CHƯƠNG 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP, XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI 1. TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU VỀ PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP, XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI 1. Trên thế giới Nông nghiệp đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế của nhiều quốc gia, nhất là các quốc gia đang phát triển. Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu về vị thế, vai trò của nông nghiệp.Fonratier với lý thuyết "Ba khu vực hoạt động KT-XH” đã chia thành 03 khu vực hoạt động cơ bản là nông nghiệp, công nghiệp - xây dựng (CN-XD), dịch vụ; trong đó, nông nghiệp là ngành cung cấp tư liệu sinh hoạt cho con người,.
và việc sản xuất ra tư liệu sinh hoạt được xem điều kiện đầu tiên cho sự sống và các lĩnh vực sản xuất. Mác trong “Học thuyết kinh tế” lại nhấn mạnh: Sự phát triển nông nghiệp giữ vai trò rất quan trọng đối với sự sinh tồn và phát triển của xã hội loài người bởi vì con người trước hết phải có ăn rồi sau đó mới đến các hoạt động khác. Vai trò của nông nghiệp sau này được kế thừa, phát huy bởi Ănghen và nhiều nhà khoa học khác trên thế giới (dẫn theo [29]). Johnston và Mellor đưa ra 05 vai trò của nông nghiệp đối với phát triển kinh tế, đó là gia tăng nguồn cung cấp lương thực - thực phẩm (LT-TP) cho tiêu dùng trong nước, chuyển giao lao động từ khu vực nông nghiệp sang khu vực phi nông nghiệp, mở rộng quy mô của thị trường đối với sản phẩm nông nghiệp, tăng nguồn cung cấp tiết kiệm nội địa và mở rộng xuất khẩu nông sản thu ngoại tệ (dẫn theo [19]).
FAO với cuốn “Xây dựng chính sách cho nông nghiệp bền vững và phát triển nông thôn” [119] khẳng định: phát triển nông nghiệp bền vững trên cơ sở quản lý, bảo tồn TNTN và thay đổi thể chế công nghệ nhằm đảm bảo thỏa mãn và duy trì nhu cầu của con người cả thế hệ hiện tại và tương lai. Sự bền vững này (gồm N, L, TS) đảm bảo không tổn hại đến môi trường với công nghệ phù hợp, có hiệu quả về kinh tế và được xã hội chấp nhận. Từ đó, FAO đưa ra các chính sách hướng dẫn, giúp đỡ người nông dân tăng GTSX nông nghiệp, thúc đẩy nông thôn phát triển. Ngân hàng thế giới (WB) và Ủy ban quốc gia về Hợp tác kinh tế quốc tế [55] cũng nhấn mạnh vai trò quan trọng của nông nghiệp là góp phần thúc đẩy thương mại, hội nhập kinh tế quốc tế thông qua hàng hóa xuất khẩu.
Chuỗi cung ứng nội địa các hàng hóa xuất khẩu (trong đó có nông sản) giữ vai trò trọng yếu để tạo thuận lợi thương mại. Nghiên cứu này cũng gợi ý ba trụ cột thúc đẩy tăng trưởng thương mại gồm hạ tầng giao thông và dịch vụ logictics (trụ cột thứ nhất); Thủ tục pháp quy trong giao dịch thương mại trên thế giới (trụ cột thứ hai); Tái cơ cấu chuỗi cung ứng (Trụ cột 11 thứ ba). Ở trụ cột thứ ba, cuốn sách nhấn mạnh những mặt hàng nông sản xuất khẩu chủ lực của Việt Nam gồm gạo, cao su, cà phê và thủy sản. Chúng được sản xuất ở vùng nông thôn xung quanh các khu vực kinh tế trọng điểm, được chế biến đặt gần các cửa ngõ quốc tế và trong nước.
Tuy nhiên, hiện nay tốc độ tăng trưởng của các mặt hàng này có xu hướng giảm do chạm ngưỡng về đất đai và lao động. Để khắc phục tình trạng này, đòi hỏi phải thâm canh trong sản xuất nông nghiệp, áp dụng tiến bộ khoa học công nghệ (KHCN) và phát huy hiệu quả vai trò của kinh tế hộ gia đình, trang trại và vùng chuyên canh, nâng cao hiệu quả kinh tế của cánh đồng lớn. Nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển và phân bố nông nghiệp, có nhiều cá nhân và tổ chức quốc tế quan tâm, đề cập tới các nhân tố khác nhau chi phối sản xuất nông nghiệp. Chẳng hạn, Klatzman et al.
