Tổng quan về luận án

Bối cảnh khoa học của công trình nghiên cứu bắt nguồn từ yêu cầu chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế, đưa du lịch thực sự trở thành "Ngành kinh tế mũi nhọn" theo tinh thần Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 16/01/2017 của Bộ Chính trị và định hướng phát triển bền vững thích ứng với biến đổi khí hậu theo Nghị quyết số 120/NQ-CP năm 2017 của Chính phủ. Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là vùng đất sở hữu tài nguyên du lịch sinh thái sông nước phong phú và bản sắc văn hóa bản địa độc đáo, song hiệu quả khai thác chưa tương xứng với tiềm năng. Minh chứng thực tế trong 6 tháng đầu năm 2018, toàn vùng chỉ đón được gần 1,6 triệu lượt khách quốc tế trong tổng số hơn 7,8 triệu lượt khách quốc tế đến Việt Nam (chiếm tỷ lệ khiêm tốn khoảng 20,5%). Theo Quyết định số 2227/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch vùng ĐBSCL đến năm 2020, tầm nhìn 2030, mục tiêu đặt ra là đón 34 triệu lượt khách (3,5 triệu khách quốc tế, doanh thu 25.000 tỷ đồng) vào năm 2020 và 52 triệu lượt khách (6,5 triệu khách quốc tế) vào năm 2030. Khoảng cách giữa mục tiêu chiến lược và năng lực thực thi đòi hỏi một bước chuyển dịch căn bản trong phương thức quản lý công.

Khoảng trống nghiên cứu (research gap) cốt lõi được xác định: Các công trình trước đây của Martin Oppermann và Kye-Sung Chon (1997), Stephen J. Page và Don Getz (1997), hay các nghiên cứu trong nước của Nguyễn Tấn Vinh (2008), Ngô Nguyễn Hiệp Phước (2018) chủ yếu tiếp cận quản lý du lịch dưới giác độ kinh tế đơn ngành hoặc giới hạn ở cấp độ ranh giới hành chính một tỉnh riêng lẻ (như Sơn La, Cần Thơ, Tiền Giang). Thiếu vắng một nghiên cứu liên ngành toàn diện kết hợp giữa quản lý theo ngành dọc và quản lý theo lãnh thổ ngang ở quy mô liên kết cấp vùng (regional public governance).

Hệ thống câu hỏi nghiên cứu (Research Questions - RQ) và giả thuyết nghiên cứu (Hypotheses - H) được xác lập:

  • RQ1: Cơ sở lý luận và khung thể chế nào chi phối quản lý nhà nước (QLNN) về du lịch vùng trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa?
  • RQ2: Thực trạng vận hành các công cụ QLNN (hoạch định, thể chế hóa, tổ chức bộ máy, thanh kiểm tra) tại 13 tỉnh/thành ĐBSCL giai đoạn 2015–2018 bộc lộ những nút thắt thể chế và mâu thuẫn phân cấp nào?
  • RQ3: Mức độ tác động của các nhân tố quản trị công (năng lực cán bộ, cơ chế tài chính, liên kết vùng) đến hiệu quả thực thi mục tiêu du lịch được lượng hóa như thế nào?
  • RQ4: Khung giải pháp đột phá nào giúp hoàn thiện QLNN về du lịch vùng ĐBSCL giai đoạn đến năm 2025, tầm nhìn 2030?

Hệ thống giả thuyết kiểm định:

  • H1: Mức độ hoàn thiện của hệ thống văn bản quy phạm pháp luật cấp địa phương có mối tương quan thuận chiều chặt chẽ với hiệu quả quản lý trật tự kinh doanh du lịch.
  • H2: Năng lực hoạch định chiến lược và phân bổ nguồn lực công tác động có ý nghĩa thống kê đến chất lượng phát triển kết cấu hạ tầng du lịch vùng.
  • H3: Cơ chế liên kết vùng liên tỉnh có tác động điều tiết tích cực đến tính độc đáo và sức cạnh tranh của sản phẩm du lịch đặc thù.
  • H4: Hiệu lực của công tác thanh tra, kiểm tra và cơ chế đối thoại tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp tác động trực tiếp đến nhóm mục tiêu tăng trưởng và phúc lợi kinh tế tổng hợp.

