Chương I: Tổng quan về quản lý không gian xanh đô thị. - Chương II: Cơ sở khoa học quản lý không gian xanh thành phố Huế. - Chương III: Giải pháp quản lý không gian xanh thành phố Huế. Một số khái niệm, thuật ngữ sử dụng trong luận án 8.
Không gian xanh đô thị Ở nước ta trong những năm qua trong các văn bản quy định đều sử dụng khái niệm quản lý cây xanh đô thị. Cho đến năm 2013 tại Thông tư số 06/2013/TT-BXD hướng dẫn về thiết kế đô thị đã nêu không gian xanh của đô thị bao gồm “hành lang xanh, vành đai xanh, nêm xanh, công viên hoặc rừng tự nhiên, nhân tạo trong đô thị”. Đây là vấn đề mới đối với nước ta, vì vậy việc làm rõ hơn khái niệm không gian xanh cần được phân tích đầy đủ hơn ở Chương II của Luận án. Không gian mở Không gian mở đề cập đến môi trường ngoài trời, trong đó kết hợp khuyến khích các hoạt động thể chất của con người.
Không gian mở bao gồm các khu vực mở (cả mặt đất và mặt nước) có giá trị vui chơi giải trí, bảo tồn thiên nhiên, văn hóa lịch sử hoặc các mục đích thẩm mỹ. Cảnh quan Là một bộ phận của bề mặt trái đất, có những đặc điểm riêng về địa hình, khí hậu, thủy văn, đất đai, động thực vật,…nghĩa là một tổ hợp phong cảnh có thể khác nhau, nhưng tạo nên một biểu tượng thống nhất về cảnh quan chung của địa phương. [27] - Cảnh quan thiên nhiên: Được tạo thành trong tiến trình phát triển tự nhiên của môi trường thiên nhiên không do con người tạo ra. Cảnh quan thiên nhiên gồm 5 yếu tố hợp thành: địa hình, nước, thực vật, động vật và không trung.
Các yếu tố này nằm trong một quá trình phát sinh và phát triển liên quan tác động lẫn nhau trong một cơ thể thống nhất hoàn chỉnh của trái đất. [27] - Cảnh quan nhân tạo: Là cảnh quan thiên nhiên bị biến đổi trong quá trình hoạt động sống của con người. Phát triển bền vững 8 Trong báo cáo “Tương lai của chúng ta” Hội đồng thế giới về môi trường và phát triển (WCED) do Cựu Thủ tướng Na Uy, Gro Harlem Brundtland là chủ tịch đã đưa ra ý tưởng và khái niệm về phát triển bền vững. Đó là: “Những thế hệ hiện tại cần đáp ứng nhu cầu của mình, mà không làm tổn hại đến khả năng của các thế hệ tương lai trong đáp ứng các nhu cầu của họ”.
Theo Ngân hàng thế giới (WB) thì phát triển bền vững gồm 3 mục tiêu: Kinh tế, xã hội và môi trường hài hòa với nhau. Môi trường, môi trường đô thị và hệ sinh thái học * Môi trường là toàn bộ các hệ thống tự nhiên và các hệ thống do con người tạo ra, trong đó con người sinh sống bằng lao động và khai thác các tài nguyên thiên nhiên hoặc nhân tạo nhằm thỏa mãn các nhu cầu của mình.TS Lê Hồng Kế: “Môi trường đô thị trước hết là môi trường thiên nhiên, mà trên đó con người tạo nên những hoạt động vật chất để phục vụ sự sống của con người”. Thành phần của môi trường đô thị bao gồm các yếu tố thành phần tự nhiên và nhân tạo. Trong đó thành phần tự nhiên bao gồm: địa hình, đất, nước, không khí, khí hậu, động thực vật, các hệ sinh thái, sồng ngòi, ao hồ.[23] * Đa dạng hệ sinh thái: Sự phong phú về sinh cảnh trên cạn và môi trường dưới nước của Trái đất đã tạo nên một số lượng lớn hệ sinh thái, những sinh cảnh rộng lớn gồm rừng mưa nhiệt đới, đồng cỏ, đất ngập nước, san hô và rừng ngập mặn chứa đựng nhiều hệ sinh thái khác nhau.[23] * Hệ sinh thái học: [47] Là một hệ thống bao gồm các quần xã (thành phần hữu sinh) và các môi trường sống của chúng (các thành phần vô sinh) trong hệ sinh thái, các thành phần hữu sinh và vô sinh luôn có sự tác động lẫn nhau và tạo ra hệ thống môi sinh để hợp thành một quần thể thống nhất.
Một cái hồ, khúc sông, khu rừng…, gồm các sinh vật và môi trường của chúng được coi là hệ sinh thái. Các nhân tố sinh thái theo nguồn gốc và đặc trưng tác động mà chia ra thành nhóm sinh thái vô sinh, nhóm sinh thái hữu sinh. Rừng Theo định nghĩa của FAO, rừng là một khu đất liền khoảnh lớn hơn 0,5 ha với chiều cao cây lớn hơn 5 m và độ tàn che lớn hơn 10%, hoặc cây rừng có thể đạt được chiều cao và độ tàn theo tiêu chí này trong điều kiện nguyên sản. [72] Rừng là một hệ sinh thái bao gồm quần thể thực vật rừng, động vật rừng, vi sinh vật rừng, đất rừng và các yếu tố môi trường khác, trong đó cây gỗ, tre nứa hoặc hệ thực vật đặc trưng là thành phần chính có độ che phủ của tán rừng từ 0,1 trở lên.
