CHƯƠNG 1:CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ ĐÀO TẠO TRÌ NH ĐỘ SƠ CẤP ĐÁP ỨNG NHU CẦU CỦA LAO ĐỘNG NÔNG THÔN 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Các công trình nghiên cứu đào tạo nhân lực đáp ứng nhu câu xã hội và nhu cầu của lao động nông thôn 1.Những nghiên cứu về đào tạo đáp ứng nhu cầu xã hội - Những lý thuyết và kết quả nghiên cứu đào tạo nghề dựa trên ý tưởng SX-KD của cộng đồng và hộ gia đình ở nông thôn được thể hiện qua những công trình nghiên cứu sau: Community-Based vocational training, by Jill Wheeler, IEP Resources, Attainment Company, 2005. Kết quả nghiên cứu này đã làm rõ những khái niệm cốt lõi như; đào tạo nghề dựa trên cộng đồng là gì, thực tiễn triển khai đào tạo nghề dựa trên cộng đồng ở một số nước đang phát triển, nội dung, quy trình đào tạo nghề dựa trên cộng đồng; những tài liệu được quy định và những hướng dẫn cụ thể cách sử dụng cũng như những mẫu mô tả chi tiết hệ thống và các bước thực hiện tổ chức đào tạo nghề dựa trên cộng đồng.
Mô hình Community Based Training for Enterprise Development (CBTED) đào tạo trên nhu cầ u của cộng đồng để phát triển kinh doanh được tổ chức lao động quốc tế (ILO) phát triển năm 2001 và vận dụng vào việc triển khai một số dự án tại các nước đang phát triển như Philippin, Bangledesh, Nepan. Nội dung của CBTED dựa trên sự thoả thuận, nhất trí giữa những người tham gia thực hiện trong kế hoạch đào tạo. Ngoài ra, phương pháp luận của CBTED là một công cụ cung cấp những chỉ dẫn về nhiệm vụ của từng người đại diện; cơ sở giáo du ̣c nghề nghiệp, chính quyề n và đoàn thể , doanh nghiê ̣p cô ̣ng đồng… tham gia vào đào tạo nghề. Cao hơn nữa, nó phải là một phương tiện quản lý chất lượng đào tạo và hiệu quả đào tạo.
Mặt tích cực duy nhất của các kinh nghiệm từ những dự án là chúng đều gắn với mục đích tìm ra những chiến lược, phương thức để đào tạo nghề kĩ năng cho những người lao động nghèo ở nông thôn, giúp họ tự tạo cho mình một nghề nghiệp và gia nhập đội ngũ lao động có thu nhập ổn định trong xã hội. 10 - Ngoài những nghiên cứu về lý thuyết về đào tạo nghề dựa trên ý tưởng SX- KD, còn có những nghiên cứu xây dựng những mô hình triển khai vào thực tiễn như: “Mobile Vocational Training Units”, SIDA ,1993; đã nghiên cứu và đưa ra mô hình “đào tạo nghề lưu động dựa trên nhu cầ u”. Đây là một trong những hình thức đào tạo nghề phù hợp với những cộng đồng dân cư ở nông thôn vùng sâu, vùng xa; vì đào tạo nghề lưu động là một mô hình quản lý đào tạo nghề được tổ chức lưu động tại cộng đồng, nơi người dân có nhu cầu học một nghề nào đó nhưng không có điều kiện và cơ hội đến học tập tại những cơ sở đào tạo nghề. Đào tạo nghề lưu động có những đặc điểm sau: Đưa đào tạo nghề đến với người học có nhu cầu mà họ không có điều kiện đến học tại những cơ sở đào tạo tập trung; Việc đào tạo nghề diễn ra tại cộng đồng; Việc đào tạo nghề diễn ra theo nhu cầu học tập của cộng đồng; Các khoá đào tạo nghề thường diễn ra với thời gian ngắn; Những nghề được đào tạo nghề thường gắn với những tiềm năng và thế mạnh trong phát triển kinh tế của cộng đồng địa phương; Người học không phân biệt giới tính, tuổi tác, dân tộc, trình độ học vấn; Phương pháp đào tạo nghề rất đa dạng ….Đó là những yếu tố đảm bảo cho việc đào tạo nghề cho cộng đồng ở nông thôn các vùng xa, hẻo lánh có hiêụ quả.