Khung lý thuyết vận dụng tích hợp Lý thuyết Quản lý công mới (New Public Management - NPM), Lý thuyết Thể chế (Institutional Theory), và Lý thuyết Chu kỳ sống của điểm đến du lịch (TALC). Phạm vi nghiên cứu bao quát toàn bộ 13 tỉnh, thành phố vùng ĐBSCL trong khung thời gian phân tích thực trạng từ 2015 đến 2018, tập trung chuyên sâu vào 3 địa bàn trọng điểm: Thành phố Cần Thơ (đô thị hạt nhân điều phối), tỉnh Kiên Giang (trọng điểm cụm phía Tây, dẫn đầu doanh thu du lịch biển đảo), và tỉnh Tiền Giang (hạt nhân cụm phía Đông, dẫn đầu thu hút khách quốc tế năm 2018 với 811.000 lượt).

Literature Review và Positioning

Tổng quan y văn quốc tế và trong nước ghi nhận nhiều luồng tư tưởng học thuật về quản trị du lịch. Luồng thứ nhất tập trung vào mối quan hệ giữa chính phủ và thị trường du lịch: S. Medlik (1991) trong công trình kinh điển "Managing Tourism" đã khẳng định: "Trong du lịch, các chính sách phải dựa trên một kết hợp chặt chẽ của kinh tế, chính trị, xã hội và các đối tượng về không gian". Medlik nhấn mạnh rằng thiết lập chính sách du lịch đòi hỏi sự cộng tác mật thiết giữa nhà nước và các hiệp hội công nghiệp du lịch. Martin Oppermann và Kye-Sung Chon (1997) trong "Tourism in Developing Countries" phân định các giai đoạn can thiệp của chính phủ tại các nền kinh tế đang phát triển. Jafar Jafari (2000) cùng 352 học giả trong "Encyclopedia of Tourism" đã chuẩn hóa hệ thống khái niệm về quản trị tài nguyên du lịch toàn cầu.

Luồng thứ hai tập trung vào tranh biện cấu trúc quyền lực và vai trò can thiệp công: Mouzelis (1995) và Michel Picard & Robert E. Wood (1997) phân tích phát triển du lịch dưới góc nhìn cấu trúc xã hội học, cho rằng không gian du lịch là nơi diễn ra sự cạnh tranh giữa các nhóm lợi ích nhằm chiếm dụng vốn văn hóa, kinh tế và chính trị. Đối lập với quan điểm can thiệp nhà nước sâu rộng của trường phái Châu Âu lục địa, Henry Thompson (2017) khi nghiên cứu khủng hoảng nợ Hy Lạp ("Tourism and Income in Greece: A Market Solution to the Debt Crisis") lại đề xuất giải pháp thị trường tự do triệt để: bãi bỏ quy chế, tư nhân hóa hạ tầng cảng biển - sân bay, cắt giảm thanh tra công quyền để tạo động lực tăng trưởng. Ngược lại, Tim Coles và C. Michael Hall (2011) chứng minh rằng việc buông lỏng quản lý nhà nước sẽ dẫn tới sự suy thoái tài nguyên, xung đột xã hội và làm triệt tiêu tính bền vững của điểm đến.

Tại Việt Nam, các nghiên cứu của Trịnh Đăng Thanh (2004), Nguyễn Minh Đức (2007), Hồ Đức Phớc (2009), Đỗ Cẩm Thơ (2007), Phạm Trung Lương (2008), và Ngô Nguyễn Hiệp Phước (2018) đã làm sáng tỏ QLNN theo từng lát cắt chuyên biệt: pháp luật du lịch, hạ tầng đô thị du lịch, hoặc quản trị cấp tỉnh. Tuy nhiên, các công trình chưa giải quyết được mâu thuẫn giữa "cục bộ địa phương" và "lợi ích tổng thể vùng".