(eds) trong “Vai trò của hành động nhỏ trong CNH và khu vực nông thôn” [122] chỉ ra thách thức lớn nhất của chuyển đổi cơ cấu kinh tế là việc rút bớt lao động ra khỏi nông nghiệp, nông thôn. Trong quá trình phát triển, thế giới có 03 kiểu chuyển dịch khác nhau: một là giảm số lượng và tỉ lệ lao động nông nghiệp như ở các nước phát triển; hai là tăng số lượng và giảm tỉ lệ lao động nông nghiệp; ba là tăng số lượng và tỉ lệ lao động nông nghiệp. Còn Frans Ellits [27] phác họa những vấn đề cơ bản về chính sách phát triển nông nghiệp ở các nước đang phát triển trên cơ sở những nghiên cứu lý thuyết cũng như thực tiễn ở châu Á, châu Phi và châu Mĩ La Tinh. Nghiên cứu của ông còn đề cập đến chính sách vùng, chính sách hỗ trợ đầu vào và đầu ra cho sản xuất nông nghiệp, chính sách trợ giá nông sản và phát triển nông nghiệp trong quá trình đô thị hóa (ĐTH), quá trình sản xuất hàng hóa gắn với thương mại nông sản (nhất là đối với nước đang phát triển), xác định các mô hình cho phát triển nông nghiệp, nông thôn, nông dân (cả thành công và thất bại).
Joachim Von Braun [121] cho rằng: Xu thế hội nhập và TCH diễn ra ngày càng mạnh mẽ, mang lại nhiều cơ hội về thị trường cho sản xuất nông nghiệp. Cùng với việc tác động đến các đơn vị sản xuất nông nghiệp, hội nhập kinh tế còn làm cho mối quan hệ cung-cầu nông sản thay đổi. Do vậy, việc xây dựng các chuỗi ngành hàng nông sản góp phần thúc đẩy nông nghiệp ổn định, bền vững, khắc phục được thách thức của quá trình hội nhập đối với nông nghiệp, nông dân và nông thôn. Cuốn “Phát triển nông nghiệp và chính sách đất đai ở Việt Nam”[23] đã hệ thống cơ sở lý luận về phát triển nông nghiệp và chính sách đất đai ở nước ta.
Từ đó, phân tích hiện tượng manh mún đất đai ở miền Bắc, chính sách thuế và sử dụng đất nông nghiệp, thu nhập từ nông nghiệp và đa dạng hóa nguồn thu nhập của nông hộ, đưa ra những kết luận về mô hình hóa kinh tế hộ ở Việt Nam. Bàn luận về tình hình sản xuất nông nghiệp (theo ngành và lãnh thổ) ở những khu vực khác nhau cũng trở thành vấn đề nghiên cứu trọng tâm của nhiều nhà khoa 12 học và tổ chức quốc tế như FAO, UNDP, ADB, WB, … Tiêu biểu là các công trình “Việt Nam trong WTO: Thực trạng và những thách thức trong tương lai đối với ngành nông - công nghiệp” [123]; “Tổ chức lãnh thổ sản xuất nông nghiệp”, “Tiến bộ KHKT và các hình thức mới về TCLTNN gắn liền với sự tiến bộ này”, “Một số vấn đề và phương pháp tiếp cận hệ thống trong việc nghiên cứu TCLTNN”, “Hệ thống lãnh thổ sản xuất nông nghiệp”, … (dẫn theo [89]). Cùng với các nghiên cứu về nông nghiệp, nông thôn cũng là vấn đề thu hút sự quan tâm của nhiều tổ chức quốc tế, nhiều nhà khoa học trên thế giới. Vị trí, vai trò, đặc điểm của nông dân, thiết chế nông thôn của một số quốc gia trên thế giới và kết quả bước đầu khi nghiên cứu làng truyền thống ở nước ta được đề cập chủ yếu trong “Một số vấn đề về nông nghiệp, nông dân nông thôn ở các nước và Việt Nam” [9].
