo nhu cầu thị trường; quá trình tái cơ cấu lại nông nghiệp liên quan đến việc đa dạng hóa các lĩnh vực hoạt động để đáp ứng những nhu cầu trong nước và thương mại quốc tế. Minna Mikkola (2008), trong tác phẩm “Coordinative structures and development of food supply chains” đã tổng kết 4 cơ chế quản lý: Quan hệ thị trường, quan hệ thứ bậc (hay quan hệ quyền lực), quan hệ mạng lưới (network) và quan hệ xã hội đều là các quan hệ quan trọng ảnh hưởng đến sự phát triển nông nghiệp và các chính sách phát triển nông nghiệp của chính phủ.

Chủ đề ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất nông nghiệp được nhiều tác giả quan tâm từ rất sớm, trong đó, điển hình là các tác giả: Feder và cộng sự (1985); Hoppel (1994); Foster và Roenweing (1996); kohli và Singh (1997); Rogers (2003) và Uaiene (2009). Những tác giả này đã khẳng định công nghệ là yếu tố quyết định đến phát triển nông nghiệp công nghệ cao; Radhika Kapur (2018), nghiên cứu việc sử dụng công nghệ trong ngành nông nghiệp ở Ấn Độ và chỉ ra vai trò quan trọng của việc ứng dụng công nghệ trong sản xuất và phát triển nông nghiệp. Trong nghiên cứu của mình, tác giả đã khẳng định sự phát triển của nông nghiệp ở Ấn Độ mặc dù đã đạt được một số kết quả nhất định nhưng năng suất còn thấp so với các nước, việc áp dụng công nghệ sản xuất, công nghệ thu hoạch còn hạn chế. Tác giả cũng đề xuất cần ứng dụng công nghệ, kỹ thuật, các phương pháp hiện đại vào sản xuất nông nghiệp để cải thiện điều kiện làm việc của người lao động, tăng năng suất và nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân.

Dan Senor - Saul singer (2008), trong tác phẩm quốc gia khởi nghiệp, câu chuyện về nền kinh tế thần kỳ của Israel, NXB Thế giới, đã nghiên cứu và đưa ra mô hình phát triển, ứng dụng công nghệ cao vào phát triển nông nghiệp của Israel. 8 Trong xu hướng diện tích đất và lao động nông nghiệp ngày càng suy giảm, sản xuất nông nghiệp công nghệ cao trở thành một yêu cầu tất yếu đối với tất cả các quốc gia trên thế giới nhằm giải quyết được những vấn đề về lương thực, thực phẩm và nguyên liệu… Phát triển nông nghiệp công nghệ cao đã được thực hiện từ nhiều thập kỷ trước đây ở nhiều nước trên thế giới. Đặc biệt bằng việc hình thành các khu nông nghiệp công nghệ cao ở các nước như Mỹ, Anh, Nhật Bản, Hà Lan, Israel, Trung Quốc, Thái Lan, Đài Loan. Bonzovanni và Lowenberg-Deboer (2004), Silva và cộng sự (2007), Frankelius và cộng sự (2017) đã chỉ ra rằng nông nghiệp công nghệ cao đóng góp vai trò rất quan trọng dưới các góc độ môi trường và kinh tế cho phát triển nông nghiệp bền vững trong dài hạn.

Theo Mondal và Basu (2009), phát triển nông nghiệp công nghệ cao là một trong các cách để rút ngắn khoảng cách giữa người giàu và người nghèo trên thế giới, đặc biệt là ở các nước đang phát triển. Huy Tú (2017), thu hút đầu tư vào nông nghiệp công nghệ cao đã được chú trọng bởi rất nhiều nước trên thế giới. Từ giữa thế kỷ XX, tại các nước phát triển đã xây dựng các khu nông nghiệp công nghệ cao; Chẳng hạn ở Mỹ, đầu những năm 1980 đã có trên 100 khu nông nghiệp công nghệ. Hay ở Anh, năm 1988 đã có 38 khu vườn khoa học công nghệ với hơn 800 doanh nghiệp.

Phần Lan, năm 1996 có 9 khu khoa học nông nghiệp công nghệ cao. Tại châu Âu, hiện nay đặc biệt khuyến khích xu hướng áp dụng công nghệ cao trong sản xuất nông nghiệp với chương trình Chính sách nông nghiệp chung (PAC). Đến nay, tại Liên minh châu Âu (EU) toàn bộ các gia đình châu Âu được kết nối Internet với tốc độ cao, nông dân được đào tạo, tiếp cận các khoa học, kỹ thuật số để phục vụ hiện đại hóa các trang trại, tạo thêm việc làm và thành lập mới các doanh nghiệp tại khu vực nông thôn. Bên cạnh các nước châu Âu, châu Mỹ, nhiều nước ở châu Á cũng đã chuyển nền nông nghiệp truyền thống quan tâm nhiều đến số lượng sản phẩm sang chất lượng nông sản, ứng dụng khoa học, công nghệ cao, tiêu biểu như một số nước: Trung Quốc, Đài Loan, Thái Lan.