Luận án này định vị chính xác vào khoảng trống: Xây dựng cơ chế tích hợp quản lý theo ngành dọc (từ Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Tổng cục Du lịch) với quản lý theo lãnh thổ ngang (Ủy ban nhân dân cấp tỉnh) trên không gian kinh tế sinh thái ĐBSCL. So sánh với các mô hình quốc tế, nghiên cứu kế thừa kinh nghiệm tập trung hóa xúc tiến của Tổng cục Du lịch Thái Lan (Tourism Authority of Thailand - TAT) và mô hình quản trị chuỗi giá trị tích hợp của Tổng cục Du lịch Singapore (Singapore Tourism Board - STB), nhưng điều chỉnh thích ứng với đặc thù thể chế hành chính công của Việt Nam.

Đóng góp lý thuyết và khung phân tích

Đóng góp cho lý thuyết

Luận án mở rộng Lý thuyết Quản lý công trong lĩnh vực kinh tế ngành thông qua việc bổ sung và làm sáng tỏ định nghĩa quản lý nhà nước về du lịch cấp vùng: Đó là quá trình các cơ quan công quyền sử dụng quyền lực pháp lý, công cụ chính sách và nguồn lực công để tác động có tổ chức, liên tục vào toàn bộ chuỗi giá trị du lịch, nhằm giải quyết các thất bại thị trường, bảo tồn tài nguyên sinh thái và đạt được các mục tiêu kinh tế - xã hội tổng hợp.

Công trình đóng góp luận điểm khoa học mới: Bác bỏ tư duy quản lý hành chính khép kín theo địa giới tỉnh, thay thế bằng mô hình Quản trị công cộng tác (Collaborative Public Governance) liên vùng. Nghiên cứu chứng minh rằng nếu thiếu thể chế điều phối vùng, hiện tượng "trùng lặp sản phẩm" (sản phẩm du lịch miệt vườn, sông nước đơn điệu tại cả 13 tỉnh thành) và "cạnh tranh triệt tiêu nguồn lực" sẽ làm suy giảm vòng đời điểm đến theo mô hình TALC của Butler.

Khung phân tích độc đáo

Khung phân tích của luận án tích hợp 3 trụ cột lý thuyết: (1) Lý thuyết Chức năng Quản lý Nhà nước về Kinh tế; (2) Lý thuyết Liên kết Kinh tế Vùng; (3) Lý thuyết Phát triển Du lịch Bền vững của UNWTO/WTTC.

[Vấn đề nghiên cứu & Câu hỏi nghiên cứu]
       [Tổng quan cơ sở lý thuyết]
                                     [Nghiên cứu định lượng]
                                     (Cronbach's Alpha, EFA)
                                     [Nghiên cứu định tính Lần 2]
                                       [Kết luận & Giải pháp]

Cấu trúc khung phân tích vận hành theo 3 giai đoạn quản lý then chốt:

  1. Giai đoạn Hoạch định & Thể chế hóa: Xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và ban hành hệ thống văn bản quy phạm pháp luật du lịch cấp địa phương.
  2. Giai đoạn Tổ chức Thực thi: Quản lý quy hoạch không gian, phát triển sản phẩm đặc thù, đầu tư kết cấu hạ tầng - cơ sở vật chất kỹ thuật, huy động vốn đầu tư xã hội hóa, xúc tiến quảng bá - liên kết vùng, và đào tạo phát triển nguồn nhân lực công - tư.
  3. Giai đoạn Kiểm soát & Thích ứng: Thanh tra, kiểm tra việc tuân thủ pháp luật chuyên ngành, giám sát chất lượng dịch vụ, và triển khai cơ chế hỗ trợ, tháo gỡ rào cản hành chính cho doanh nghiệp.