Bộ Ngoại giao Liên bang, Cơ quan Phát triển Thụy Sỹ và Hợp tác SDC, Chương trình an ninh lương thực toàn cầu [120] cũng đã đúc kết kinh nghiệm trong sử dụng các dịch vụ công cho Chương trình phát triển nông nghiệp nông thôn và đánh giá tổng quan hệ thống khuyến nông trước, trong và sau khi có sự can thiệp của chính sách và dịch vụ công, tạo cơ sở mở rộng và thực hiện chính sách công nhằm hỗ trợ phát triển nông thôn khu vực châu Á. Hàn Quốc với “Phong trào làng mới”: Được chính thức bắt đầu tháng 04/1970, đề cao “Tinh thần Saemaul” gồm 3 yếu tố “Chăm chỉ - Tự lực - Hợp tác”, góp phần tạo ra sự thay đổi mạnh mẽ bức tranh nông thôn và đã nhanh chóng đạt được nhiều thành tựu lớn. Về cơ bản, nước này đã đáp ứng tốt nhu cầu tự túc lương thực cho người dân và hoàn thành phổ biến kiến thức nông nghiệp vào năm 1974. So với hộ ở thành thị, thu nhập trung bình năm của hộ nông dân cao hơn (cụ thể: nông thôn đạt 562 USD/người và thành thị đạt 537 USD/người).
Đến năm 1980, diện mạo nông thôn Hàn Quốc thay đổi hoàn toàn, đời sống cư dân nông thôn được nâng cao hơn hẳn với hệ thống CSHT và CSVCKT (điện, nước sạch, đường giao thông, công trình văn hóa, .) được nâng cấp, cải tạo và từng bước hiện đại. Rõ ràng, việc triển khai phong trào này đã góp phần hình thành cộng đồng NTM ngày càng giàu có hơn, đẹp hơn, văn minh hơn [18], [32], [64], [118]. Nhật Bản với phong trào “Mỗi làng một sản phẩm”: Được tiến hành trước tiên ở tỉnh Oita (miền Tây Nam Nhật Bản) từ những năm 70 của thế kỷ XX. Mục đích của phong trào này nhằm thúc đẩy phát triển nông thôn dựa trên tiềm năng, thế mạnh của địa phương, giảm nghèo và nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân bản địa, từng bước phát triển tương xứng với sự phát triển chung của cả nước.
Để thuận lợi cho kiểm soát giá gạo nếu sản lượng lúa gạo trong nước vượt quá nhu cầu tiêu dùng, hiện nay Nhật Bản vẫn áp dụng chính sách nông nghiệp được thông qua năm 1971. 13 Theo đó, khi giá gạo hạ xuống thì Chính phủ sẽ xuất tiền ngân sách để mua gạo cho dân[18], [64]. Ở Thái Lan, phát triển nông nghiệp nhận được sự trợ giúp mạnh mẽ của Nhà nước. Cụ thể là đối với các sản phẩm nông nghiệp, Nhà nước hỗ trợ để tăng năng lực cạnh tranh thông qua nhiều biện pháp (khai thác, quản lý, sử dụng và bảo vệ nguồn tài nguyên một cách khoa học, hợp lý; đẩy mạnh công tác xúc tiến thương mại, quảng cáo và mở rộng thị trường; ngăn chặn kịp thời tình trạng khai thác bừa bãi và tăng cường phục hồi các khu vực bị suy thoái,.
Trên phạm vi toàn quốc, chương trình điện khí hóa nông thôn được thực hiện, nhiều trạm thủy điện quy mô vừa và nhỏ được xây dựng,. Chính phủ cũng tập trung lãnh đạo và đầu tư phát triển các ngành mũi nhọn trong nông nghiệp, đẩy mạnh phát triển công nghiệp chế biến nông sản nhằm đáp ứng tốt nhu cầu tiêu dùng trong nước và tạo nguồn hàng xuất khẩu, chú trọng vấn đề đảm bảo vệ sinh, an toàn thực phẩm [18], [64]. Còn ở Trung Quốc, Chính phủ rất coi trọng vấn đề “Tam nông”.