Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU Ở NƯỚC NGOÀI VỀ QUẢN LÝ ĐẦU TƯ Nghiên cứu về đầu tư nói chung, quản lý đầu tư trong các cơ quan của nhà nước nói riêng đã được các nhà nghiên cứu nước ngoài đề cập đến khá nhiều. Sau đây có thể nêu lên một số công trình có liên quan đến lĩnh vực này: - Vấn đề đầu tư công: Đầu tư công có vai trò rất quan trọng không những góp phần ổn định, tăng trưởng kinh tế mà cón có vai trò giải quyết các vấn đề xã hội. Một trong những vai trò xã hội của đầu tư công là giảm nghèo.
Bài viết: “The role of Public In vestment in Poverty Reduction: Theories, Evidences and Methods: - Vai trò của đầu tư công trong giảm nghèo của tác giả Edward Anderson, Paolo de renzio và Stepphanie Levy đã đưa ra các lý thuyết và bằng chứng về vai trò của đầu tư công trong giảm nghèo thông qua chứng minh hiệu quả của đầu tư công trong tăng trưởng, sản xuất, giảm nghèo và cân bằng xã hội. Bên cạnh đó các tác giả cũng đề xuất phương pháp thẩm định dự án đầu tư công và phân bổ tối ưu giữa các vùng nhằm đạt được mục tiêu xã hội cao nhất đối với các quốc gia trong từng thời kỳ.[80] Tác giả Jimenez đã nghiên cứu và chỉ ra rằng tình hình các nước đang phát triển đầu tư công vào cơ sở hạ tầng vật chất và phục vụ con người, đầu tư công phát triển cơ sở hạ tầng thúc đẩy tiêu dùng trực tiếp và góp phần tác động đến sản lượng, tăng phúc lợi gián tiếp qua việc cải thiện hệ thống giao dịch trên thị trường. Tác giả tập trung nghiên cứu vào các dự án đầu tư trong lĩnh vực kết cấu hạ tầng kỹ thuật thuộc các lĩnh vực như giao thông, thủy lợi, vào kết cấu hạ tầng xã hội, hạ tầng nhân lực như y tế, giáo dục. Từ đó cho thấy, tác giả nghiên cứu đầu tư vào cơ sở hạ tầng vật chất và con người sẽ có tác động tích cực đối với thực hiện xóa đói, giảm nghèo, giảm chênh lệch 11 vùng miền, thúc đẩy tăng trưởng.
Đối với các tác giả Easterly và Rebelo, Ahmed và Miller, Greene và Villanueva), Ghura và Goodwin, Cavallo và Daude tập trung nghiên cứu về đầu tư tư nhân không nghiên cứu về đầu tư công nhưng các kết quả của các công trình nghiên cứu này cho ta thấy được mối tương quan của đầu tư công với đầu tư tư nhân và các kết quả này chỉ ra: ở một số nước đầu tư công có ảnh hưởng lấn át đầu tư tư nhân. Theo các tác giả Cavallo và Daude đã sử dụng phương pháp nghiên cứu số liệu chuỗi (panel data) cho 116 quốc gia đang phát triển trong giai đoạn từ năm 1980 đến năm 2006 để đưa ra kết quả là đầu tư công lấn át rất mạnh đầu tư tư nhân, tức tăng đầu tư công làm giảm đầu tư tư nhân. Tiếp đến, mức độ lấn át của đầu tư công phụ thuộc vào một số yếu tố như: sức mạnh nền kinh tế, cơ chế, chính sách của mỗi quốc gia … Đối với một số quốc gia, đầu tư công thường là lôi kéo đầu tư tư nhân chứ không lấn lướt đầu tư công. Từ đó, các quốc gia nên đầu tư công tập trung vào mức tăng năng suất và sức cạnh tranh của nền kinh kế của mình nhất là những lĩnh vực có lợi tức xã hội lớn nhất và tạo cơ hội cho đầu tư tư nhân phát triển dẫn đến nền kinh tế phát triển.