Điều kiện biên (boundary conditions) của mô hình xác định trên không gian 13 đơn vị hành chính cấp tỉnh vùng ĐBSCL trong bối cảnh chịu tác động kép của hội nhập kinh tế quốc tế và biến đổi khí hậu toàn cầu.

Phương pháp nghiên cứu tiên tiến

Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu xác lập lập trường nhận thức luận kết hợp giữa Chủ nghĩa thực chứng (Positivism) và Chủ nghĩa hiện thực phản biện (Critical Realism). Thiết kế nghiên cứu hỗn hợp đa giai đoạn (Multi-stage Mixed Methods Design) kết hợp phương pháp diễn dịch (deductive) để xây dựng thang đo lý thuyết và phương pháp quy nạp (inductive) để đúc kết giải pháp từ thực tiễn.

Thiết kế nghiên cứu hỗn hợp (Mixed Methods):

Quy trình nghiên cứu rigorous

Quy trình thu thập và xử lý dữ liệu được tổ chức chặt chẽ qua 3 bước tam giác đạc (Triangulation):

  1. Nghiên cứu định tính lần 1 (Khám phá & Hiệu chỉnh thang đo):

    • Phối hợp với Hiệp hội Du lịch ĐBSCL tổ chức Hội thảo khoa học "Phát triển du lịch Đồng bằng sông Cửu Long" ngày 25/06/2018 tại TP. Cần Thơ, quy tụ 20 bài tham luận và gần 100 chuyên gia, nhà khoa học đến từ Học viện Hành chính Quốc gia, Đại học Cần Thơ, Trường Cán bộ TP.HCM.
    • Tiến hành phỏng vấn sâu $N = 20$ chuyên gia tại hội thảo và phân bổ 80 phiếu khảo sát chuyên gia thuộc 11 cơ quan: HĐND TP. Cần Thơ (4 phiếu), UBND TP. Cần Thơ (4 phiếu), Sở VHTTDL TP. Cần Thơ (12 phiếu), Sở TN&MT (4 phiếu), Sở Xây dựng (4 phiếu), Đại học Cần Thơ (8 phiếu), Hiệp hội Du lịch ĐBSCL (8 phiếu), Hiệp hội Du lịch Cần Thơ - Tiền Giang - An Giang (6 phiếu), Cao đẳng Du lịch Cần Thơ (8 phiếu), Trung tâm Phát triển Du lịch Cần Thơ (4 phiếu).
  2. Nghiên cứu định lượng chính thức:

    • Đối tượng khảo sát: Công chức, viên chức quản lý nhà nước đang công tác tại Sở Du lịch, Sở VHTTDL, HĐND, UBND, Sở Tài chính, Sở Kế hoạch & Đầu tư, Sở Xây dựng thuộc 13 tỉnh, thành vùng ĐBSCL giai đoạn 2015–2018.
    • Nguyên tắc chọn mẫu: Dựa trên công thức của Bollen (1998) với cỡ mẫu tối thiểu gấp 5 lần số biến quan sát ($n = 5 \times m$). Với thang đo lớn nhất gồm $m = 38$ quan sát thuộc các giai đoạn QLNN, kích thước mẫu tối thiểu cần đạt là $n = 5 \times 38 = 190$. Để phòng ngừa sai số và phiếu không hợp lệ, tác giả đã phát ra tổng cộng 300 bảng câu hỏi giấy trực tiếp và qua bưu điện.
  3. Nghiên cứu định tính lần 2 (Khẳng định & Luận giải nguyên nhân):

    • Phỏng vấn sâu 08 nhà quản lý cấp cao tại TP. Cần Thơ gồm: Chủ tịch HĐND, Chánh Văn phòng HĐND, Chủ tịch UBND, Chánh Văn phòng UBND, Giám đốc Sở VHTTDL, Giám đốc Sở Tư pháp, Giám đốc Sở Xây dựng, Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường.

