CHƯƠNG 1 CO SO LY LUAN VE QUAN LY CHAT LUQNG DAO TAO O TRUONG TRUNG CAP NGHE 1. TONG QUAN NHUNG NGHIEN CUU LIEN QUAN DEN DE TAI Chính phủ Việt Nam đã khăng định nguôn nhân lực chất lượng cao, trong đó có nhân lực qua đào tạo nghề là một trong ba trụ cột tăng trưởng và phát triển bền vững kinh tế Việt Nam. Chất lượng nguồn nhân lực cũng là một trong ba khâu đột phá để thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011 - 2020. Do vậy, phát triển và nâng cao chất lượng đào tạo nghề là yêu cầu, là đòi hỏi của đất nước, nhằm góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế nói chung.
Van dé chất lượng đảo tạo nghề là một đề tài có tính thời sự, luôn thu hút sự quan tâm của các nhà nghiên cứu. Tuy nhiên đây là vấn đề khó, phức tạp phạm vi rộng và phong phú, do vậy các đề tài đi sâu nghiên cứu lĩnh vực này còn ít với nội dung nghiên cứu khá rộng. Bộ LĐ-TBXH, các ban ngành Trung ương ban hành một số văn bản về QLCL ĐTN như: 48 bộ tiêu chuẩn kỹ năng nghề (Dự án ADB), 13 bộ tiêu chuẩn kỹ năng nghề cơ bản trong lĩnh vực du lịch (Dự án EU), Quyết định số 09/2008/QĐ- BLĐTBXH, quy định nguyên tắc, quy trình xây dựng và ban hành tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia, khung trình độ kỹ năng nghề quốc gia mới gồm 5 bậc, Thông tư số 15/2011/TT-BLĐTBXH ngày 10/5/2011 quy định tổ chức và quản lý việc đánh giá, cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia. Ở nước ta trong thời gian qua đã có nhiều nhà khoa học nghiên cứu các vấn đề liên quan đến quản lý, quản lý giáo dục nói chung như: Đặng Quốc Bảo (1977) với “Một số khái niệm quản lý giáo dục”; Thái Duy Tuyên (1999) với '*Những vấn đề cơ bản giáo dục học hiện đại”; “Đại cương về khoa học quan ly” cua tac giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc và quản lý chất lượng nói riêng, nhiều tài liệu đã được biên soạn và phát hành như “QLCL trong các tô chức” (2004) của nhóm tác giả: Tạ Thị Kiều An, b.
Quản lý giáo dục (QLŒD) Nghị quyết BCHTW Đảng lần thứ 2 (khóa VIH) có nêu: “QLGD là sự tác động có ý thức của chủ thể QL đến khách thể QL nhằm đưa hoạt động sư phạm của hệ thống giáo dục đạt tới kết quả mong muốn một cách hiệu quả nhất” [8]. Tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc và Nguyễn Quốc Chí: “QLGD là hoạt động có ý thức bằng cách vận dụng các quy luật khách quan của các cấp QLGD tác động đến toàn bộ hệ thông giáo dục nhằm làm cho hệ thông đạt được mục tiêu của nó” [5]. Theo tác giả Hồ Văn Liên thi: “QLGD là sự tác động liên tục có tô chức, có định hướng của chủ thê QL (người quản lý, tổ chức quản lý) lên đối tượng giáo dục và khách thể QLGD về các mặt chính trị, văn hóa, xã hội, kinh tế. bằng một hệ thống các luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và các biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng” [ 17].
Còn theo tác giả Trần Kiểm thì dựa vào đối tượng QL dé dua ra khái niệm QLGD ở 2 cấp độ: đó là cấp độ vĩ mô và cấp độ vi mô [ 15]. Đối với cấp vĩ mô: “QL@GD là sự tác động liên tục, có tô chức, có hướng đích của chủ thẻ QL lên hệ thống giáo dục nhằm tạo ra tính vượt trội/ tính trội của hệ thống, sử dụng một cách tối ưu các tiềm năng, các cơ hội của hệ thông nhằm đưa hệ thống đến mục tiêu một cách tốt nhất”. Đối với cấp vi mô: “QL hoạt động GD trong nhà trường bao gồm hệ thông những tác động có hướng đích của hiệu trưởng đến các hoạt động GD, đến con người, (Giáo viên, cán bộ nhân viên và học sinh), đến các nguồn lực (cơ sở vật chat, tai chính, thông tin, v.), đến các ảnh hưởng ngoài trường một cách hợp quy luật (quy luật QL, quy luật GD, quy luật tâm lý, quy luật kinh tế, quy luật xã hội, v.) nhằm đạt mục tiêu GD”. Như vậy, có thê hiéu: OLGD ià sự tác động có ý thức của chủ thể QL đến đổi tượng OL và khách thể QL nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu GD.
Đào tạo nghề, quản lý đào tạo nghề a. Đào tạo nghề Nghề: Trong đời sống sản xuất của xã hội, trong việc đào tạo cán bộ kỹ thuật, đào tạo công nhân chúng ta thường nói đến khái niệm nghề. Theo tác giả Nguyễn Hùng: “Những chuyên môn có những đặc điểm chung, gần giống nhau được xếp thành một nhóm chuyên môn và được gọi là nghề. Nghề là tập hợp của một nhóm chuyên môn cùng loại, gần giống nhau.