- Từ những năm 80 của thế kỷ trước, nhiều quốc gia trên thế giới như Úc, Mỹ, Anh đã tiến hành cải cách hệ thống GDNN theo hướng đào tạo đáp ứng nhu cầu người học và TTLĐ. Đây cũng là yêu cầu tất yếu của thời kỳ sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở nông thôn. Từ đây, nhiều nghiên cứu đã ra đời, hướng đào tạo tới phát triển SX-KD phục vụ phát triển KT-XH. - ILO [73] đã đưa ra phương thức đào tạo theo mô - đun và cấu trúc CTĐT theo “Mô-đun kỹ năng hành nghề” (Module of Employable Skills) để đào tạo gắn với SX-KD.
Đến năm 2013, Astha Ummat trong cuốn “Skill Development Initiative: Modular Employable Skills Scheme Feedback from the Field” (Sáng kiến phát triển kỹ năng: Phản hồi về kỹ năng hành nghề trong mô – đun từ lĩnh vực nghiên cứu) đã chỉ rõ việc liên kết giữa đào tạo và SX-KD tại Ấn Độ để tạo 11 thuận lợi cho người học dễ dàng phát triển SX-KD sau khi kết thúc khóa học.UNESCO [82] đưa ra những quan điểm và phương pháp để gắn GDNN với thế giới SX-KD, đào tạo gắn với sử dụng lao động. Buning, Frank Schnarr, Alexander [70] khi nghiên cứu về mối quan hệ giữa đào tạo nghề với các cơ sở SX- KD cô ̣ng đồ ng, đã gọi mối quan hệ này là mối quan hệ “đối tác chiến lược”, theo đó, mối quan hệ này dựa trên các cơ chế đồng phối hợp và có nhiều tác nhân ở các cấp độ khác nhau như: cá nhân (người lao động, người được đào tạo, người thất nghiệp), hộ gia đình (đặc biết đối với các bạn trẻ), cộng đồng (lănh đạo, tổ chức địa phương và các mạng lưới cơ sở đào tạo), các tổ chức tình nguyện (cấp địa phương, vùng hay cấp quốc gia), nhà cung cấp đào tạo, các cơ sở đào tạo công lập, người lao động và các cơ quan, tổ chức nơi họ làm việc và chính phủ (theo cấp quản lý ở địa phương, hay cấp quốc gia).Zafiris Tzannatos và Geraint Johnes [86] đã nghiên cứu về cách thức triển khai đào tạo kết nối với SX-KD tại các nước có nền kinh tế phát triển trong khu vực Châu Á như Korea, Malaysia, Singapore and Taiwan, China. Paul Benneworth & Cheryl Conway [76] khi nghiên cứu về đặc trưng cam kết của các cơ sở GDNN đối với xã hội cho rằng hệ thống các cơ sở GDNN đã và đang rất cố gắng trong việc gắn kết với xã hội. Như vậy, các công trình nghiên cứu nói trên cho thấy đào tạo nghề hướng tới đáp ứng nhu cầu xã hội, nhu cầu phát triển SX-KD là một xu thế tất yếu của GDNN.