Data và phân tích

Dữ liệu định lượng được làm sạch và xử lý trên phần mềm thống kê SPSS. Quy trình kiểm định độ tin cậy và giá trị thang đo bao gồm:

  • Phân tích Cronbach’s Alpha: Đánh giá tính nhất quán nội tại của các thang đo. Tiêu chuẩn chấp nhận: Hệ số Cronbach’s Alpha $\ge 0.70$ (thang đo tốt từ $0.80$ đến gần $1.0$), hệ số tương quan biến - tổng (Corrected Item - Total Correlation) $\ge 0.30$. Loại bỏ các biến có hiện tượng trùng lắp hoặc làm giảm độ tin cậy thang đo khi Cronbach's Alpha if Item Deleted lớn hơn giá trị chung.
  • Phân tích nhân tố khám phá (Exploratory Factor Analysis - EFA): Thực hiện trích nhân tố qua 3 nhóm biến độc lập: (1) Nhóm thể chế văn bản pháp luật; (2) Nhóm quy trình hoạch định, thực thi, kiểm tra (38 quan sát); (3) Nhóm mục tiêu kết quả QLNN.
  • Tiêu chuẩn EFA đạt chuẩn: Hệ số kiểm định $0.5 \le \text{KMO} \le 1.0$; Kiểm định Bartlett’s Test có ý nghĩa thống kê ($p < 0.05$); Trị số Eigenvalue $\ge 1.0$; Tổng phương sai trích (Total Variance Explained) $\ge 50%$; Hệ số tải nhân tố (Factor Loading) của từng biến quan sát $\ge 0.50$.

Phát hiện đột phá và implications

Những phát hiện then chốt

Phân tích thực chứng giai đoạn 2015–2018 tại 13 tỉnh thành ĐBSCL làm sáng tỏ 4 phát hiện căn bản:

Thực trạng QLNN Du lịch ĐBSCL (2015 - 2018):
  1. Hiệu lực ban hành thể chế địa phương còn độ trễ lớn: Dù các tỉnh đã ban hành các kế hoạch thực hiện Nghị quyết số 08-NQ/TW và Quyết định 2227/QĐ-TTg, song hệ thống chính sách ưu đãi đầu tư đất đai, tín dụng cho doanh nghiệp du lịch vừa và nhỏ còn thiếu tính thực thi. Văn bản quy phạm pháp luật chủ yếu sao chép nguyên văn quy định của trung ương, thiếu các cơ chế đặc thù cho kinh tế du lịch sinh thái sông nước.
  2. Sự đứt gãy trong liên kết vùng và hiện tượng trùng lặp sản phẩm: Công tác quản lý xây dựng sản phẩm du lịch mang nặng tính hành chính cục bộ. Hầu hết các địa phương đều phát triển mô hình du lịch sinh thái miệt vườn, chèo xuồng, nghe đờn ca tài tử mà không tạo được chuỗi giá trị tích hợp. Hiệp hội Du lịch ĐBSCL chưa được trao đủ quyền hạn pháp lý và nguồn lực tài chính để điều phối xúc tiến chung toàn vùng.
  3. Kết cấu hạ tầng kỹ thuật du lịch bộc lộ điểm nghẽn nghiêm trọng: Hạ tầng giao thông kết nối liên vùng (đường cao tốc, cảng tàu du lịch quốc tế, bến thủy nội địa chuyên dùng) phát triển chậm. Cơ chế thu hút nguồn lực theo hình thức đối tác công - tư (PPP) trong phát triển hạ tầng du lịch chưa được khai thông do rào cản về thủ tục hành chính và thẩm định dự án.
  4. Năng lực bộ máy QLNN chưa tương xứng với yêu cầu ngành kinh tế tổng hợp: Tại đa số các tỉnh, bộ máy quản lý nhà nước về du lịch vẫn lồng ghép trong mô hình Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch. Nhân sự quản lý chuyên trách về du lịch còn mỏng, thiếu chuyên môn sâu về kinh tế dịch vụ, marketing quốc tế và công nghệ số.

