CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CÓ LIÊN QUAN ĐẾN PHÁT TRIỂN KINH TẾ VÙNG VEN BIỂN THEO HƯỚNG HIỆN ĐẠI 1. Tổng quan về phát triển hiện đại đối với nền kinh tế Qua các tài liệu thu thập được, hầu hết các công trình nghiên cứu chủ yếu đề cập vấn đề công nghiệp hóa, hiện đại hóa đối với nền kinh tế cấp quốc gia hoặc đối với một vùng kinh tế lớn, chưa có công trình nghiên cứu nào đề cập đến vấn đề phát triển kinh tế vùng ven biển theo hướng hiện đại. Song, các công trình nghiên cứu thu thập được đề cập đến nhiều vấn đề hữu ích cho việc tham khảo. a) Công trình trong nước Học giả Trần Văn Thọ [49], từ kinh nghiệm phát triển công nghiệp của Nhật Bản đã đề xuất tư tưởng về phát triển công nghiệp hóa để nâng cao trình độ công nghệ ở Việt Nam trong bối cảnh Châu Á - Thái Bình Dương phát triển nhanh và được xem như nhân tố thúc đẩy sự phát triển kinh tế thế giới.
Việt Nam cần tính tới điều này để thực thi đường lối công nghiệp hóa theo hướng hiện đại ngay từ bây giờ chứ không thể chậm trễ hơn. Ông cho rằng, công nghiệp hóa chính là lựa chọn những ngành công nghiệp có lợi thế để đạt được hiệu quả cao nhất, hình thành những ngành sản phẩm công nghiệp chủ lực của Việt Nam. Để đạt được mục tiêu đó phải coi trọng và thực thi khôn ngoan việc thu hút các nhà đầu tư tiềm năng nắm giữ tài chính, công nghệ, thị trường cũng như các chuỗi giá trị quan trọng của nền kinh tế thế giới. Song Việt Nam cũng nghĩ tới việc đầu tư cho lĩnh vực nghiên cứu sáng tạo để tạo ra một số loại công nghệ cao, nhất là trong lĩnh vực phát triển nông nghiệp, khai thác dầu khí, sản xuất vật liệu.
Ông nhấn mạnh nếu không có nguyên vật liệu tốt thì không thể có điều kiện để phát triển những ngành công nghiệp chế tạo mũi nhọn như cơ khí, chế tạo máy móc thiết bị, cơ điện tử. Đồng thời, ông nhấn mạnh vấn đề hiện đại hóa gắn với nâng cao hiệu suất sử dụng các nguồn lực mà Việt Nam có, nhất là nguồn nhân lực trong giai đoạn “dân số vàng”. Học giả Ngô Doãn Vịnh trong hai cuốn sách “Bàn về vấn đề lý luận” [69] và “Giải thích thuật ngữ trong nghiên cứu phát triển” [71] đã nhấn mạnh vai trò của công nghệ hiện đại trong quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa. Ông tách riêng “công nghiệp hóa” và “hiện đại hóa” để xem xét một cách cụ thể.
Ông cho rằng, 13 công nghiệp hóa là thay đổi phương thức sản xuất từ kiểu nông nghiệp sang phương thức sản xuất kiểu công nghiệp là chủ yếu và phổ biến; còn hiện đại hóa là thay đổi công nghệ từ trình độ này sang trình độ khác cao hơn, hữu ích hơn. Vì thế, có công nghiệp hóa mà không có hiện đại hóa là chuyện rất có thể xảy ra. Ông cho biết thực tiễn phát triển của Việt Nam trong những năm vừa qua đã minh chứng cho quan điểm này. Điều đáng chú ý ở đây là hiện đại hóa gắn kết với công nghiệp hóa nhưng hiện đại hóa không chỉ có trong lĩnh vực công nghiệp mà còn phải có trong cả lĩnh vực nông nghiệp, dịch vụ, quản trị nhà nước và quản trị doanh nghiệp.