Để có thể làm tốt điều này, cần sự hợp tác chặt chẽ giữa các cơ sở GDNN với cộng đồng và cơ sở SX-KD, nhằm đáp ứng yêu cầu việc làm và phát triển SX-KD. Sự kết hợp này đang trở thành một trong các chính sách ưu tiên góp phần quan trọng trong phát triển KT-XH của mỗi cộng đồng và địa phương.Những nghiên cứu về đào tạo nghề cho lao động nông thôn - Tài liệu “ Nhận thức kinh doanh và khởi sự cơ sở SX- KD cho LĐNT ”, như là một môn học được lồng ghép vào các khóa dào tạo nghề cho LĐNT gắn với hỗ trợ cho học viên không chỉ có kỹ năng nghề mà còn có những kiến thức về 12 kinh doanh để có thể áp dụng vào phát triển SX- KD sau đào tạo nghề. Nguyễn Minh Đường và các đồng nghiệp [18] thông qua nghiên cứu đào tạo nghề theo mô - đun trên thế giới đã đề xuất tài liệu hoàn chỉnh về phương pháp luận biên soạn tài liệu và phương thức đào tạo nghề theo mô-đun nhằm góp phần triển khai phương thức đào tạo nghề ngắn hạn theo mô - đun kỹ năng hành nghềvà từng bước xây dựng một nền giáo dục kỹ thuật đáp ứng nhu cầu học nghề rộng rãi. Phan Văn Kha [34] đã chỉ ra tính tất yếu và lợi ích quan hệ giữa đào tạo với sử dụng nhân lực trong cơ chế thị trường, các yếu tố ảnh hưởng và một số nguyên tắc trong thiết lập quan hệ đào tạo - sử dụng nhân lực.
Ngoài ra, còn có nhiều công trình các nghiên cứu về đào tạo đáp ứng theo nhu cầu xã hội trong đó có đề cập tới đào tạo gắn với nhu cầu cơ sở SX- KD tạo việc làm và phát triển SX-K D cho người lao động. Nguyễn Minh Đường và Phan Văn Kha [19] đã giới thiệu cơ sở lý luận và thực trạng về đào tạo nhân lực đồng thời đề xuất các giải pháp về đào tạo nhân lực hướng tới đáp ứng nhu cầu xã hội. Bành Tiến Long [36] đã nêu lên thực trạng về đào tạo đáp ứng nhu cầu xã hội ở Việt Nam và đưa ra một số giải pháp để phát triển đào tạo đáp ứng với nhu cầu xã hội trong đó đề xuất các giải pháp như: tăng cường hợp tác giữa nhà các cơ sở GDNN và bên sử dụng lao động; xây dựng các danh mục nghề và các tiêu chuẩn nghề nghiệp; kiểm tra và đánh giá các năng lực nghề nghiệp. Một số luận án tiến sỹ liên quan tới đào tạo hướng tới phát triển SX- KD như: “Những giải pháp phát triển đào tạo nghề góp phần đáp ứng nhu cầu nhân lực cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa” của Phan Chính Thức [47], “Phát triển đào tạo nghề đáp ứng nhu cầu xã hội” của Phan Minh Hiền [25], đã chỉ ra những giải pháp như hoàn thiện chính sách theo hướng đào tạo gắn với việc làm, thay đổi cơ cấu hệ thống, đào tạo bồi dưỡng đội ngũ GV, đầu tư CSVC, tăng cường hợp tác giữa các cơ sở GDNN và cơ sở sử du ̣ng lao đô ̣ng, tăng tính tự chủ của các cơ sở GDNN để đào tạo hướng tới quy luật cung cầu của TTLĐ.
Các công trình nghiên cứu về quản lý đào tạo nghề và quản lý đào tạo trình độ sơ cấp cho lao động nông thôn 1.Những nghiên cứu về quản lý đào tạo nghề Lý thuyết đồng quản lý (Theory for Training Co-management) của Pomeroy et al 2001đã chỉ ra; Nội dung, cấu trúc quản lý đào tạo nghề dựa vào ý tưởng SX- KD của cộng đồng và hộ gia đình ở nông thôn (các thành tố và mối liên hệ giữa các thành tố của mô hình). Cơ chế vận hành quản lý đào tạo nghề dựa vào ý tưởng SX- KD của cộng đồng và hộ gia đình ở nông thôn (ai và nguồn lực nào tham gia vào vận hành mô hình này). Đồng thời cho rằng; các điều kiện thành công của đồng quản lý trong đào tạo nghề cho LĐNT phụ thuộc vào 3 cấp độ khác nhau; Cấp quản lý, Cấp cộng đồng, Cấp hộ gia đình, cá nhân.