Implications đa chiều

Về mặt lý thuyết (Theoretical Advances)

Bổ sung luận cứ khoa học khẳng định sự cần thiết phải thiết lập thể chế "Hội đồng Điều phối Du lịch Vùng" có quyền lực hành chính thực chất, hoàn thiện mô hình kết hợp quản lý theo ngành và quản lý theo lãnh thổ trong quản trị công hiện đại tại các quốc gia đang phát triển.

Về mặt phương pháp luận (Methodological Innovations)

Chuẩn hóa quy trình 3 giai đoạn khảo sát tam giác đạc kết hợp định tính - định lượng - thẩm định chuyên gia cấp cao, cung cấp khung đo lường gồm 38 chỉ báo thực thi quản lý công cho các nghiên cứu tiếp theo trong khối ngành dịch vụ công cộng.

Về mặt thực tiễn và chính sách (Policy Recommendations)

  • Hoàn thiện chính sách đất đai và tài chính: Ban hành khung chính sách ưu đãi thuế sử dụng đất đối với các dự án du lịch sinh thái nông nghiệp có cam kết bảo vệ môi trường và sử dụng lao động địa phương.
  • Tái cấu trúc tổ chức bộ máy: Thí điểm thành lập Sở Du lịch độc lập tại các địa phương có quy mô du lịch lớn (như Kiên Giang, Cần Thơ); thành lập Văn phòng Điều phối Du lịch Vùng ĐBSCL đặt tại TP. Cần Thơ.
  • Chiến lược sản phẩm đặc thù: Phân định rõ 4 tiểu vùng du lịch theo Quy hoạch 2227/QĐ-TTg: Cụm trung tâm (Cần Thơ, An Giang, Kiên Giang, Hậu Giang - du lịch đô thị, MICE, biển đảo cao cấp Phú Quốc); Cụm bán đảo Cà Mau (Cà Mau, Bạc Liêu, Sóc Trăng - du lịch sinh thái rừng ngập mặn, văn hóa Khmer); Cụm duyên hải phía Đông (Tiền Giang, Bến Tre, Vĩnh Long, Trà Vinh - du lịch sông nước miệt vườn truyền thống); Cụm Đồng Tháp Mười (Đồng Tháp, Long An - du lịch sinh thái đất ngập nước, nông nghiệp công nghệ cao).

Limitations và Future Research

Nghiên cứu thẳng thắn nhìn nhận 3 giới hạn học thuật:

  1. Giới hạn về không gian mẫu phân tích sâu: Luận án tập trung khảo sát định tính chuyên sâu tại 3 địa phương trọng điểm (Cần Thơ, Kiên Giang, Tiền Giang), do đó một số đặc thù quản lý của các tỉnh vùng sâu, biên giới (như Đồng Tháp, An Giang) chưa được khắc họa toàn diện ở cấp độ vi mô.
  2. Giới hạn về khung thời gian chuỗi số liệu: Dữ liệu định lượng tập trung trong giai đoạn 2015–2018. Các biến động kinh tế - xã hội mang tính đột biến toàn cầu sau năm 2019 (như đại dịch Covid-19, chuyển đổi số mạnh mẽ, khủng hoảng chuỗi cung ứng) chưa thể phản ánh trong bộ số liệu gốc.
  3. Phương pháp phân tích định lượng: Nghiên cứu dừng lại ở mức độ phân tích nhân tố khám phá (EFA) và kiểm định Cronbach’s Alpha trên dữ liệu cán bộ quản lý công, chưa mở rộng sang mô hình cấu trúc tuyến tính (SEM) để lượng hóa mức độ tác động nhân quả giữa nhận thức của du khách, doanh nghiệp với hiệu quả chính sách công.

Hướng nghiên cứu tương lai (Future Research Agenda):

  • Ứng dụng mô hình PLS-SEM để đánh giá đa chiều tác động của năng lực quản trị công đến sự hài lòng của doanh nghiệp du lịch tư nhân.
  • Nghiên cứu cơ chế chuyển đổi số và xây dựng hệ sinh thái du lịch thông minh (Smart Tourism) cấp vùng ĐBSCL.
  • Đánh giá hiệu quả kinh tế của các mô hình du lịch thích ứng biến đổi khí hậu dựa vào cộng đồng (Community-Based Adaptation Tourism).