Hiện nay Trung Quốc đã có 405 khu nông nghiệp công nghệ cao, trong đó có 1 khu nông nghiệp công nghệ cao cấp quốc gia, 42 khu cấp tỉnh và 362 khu cấp thành phố. Những khu này đóng vai trò rất quan trọng trong việc phát triển nông nghiệp hiện nay của Trung Quốc. Sản xuất tại các khu nông nghiệp công nghệ cao đạt năng suất cao kỷ lục. Chẳng hạn, tại Israel năng suất của cà chua đạt 250 – 300 tấn/ha, bưởi đạt 100 – 150 tấn/ha, hoa cắt cành 1,5 triệu cành/ha… đã tạo ra giá trị sản lượng bình quân 120.

Đặc biệt, tại Trung Quốc giá trị sản lượng bình quân đạt 40.000 USD/ha/năm, gấp 40 - 50 lần so với các mô hình trước đó (Huy Tú, 2017). Do đó, nông nghiệp công nghệ cao đã và đang trở 9 thành mẫu hình cho nền nông nghiệp tri thức thế kỷ XXI trên thế giới. Tuy nhiên, điều kiện thu hút doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp công nghệ cao cần quan tâm tới: (i) Quy mô diện tích tiến hành, (ii) Thị trường đầu vào và đầu ra, (iii) Lợi nhuận của doanh nghiệp và thu nhập của người nông dân, (iv) Thể chế chính sách phải đảm bảo hài hòa giữa lợi ích của doanh nghiệp và người nông dân. Theo Hallam (2011), rất nhiều nước trên thế giới đặc biệt là các nước đang phát triển ngày càng chú trọng vào thu hút đầu tư vào nông nghiệp, đặc biệt là nông nghiệp công nghệ cao.

Để thu hút doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp công nghệ cao đòi hỏi các cấp chính quyền phải có các cơ chế hỗ trợ đồng bộ từ cơ sở hạ tầng, vốn. đến thị trường tiêu thụ. Tseng và Zebregs (2002), Murakami và cộng sự (2007) đã chỉ ra rằng phát triển cơ sở hạ tầng sẽ phát huy hiệu quả trong việc thu hút đầu tư vào nông nghiệp nói chung và nông nghiệp công nghệ cao nói riêng. Zhang và cộng sự (2010) khi tiến hành nghiên cứu ở tỉnh Hắc Long Giang, Trung Quốc cho rằng, để phát triển và thu hút đầu tư vào nông nghiệp công nghệ cao các cấp chính quyền cần tập trung vào các vấn đề sau đây: (i) tăng cường hỗ trợ một cách linh hoạt về vốn và công nghệ; (ii) tăng cường xây dựng cơ sở hạ tầng về thông tin nông nghiệp; (iii) xây dựng các mô hình trình diễn về nông nghiệp công nghệ cao; và (iv) đầu tư cho nghiên cứu các thiết bị công nghệ gắn với quyền sở hữu trí tuệ.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án tiến sĩ: Quản lý nhà nước phát triển nông nghiệp công nghệ cao tại Hà Nội là một nghiên cứu chuyên sâu về vai trò của nhà nước trong việc thúc đẩy nông nghiệp công nghệ cao tại thủ đô. Luận án tập trung vào các chính sách, cơ chế quản lý và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp, ứng dụng công nghệ hiện đại và phát triển bền vững. Đây là tài liệu hữu ích cho các nhà quản lý, nhà nghiên cứu và những ai quan tâm đến lĩnh vực nông nghiệp công nghệ cao.

Để mở rộng kiến thức về quản lý nông nghiệp và chính sách liên quan, bạn có thể tham khảo thêm Luận văn thạc sĩ đánh giá tác động của chính sách thủy lợi phí trên địa bàn Hà Nội, nghiên cứu này cung cấp cái nhìn sâu sắc về ảnh hưởng của chính sách thủy lợi đến hoạt động nông nghiệp. Ngoài ra, Luận văn thạc sĩ đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp tại Chí Linh, Hải Dương cũng là một tài liệu tham khảo hữu ích, giúp hiểu rõ hơn về quản lý và tối ưu hóa sử dụng đất nông nghiệp. Cuối cùng, Luận văn thạc sĩ phát triển kinh tế nông nghiệp tại huyện Định Hóa, Thái Nguyên mang đến góc nhìn về phát triển nông nghiệp ở địa phương, bổ sung thêm kiến thức cho chủ đề này.