Nghiên cứu về đầu tư công các nhà nghiên cứu không chỉ quan tâm đến phương pháp quản lý đầu tư công mà còn quan tâm đến việc đánh giá quản lý đầu tư công để từ đó rút ra những hạn chế trong quản lý đầu tư công để có những giải pháp phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư công, tiết kiệm ngân sách trong điều kiện hạn chế về tài chính. Bài viết “Fiscal Austerity and Pucblic Investment” – Thắt chặt tài chính và đầu tư công của Wolfgang Streeck and Daniel Mertens đã thông qua việc chứng minh tình hình đầu tư công của 3 quốc gia: Đức, Thụy Điển (giai đoạn từ năm 1981 đến năm 2007) và Mỹ. Nghiên cứu đã chỉ ra rằng đầu tư công của các quốc gia này có xu hướng tăng đầu tư công cho phần mềm (tăng đầu tư cho giáo dục, cho nghiên cứu và phát triển, hỗ trợ các gia đình và chính sách của thị trường lao động. Bài báo“A Diagnostic Framework for Assessing Public Investment Management”.
[93] 12 Có thể thấy rằng, quan điểm của các nhà khoa học về lĩnh vực đầu tư công là không giống nhau. Các nhà kinh tế Paul A. Samuelson và William D, Nordhaus trong cuốn “Kinh tế học”, khi trình bày về phương thức ra quyết định của các cơ quan nhà nước, đã đi đến kết luận: Kết quả của các quyết định công cộng là không rõ ràng. Nó có thể là hiệu quả khi làm cho phúc lợi tăng lên; nó cũng có thể là một thất bại nếu làm cho hiệu quả chung giảm xuống vì tác động của nhóm lợi ích; phổ biến nhất là một kết quả chỉ mang tính chất phân phối lại.
Nhà khoa học Joseph E. Stiglitz trong “Kinh tế công cộng”, khó đánh giá kết quả hoạt động của các cơ quan quản lý nhà nước, vì thế, người ta phải thay thế đánh giá kết quả bằng đánh giá theo quy trình, thủ tục. Hơn nữa, cũng khó đánh giá theo mục tiêu vì các cơ quan quản lý nhà nước thường theo đuổi một lúc nhiều mục tiêu và ít khi lựa chọn đúng mục tiêu ưu tiên. Ông cũng cho rằng, nhà quản lý công thường ưu tiên theo đuổi quyền lực hơn là hiệu quả hoạt động của cơ quan và họ không mấy khi thích mạo hiểm để tăng hiệu suất hoạt động của dự án đầu tư vì họ không có lợi ích gắn trực tiếp với hiệu quả tăng thêm đó [29,tr.
Đối với nghiên cứu của Mello đã phân tích sự phân quyền của chính sách tài khóa và đầu tư công ở các nước châu Mỹ La tinh. Số liệu tại các nước châu Mỹ La tinh cho thấy, tỷ lệ đầu tư/GDP trung bình và chất lượng cơ sở hạ tầng ở khu vực này tương đối thấp. Theo tác giả, việc phân quyền từ những năm 1990 là nguyên nhân làm cho chính quyền địa phương không có động lực để đầu tư vào cơ sở hạ tầng và tích lũy vốn [86]. Kết quả nghiên cứu của các tác giả Chakraborty và Dabla-Norris đã chỉ ra vai trò của bộ máy quản lý đầu tư công: nếu bộ máy quan liêu, kém hiệu quả và tham nhũng sẽ gây ra hậu quả xấu, giảm chất lượng và hiệu quả VĐT, tác động tiêu cực tới tăng trưởng [77].