Tác động và ảnh hưởng

  • Tác động học thuật: Cung cấp nguồn tài liệu chuyên khảo tham khảo có giá trị lý luận và phương pháp luận vững chắc cho các nghiên cứu sinh, học viên cao học chuyên ngành Quản lý công, Quản lý kinh tế tại Học viện Hành chính Quốc gia và các cơ sở đào tạo sau đại học trên cả nước.
  • Tác động quản trị công và chính sách: Cung cấp cơ sở khoa học trực tiếp phục vụ việc sơ kết, tổng kết việc thực hiện Nghị quyết số 08-NQ/TW của Bộ Chính trị, Quyết định số 2227/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ và xây dựng các chương trình hành động thực thi Nghị quyết số 120/NQ-CP của Chính phủ về phát triển bền vững vùng ĐBSCL.
  • Tác động phát triển kinh tế - xã hội: Gợi mở lộ trình phân bổ nguồn lực công hiệu quả hơn, thúc đẩy hợp tác công - tư (PPP), tạo môi trường đầu tư kinh doanh thông thoáng, góp phần giải quyết việc làm cho hàng triệu lao động nông nghiệp chuyển đổi sinh kế sang dịch vụ du lịch sinh thái.

Đối tượng hưởng lợi

  • Nghiên cứu sinh và Giảng viên chuyên ngành Quản lý công: Tiếp cận khung phân tích lý luận toàn diện và bộ công cụ đo lường thực thi chính sách công ngành du lịch cấp vùng.
  • Lãnh đạo UBND và Sở VHTTDL 13 tỉnh thành ĐBSCL: Ứng dụng hệ thống giải pháp để tái cấu trúc tổ chức bộ máy, quy hoạch sản phẩm du lịch đặc thù không trùng lặp và hoàn thiện quy chế phối hợp liên ngành, liên tỉnh.
  • Cộng đồng Doanh nghiệp Du lịch và Lữ hành: Hưởng lợi từ môi trường pháp lý minh bạch, các chính sách ưu đãi đầu tư nhất quán và hạ tầng du lịch được nâng cấp đồng bộ.
  • Cộng đồng Dân cư Bản địa: Nâng cao thu nhập bền vững thông qua mô hình liên kết chuỗi giá trị du lịch cộng đồng, giữ gìn bản sắc văn hóa và bảo tồn hệ sinh thái sông nước.

Câu hỏi chuyên sâu

1. Đóng góp lý thuyết độc đáo nhất của luận án là gì?

Luận án đã làm sáng tỏ và hoàn thiện mô hình Quản lý nhà nước về du lịch trong sự kết hợp giữa quản lý theo ngành và quản lý theo lãnh thổ trên không gian kinh tế cấp vùng. Công trình mở rộng Lý thuyết Quản trị công cộng tác (Collaborative Governance) vào bối cảnh thể chế hành chính Việt Nam, chứng minh rằng quản lý liên kết vùng là điều kiện tiên quyết để giải quyết thất bại thị trường trong khai thác tài nguyên du lịch sinh thái.

2. Đột phá về phương pháp nghiên cứu so với các công trình trước đây?

So với các nghiên cứu đơn thuần định tính (như Trịnh Đăng Thanh, 2004) hoặc định lượng đơn biến cấp tỉnh (như Ngô Nguyễn Hiệp Phước, 2018), luận án đã thiết lập quy trình nghiên cứu hỗn hợp 3 bước nghiêm ngặt: (1) Khám phá định tính với 20 chuyên gia hội thảo khoa học và 80 chuyên gia ngành; (2) Phân tích định lượng EFA và Cronbach’s Alpha với 300 bảng hỏi cán bộ công chức trên toàn bộ 13 tỉnh thành; (3) Thẩm định khẳng định định tính với 8 nhà lãnh đạo cơ quan quyền lực nhà nước tại đô thị trung tâm Cần Thơ.