Chuyên môn là một dạng lao động đặc biệt, mà qua đó con người dùng sức mạnh vật chất và sức mạnh tinh thần của mình để tác động vào những đối tượng cụ thể nhằm biến đổi những đối tượng đó theo hướng phục vụ mục đích, yêu cầu và lợi ích của con người” Khái niệm nghề theo quan niệm ở mỗi quốc gia đều có sự khác nhau nhất định. Cho đến nay thuật ngữ “nghề” được hiểu và định nghĩa theo nhiều cách khác nhau. Dưới đây là một số khái niệm vẻ nghề: + Khái niệm nghề ở Nga được định nghĩa: Là một loại hoạt động lao động đòi hỏi có sự đảo tạo nhất định và thường là nguồn góc của sự sinh tồn; + Khái niệm nghề ở Pháp: Là một loại lao động có thói quen về kỹ năng, kỹ xảo của một người để từ đó tìm được phương tiện sống; + Khái niệm nghề ở Anh được định nghĩa: Là công việc chuyên môn đòi hỏi một sự đào tạo trong khoa học học nghệ thuật; + Khái niệm nghề ở Đức được định nghĩa: Là hoạt động cân thiết cho xã hội ở một lĩnh vực lao động nhất định đòi hỏi phải được đào tạo ở trình độ nào đó; + Ở Việt nam, nhiều định nghĩa nghề được đưa ra song chưa được thông nhất, chăng hạn có định nghĩa được nêu: "Nghè là công việc chuyên làm theo sự phân công của xã hội”. Nghề mang tính tương đối, nó phát sinh, phát triển hay mất đi do trình độ của nền sản xuất và nhu cầu xã hội [2l].
Mặc dù khái niệm nghề được hiệu dưới nhiều góc độ khác nhau song chúng ta có thể nhận thấy một số nét đặc trưng nhất định sau: Đó là hoạt động, là công việc về lao động của con người được lặp đi lặp lại. Là sự phân công lao động xã hội, phù hợp với yêu cầu xã hội. Là phương tiện để sinh sống. Là lao động kỹ năng, kỹ xảo chuyên biệt có giá trị trao đôi trong xã hội đòi hỏi phải có một quá trình đào tạo nhất định.
10 Đào tạo nghề (ĐTN): là những hoạt động nhằm mục đích nâng cao tay nghề hay kỹ năng, kỹ xảo của mỗi cá nhân đối với công việc hiện tại và trong tương lai. Đào tạo nghề bao gồm hai quá trình có quan hệ hữu cơ với nhau. Đó là: Dạy nghề (DN): là quá trình người dạy cung cấp những kiến thức vẻ lý thuyết và thực hành đề từ đó người học có được một trình độ, kỳ năng, kỹ xáo, sự khéo léo, thành thục nhất định về nghề nghiệp. Học nghề: là quá trình tiếp thu những kiến thức về lý thuyết và thực hành của người lao động (người học) đề đạt được một trình độ nghè nhất định.
Theo luật dạy nghề (2006): “Dạy nghề là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học để có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khóa học” [20]. Đào tạo là quá trình hoạt động có mục đích, có tổ chức nhằm truyền đạt các kiến thức, kỹ năng và kỹ xảo trong lý thuyết và thực tiễn, tạo ra năng lực để thực hiện thành công một hoạt động nghề nghiệp hoặc xã hội cần thiết. Đào tạo được thực hiện bởi các loại hình tô chức chuyên ngành nhằm thay đổi hành vi và thái độ làm việc của con người, tạo cho họ khả năng đáp ứng được tiêu chuẩn và hiệu quả của công việc chuyên môn. Căn cứ vào thời gian đào tạo thì đào tạo nghề được chia làm hai loại: Đào tạo nghề đài hạn: thời gian đào tạo nghề đài hạn thường từ một năm trở lên.
Đào tạo nghề ngắn hạn: thời gian từ ba đến mười hai tháng. Đào tạo nghề cho người lao động bao gồm: đào tạo nghề mới, đào tạo nghề bồ sung, đảo tạo lại nghề. + Đào tạo nghề mới: là dao tạo cho những người chưa có nghề, nhằm đáp ứng tăng thêm lao động qua đào tạo nghề cho xã hội. + Đào tạo nghề bổ sung: là đào tạo cho những người đã từng được đảo tạo trước đó, nhằm bô sung những kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp mới để nâng cao trình độ tay nghề cho người lao động.
+ Đào tạo lại nghề: là đào tạo cho những người đã từng được đảo tạo nghề l1 trước đó nhưng hiện không đáp ứng được yêu cầu mới của sản xuất vả kỹ thuật nên được đào tạo lại phù hợp với ngành nghề mới và trình độ kỹ thuật. Như vậy, theo tác giả thì đào tạo nghề là quá trình mà mỗi nhà trường tổ chức các lực lượng đề hình thành các kiến thức, kỹ năng và kỹ xảo ở người học nhằm tạo ra năng lực giúp họ thực hiện thành công một hoạt động nghề nghiệp nhất định. Quản lý đào tạo nghề QL ĐTN là sự tác động của chú thê quản lý đến các đối tượng quản lý trong lĩnh vực dạy nghề. QL ĐTN là hệ thống những tác đông có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thé quản lý trong hệ thống dạy nghề, là sự điều hành hệ thống của các cơ sở DN nhằm góp phân thực hiện mục tiêu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài.
QL ĐTN là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đầy mạnh hoạt động theo yêu cầu phát triển xã hội [22]. Như vậy QL ĐTN được hiểu là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống và hợp quy luật của chủ thể QL đến GV, NV, HSSV, cha mẹ HSSV và các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường, nhằm thực hiện nhiệm vụ ĐT của nhà trường đạt CL, hiệu quả, phù hợp với chủ trương, đường lỗi của Dang, chính sách vả pháp luật của nhà nước.