Vì thế, không nên nói chung chung “công nghiệp hóa, hiện đại hóa” vì như thế không rõ nội hàm và vai trò, ý nghĩa của từng nội dung (công nghiệp hóa và hiện đại hóa) để có giải pháp phù hợp. Đào Minh Hồng - Lê Hồng Hiệp [23], trong cuốn “Sổ tay Thuật ngữ quan hệ quốc tế”, phần trình bày về bốn hiện đại hóa của Trung Quốc cho biết, ở Trung Quốc lần đầu tiên vấn đề bốn hiện đại hóa được Thủ tướng Chu Ân Lai nhắc đến tại Hội nghị Công tác khoa học kỹ thuật (được tổ chức ở thành phố Thượng Hải của Trung Quốc vào tháng 1 năm 1963). Trong bài diễn văn kết thúc Đại hội đại biểu toàn quốc Đảng Cộng sản Trung Quốc lần thứ 11 vào tháng 08 năm 1977, Đặng Tiểu Bình đã khẳng định tầm quan trọng đặc biệt của hiện đại hóa và vấn đề “Bốn Hiện đại hóa” được chính thức đưa vào văn kiện Đại hội Đảng của Đảng Cộng sản Trung Quốc. Theo đó, Đảng Cộng sản Trung Quốc [22] đã đặc biệt nhấn mạnh và chỉ rõ rằng, khoa học công nghệ là yếu tố then chốt để phát triển quốc gia và việc nghiên cứu khoa học phải dẫn dắt công cuộc xây dựng kinh tế.
Từ đó cho đến nay, người Trung Quốc tiếp tục theo đuổi đường lối “Bốn Hiện đại hóa” và đã thu được thành công to lớn, Trung Quốc đã trở thành nền kinh tế lớn thứ hai thế giới (sau Hoa Kỳ). Ngô Thúy Quỳnh trong “Giáo trình tổ chức lãnh thổ kinh tế” [39] đã nhấn mạnh phát triển hiện đại trên nền tảng công nghệ tiên tiến ở Việt Nam và cho rằng phải phát triển các hình thức tổ chức lãnh thổ hiện đại tùy theo điều kiện của từng vùng miền. Trong đó, đặc biệt quan trọng là các hình thức khu kinh tế ven biển, khu công nghiệp, khu du lịch (theo quan điểm mới - một khu có tính ước lệ nhưng có chủ thể quản lý) và đô thị hạt nhân tạo vùng, không thể nôn nóng phát triển tràn lan các khu kinh tế, khu công nghiệp và các đô thị. Học giả này cho rằng, chính các hình thức tổ chức lãnh thổ kinh tế hiện đại sẽ giúp hiện đại hóa các vùng miền ở nước ta và qua 14 đó góp phần hiện đại hóa nền kinh tế.
Hệ quả của nó là đem lại sự phát triển hiệu quả, bền vững cho cả nền kinh tế cũng như cho mỗi vùng. Học giả này cũng cho rằng, dọc dải ven biển Việt Nam nên và chỉ cần hình thành và phát triển ba lãnh thổ đầu tàu (nơi tập trong các năng lực kinh tế, có sức lôi kéo sự phát triển của nền kinh tế cả nước). Cũng học giả Ngô Thúy Quỳnh [37] lại nói rõ thêm sự cần thiết phải phát triển một số lãnh thổ đầu tàu để lôi kéo sự phát triển kinh tế của Việt Nam mà trong đó quan trọng phải kể đến một số thành phố lớn (Hà Nội, Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng). Đây là tư tưởng có thể kế thừa cho việc nghiên cứu đầu tư tập trung ở vùng ven biển tỉnh Thanh Hóa.
Học giả Võ Trí Thành [43] trong báo cáo đề tài khoa học “Chiến lược sử dụng vốn cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa” đã cho biết công nghiệp hóa, hiện đại hóa cần rất nhiều vốn. Muốn công nghiệp hóa, hiện đại hóa thành công phải có chiến lược huy động vốn đầu tư để có được công nghệ hiện đại. Một trong những hướng huy động vốn quan trọng cho công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa là thu hút vốn FDI và vốn đầu tư tư nhân; không nên sử dụng quá nhiều vốn ngân sách nhà nước cho việc này. Nhà nước nên đưa vốn vào lĩnh vực phát triển nghiên cứu sáng tạo công nghệ và vật liệu mới để thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta.