Rừng gồm rừng trồng và rừng tự nhiên trên đất rừng sản xuất, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng. Độ che phủ của tán rừng Là mức độ che kín của tán cây rừng đối với đất rừng, được biểu thị bằng tỉ lệ phần mười giữa diện tích đất rừng bị tán cây rừng che bóng và diện tích đất rừng. Rừng đặc dụng Rừng đặc dụng được sử dụng chủ yếu để bảo tồn thiên nhiên, mẫu chuẩn hệ sinh thái rừng của quốc gia, nguồn gen sinh vật rừng; nghiên cứu khoa học; bảo vệ di tích lịch sử, văn hoá, danh lam thắng cảnh; phục vụ nghỉ ngơi, du lịch, kết hợp phòng hộ, góp phần bảo vệ môi trường, bao gồm 4 loại: i) Vườn quốc gia; ii) Khu bảo tồn thiên nhiên gồm khu dự trữ thiên nhiên, khu bảo tồn loài - sinh cảnh; iii) Khu bảo vệ cảnh quan gồm khu rừng di tích lịch sử, văn hoá, danh lam thắng cảnh; iv) Khu rừng nghiên cứu, thực nghiệm khoa học”. Sinh khối [30] Sinh khối là các vật chất hữu cơ ở trên và dưới mặt đất và cả thực vật sống và thực vật chết ví dụ như cây thân gỗ, cây hoa màu/lương thực, cây thân cỏ, thảm mục, rễ cây, v.
Sinh khối bao gồm cả các bề được xác định ở trên và dưới mặt đất. Sinh khối rừng: Được định nghĩa là tổng lượng vật chất hữu cơ sống trên mặt đất trong rừng, được tính bằng tấn khô trên một đơn vị diện tích (rừng, ha, 10 vùng, hoặc quốc gia). Sinh khối rừng được phân loại thành sinh khối trên mặt đất và sinh khối dưới mặt đất. Quản lý nhà nước Quản lý nhà nước là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực Nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người để duy trì và phát triển các mối quan hệ xã hội và trật tự pháp luật nhằm thực hiện những chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước.
Theo nghĩa rộng, quản lý nhà nước là toàn bộ hoạt động của bộ máy nhà nước, từ hoạt động lập pháp, hoạt động hành pháp, đến hoạt động tư pháp. Theo nghĩa hẹp, quản lý nhà nước chỉ bao gồm hoạt động hành pháp. Quản lý đô thị Quản lý đô thị là một khoa học tổng hợp được xây dựng trên cơ sở của nhiều khoa học chuyên ngành, bao gồm hệ thống chính sách, cơ chế, biện pháp và phương tiện được chính quyền nhà nước các cấp sử dụng để tạo điều kiện quản lý và kiểm soát quá trình tăng trưởng đô thị. Theo một nghĩa rộng thì quản lý đô thị là quản lý con người và không gian sống (ăn, ở, làm việc, nghỉ ngơi…) ở đô thị.
Quản lý đô thị bao gồm quản lý hành chính đô thị và quản lý nghiệp vụ trong mọi lĩnh vực ở đô thị. [13] Quản lý chuyên môn, nghiệp vụ của các ngành, lĩnh vực của đô thị: Là các hoạt động của cơ quan chuyên môn các cấp, thực hiện chức năng tham mưu, giúp các cơ quan của Chính phủ, Ủy ban nhân dân các cấp quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực ở địa phương theo quy định của pháp luật và theo phân công hoặc ủy quyền của Chính phủ, Ủy ban nhân dân các cấp. [13] 11 PHẦN NỘI DUNG Chương 1. TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ KHÔNG GIAN XANH 1.
Tổng quan về quản lý không gian xanh tại một số thành phố trên thế giới và Việt Nam Quản lý không gian xanh đô thị là quản lý chuyên môn, nghiệp vụ ở đô thị, thực hiện chức năng tham mưu, giúp các cơ quan của Chính phủ, Ủy ban nhân dân các cấp quản lý nhà nước theo quy định của pháp luật đối với không gian xanh. Công tác quản lý không gian xanh đô thị được xác định bao gồm từ bước lập quy hoạch đến đầu tư phát triển và khai thác sử dụng. Công tác quản lý không gian xanh đô thị được thực hiện bởi bộ máy quản lý nhà nước cùng với sự tham gia của cộng đồng, nhằm đảm bảo tính công khai, minh bạch và sự phát triển bền vững. Một số thành phố trên thế giới Ở các quốc gia có thể chế chính trị, xã hội khác nhau thì có chính sách quản lý xã hội khác nhau, nhưng tùy theo mỗi thời kỳ phát triển các chính sách quản lý xã hội có thể thay đổi tùy thuộc sự biến động chính trị, kinh tế, xã hội của quốc gia đó hoặc trong khu vưc và thế giới.
Tuy nhiên để cùng hướng đến mục tiêu phát triển bền vững, ứng phó với biến đổi khí hậu thì công tác quản lý kinh tế xã hội đều có yêu cầu chung đó là giảm phát thải khí nhà kính, bảo vệ môi trường sinh thái… Do vậy để có thể góp phần đạt được mục tiêu chung nêu trên, việc quản lý tốt hệ thống không gian xanh là một trong những giải pháp có hiệu quả mà không phải tốn nhiều kinh phí. Nhiều nước trên thế giới và trong khu vực đã trải qua những vấn đề của thực tiễn phát triển trước Việt nam, sẽ là những bài học quý đối với công tác quản lý không gian xanh đô thị Việt Nam nói chung và đối với thành phố Huế nói riêng.