Theo tác giả Flyvbjerg, tình trạng lãng phí, thất thoát, chi phí vượt vốn ban đầu, hiệu quả thấp tại các dự án đầu tư công vào hệ thống kết cấu hạ tầng chủ yếu do yếu kém trong công tác giám 13 sát, đánh giá dự án đầu tư làm cho dự án tiêu tốn nhiều kinh phí nhưng hiệu quả lại thấp hơn mong đợi [76;88;82]. Một khung chuẩn cho đánh giá quản trị đầu tư công được thực hiện bởi các tác giả Tuan Minh Le, Anerd Rajaram, Nataliya Biletska và Jim Brumby. Các nhóm tác giả này đã làm việc cho Ngân hàng thế giới (WB) khoảng 3 năm, từ năm 2005 đến năm 2007 trong lĩnh vực nghiên cứu về chính sách tài chính cho tăng trưởng và phát triển của các quốc gia. Kết quả của Nhóm tác giả này đã chỉ ra rằng có 8 nội dung cơ bản của một hệ thống quản lý đầu tư công tốt: (1) hướng dẫn đầu tư, chuẩn bị dự án và phát triển dự án; (2) thẩm định dự án; (3) tổng quan một cách độc lập thẩm định dự án; (4) lựa chọn dự án và ngân sách; (5) thực hiện dự án; (6) điều chỉnh dự án; (7) tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động của dự án; (8) đánh giá dự án [80].
Từ các kết quả nghiên cứu này, các tác giả trên đưa ra các mối quan hệ mật thiết giữa đầu tư công và đầu tư vào phần mềm trong điều kiện ngân sách hạn hẹp để đạt hiệu quả cao. Thông qua các kết quả nghiên cứu đã giúp các tác giả phát triển một khung chuẩn để đánh giá từng giai đoạn trong chu trình quản lý đầu tư công. Đồng thời, giúp các tác giả nhằm mục đích thúc đẩy việc đánh giá quản lý đầu tư công của chính phủ, các cơ quan sử dụng nguồn vốn NSNN, tìm ra những nguyên nhân dẫn đến quản lý đầu tư công chưa hiệu quả và từ đó khắc phục các hạn chế trong quản lý đầu tư công. Trong bài viết về đánh giá hiệu quả đầu tư công của các tác giả Era Babla – Norris, Jim Brumby, Annette Kyobe, Xa Mills, và Chris Papageorgiou – IMF, tiêu đề bài viết “Investing in Public Investment, an Index of Public Investment Efficiency”: - Khảo sát đầu tư công, một chỉ tiêu hiệu quả của đầu tư công đã đề xuất một chỉ số mới khái quát về quy trình quản lý đầu tư công qua bốn giai đoạn khác nhau: (1) Thẩm định dự án, (2) Lựa chọn dự án, (3) Thực hiện đầu tư, (4) Đánh giá đầu tư.
Nghiên cứu này được tiến hành khảo sát tại hơn 71 quốc gia, trong đó có 40 quốc gia có thu 14 nhập thấp và 31 quốc gia có thu nhập trung bình. Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng, các chỉ số co thể sử dụng để đánh giá, so sánh các quốc gia có chính sách đầu tư công có nhiều điều kiện tương đồng với nhau và điều kiện này phát huy hiệu quả nhất ở nhưng quốc gia luôn chú trọng đến các cải cách trong đầu tư công. Nhược điểm của phương pháp nghiên cứu này chỉ được ứng dụng trên phạm vi quốc gia, còn đối với đầu tư công ở phạm vi địa phương thì không đủ điều kiện để phát huy hiệu quả các nghiên cứu này. Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra 4 nội dung cơ bản như: (1) Cung cấp cách nhìn tổng thể và lý giải bản chất của phân cấp trên nhiều phương diện khác nhau, (2) Phân tích các hình thức phân cấp cơ bản: phân cấp chính trị, phân cấp hành chính và phân cấp tài chính, (3) Xem xét việc phân cấp trên các lĩnh vực cụ thể như phân cấp trong giáo dục, y tế, quản lý tài nguyên,… (4) Những lợi ích tiềm năng của phân cấp đối với vấn đề bình đẳng xã hội, ổn định và tăng trưởng kinh tế, trách nhiệm báo cáo và vấn đề tham nhũng.