Tuy nhiên, học giả Võ Trí Thành cũng chưa làm rõ nội dung của công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam. Hai học giả Nguyễn Văn Nam và Trần Thọ Đạt [31] trong khi phân tích quá trình tăng trưởng kinh tế của Việt Nam trong những năm vừa qua đã rút ra nhiều nhận định có ý nghĩa quan trọng. Hai ông nhấn mạnh yếu tố hiện đại hóa trong khi bàn về tốc độ và chất lượng tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam và cho rằng chỉ có hiện đại hóa mới dẫn đến tăng trưởng nhanh và làm cho nền kinh tế phát triển có chất lượng. Đây là quan điểm phù hợp cho Luận án kế thừa, tuy nhiên, hai học giả này vẫn chưa làm rõ được nội hàm của hiện đại hóa.
Kenichi Ohno - Nguyễn Văn Thường trong cuốn “Hoàn thiện chiến lược phát triển công nghiệp Việt Nam” [25] đã phân tích điểm khác biệt giữa mô hình công nghiệp hóa cổ điển với mô hình công nghiệp hóa hội nhập kinh tế và cho biết Việt Nam phải tính tới hội nhập kinh tế thế giới để xây dựng thể chế và triển khai thu hút vốn FDI theo hướng thu hút công nghệ hiện đại hướng về xuất khẩu và tham gia các chuỗi giá trị toàn cầu. Vì thế việc tiếp nhận công nghệ hiện đại từ các quốc gia phát triển là một tất yếu cũng như một đòi hỏi khách quan. Việt Nam phải chấp nhận 15 cạnh tranh trong thu hút vốn FDI và để các thành phần kinh tế (nhà nước và tư nhân) cạnh tranh thực sự để sử dụng hiệu quả hơn các nguồn tài nguyên cũng như các nguồn lực mà Việt Nam có sẵn. Quá trình công nghiệp hóa phổ quát của các quốc gia trải qua bốn giai đoạn.1: Bốn giai đoạn công nghiệp hóa Dạng Đặc điểm Quốc gia “Nấc 1” Không có ngành phụ trợ, phụ thuộc chủ Việt Nam Chỉ lắp ráp yếu vào công nghệ và kinh nghiệm quản lý của nước ngoài “Nấc 2” Có các ngành phụ trợ quan trọng, vẫn Thái Lan, Lắp ráp và sản xuất phụ thuộc lớn vào công nghệ và kinh Malaysia, linh kiện nghiệm quản lý của nước ngoài Trung Quốc “Nấc 3” Công nghệ và kinh nghiệm quản lý phần Hàn Quốc, Năng lực nội địa cao lớn được nội địa hóa; có thể sản xuất các Đài Loan sản phẩm chất lượng cao nhưng chưa thể đi đầu trong đổi mới hoặc thiết kế sản phẩm “Nấc 4” Trang bị đầy đủ năng lực nội địa bao gồm Nhật Bản, Mỹ, Đầy đủ năng lực cả việc đổi mới và thiết kế sản phẩm trong Liên minh Châu đổi mới lĩnh vực phát minh công nghệ Âu Nguồn: Nguyễn Văn Thường và Kenichi Ohno [25] Nguyễn Văn Thường và Kenichi Ohno lấy hiện đại hóa làm tiêu chí cơ bản để phân định các giai đoạn công nghiệp hóa.
Song, họ không sử dụng cụm từ “công nghiệp hóa, hiện đại hóa” mà chỉ sử dụng cụm từ “công nghiệp hóa”. Tư tưởng nghiên cứu tiến bộ đó rất có giá trị để tham khảo đối với việc nghiên cứu hiện đại hóa. Quan điểm của Kenichi Ohno đã đề xuất cách đây khoảng 15 năm, nên trật tự hay vị trí các quốc gia đã có sự thay đổi theo các nấc trình độ của công nghiệp hóa. Song, đây không phải vấn đề quan trọng mà liệu thực tế có phân định rành rọt 4 giai đoạn đối với một quốc gia khi mà toàn cầu hóa công nghệ, công nghiệp đã trở nên phổ biến và giữ vai trò lớn đối với phát triển công nghiệp của một quốc gia.