3. Phát hiện bất ngờ nhất từ dữ liệu thực chứng là gì?

Phát hiện thực chứng chỉ ra rằng: Mặc dù các địa phương vùng ĐBSCL ban hành số lượng lớn các văn bản kế hoạch phát triển du lịch, nhưng chỉ số đánh giá của cán bộ quản lý về tính hiệu quả của các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp lại ở mức rất thấp. Nguyên nhân cốt lõi không nằm ở việc thiếu định hướng mà nằm ở sự phân mảnh quyền lực hành chính và sự chồng chéo chức năng giữa các sở ngành (Sở Xây dựng quản lý quy hoạch hạ tầng, Sở TN&MT quản lý đất đai tài nguyên, Sở VHTTDL quản lý hoạt động du lịch nhưng không có thực quyền về phân bổ ngân sách đầu tư).

4. Giao thức sao chép (Replication Protocol) có được cung cấp minh bạch không?

Luận án cung cấp đầy đủ và chi tiết toàn bộ các phụ lục nghiên cứu bao gồm: Dàn ý phỏng vấn sâu định tính lần 1 và lần 2 (Phụ lục 1A, 2A, 4A), Phiếu khảo sát điều tra xã hội học định lượng chính thức (Phụ lục 3), Cơ cấu mẫu khảo sát tại 13 tỉnh thành (Phụ lục 7), cùng danh bạ trụ sở làm việc của toàn bộ các Sở Du lịch/Sở VHTTDL vùng ĐBSCL (Phụ lục 8), đảm bảo tính kiểm chứng khoa học và khả năng tái lập nghiên cứu.

5. Lộ trình phát triển nghiên cứu 10 năm tới được phác thảo như thế nào?

Luận án phác thảo chương trình nghiên cứu tiếp nối giai đoạn 2020–2030 tập trung vào 3 trọng tâm: (1) Xây dựng khung thể chế quản trị du lịch số (Smart Tourism Governance); (2) Đánh giá tác động kinh tế lượng của biến đổi khí hậu và xâm nhập mặn đối với chuỗi cung ứng du lịch ĐBSCL; (3) Mô hình liên kết công - tư - cộng đồng (4P: Public - Private - People - Partnership) trong bảo tồn văn hóa sông nước Nam Bộ.

Kết luận

  1. Luận án đã hệ thống hóa và phát triển toàn diện cơ sở lý luận về quản lý nhà nước đối với ngành du lịch dưới góc độ quản lý công và kinh tế học thể chế, xác lập rõ chức năng, công cụ và tiêu chí đánh giá hiệu quả QLNN cấp vùng.
  2. Công trình cung cấp bức tranh thực trạng chân thực, khách quan và có kiểm chứng định lượng về công tác quản lý du lịch tại 13 tỉnh, thành phố vùng ĐBSCL giai đoạn 2015–2018, chỉ rõ các điểm nghẽn thể chế, hạ tầng và nguồn nhân lực.
  3. Luận án xây dựng khung mô hình kết hợp quản lý theo ngành và lãnh thổ, giải quyết triệt để mâu thuẫn cục bộ địa phương trong xây dựng sản phẩm và phân bổ nguồn lực.
  4. Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp đồng bộ có tính khả thi cao: Hoàn thiện thể chế pháp lý; Kiện toàn tổ chức bộ máy và nhân lực; Nâng cấp cơ sở hạ tầng - sản phẩm đặc thù - liên kết vùng; và Tăng cường kiểm soát, tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp.
  5. Đóng góp các kiến nghị chính sách cụ thể, trực tiếp gửi tới Chính phủ, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Tổng cục Du lịch và chính quyền địa phương 13 tỉnh thành nhằm hiện thực hóa mục tiêu đưa du lịch ĐBSCL trở thành ngành kinh tế mũi nhọn bền vững đến năm 2025, tầm nhìn 2030.