Đặt vấn đề với tính chính thống đƣơng đại trong quản lý chuỗi cung ứng và giá trị, các tác giả đã nỗ lực để phát triển tƣ duy dựa trên nguồn lực bằng cách nhấn mạnh sự cần thiết của một quan niệm năng động về kinh doanh trong việc thu nhận và quản lý nguồn lực, và bằng cách đặt công ty vào phạm vi rộng hơn bối cảnh của mạng lƣới chuỗi cung ứng. Cuốn sách: phác thảo bốn kiểu quan hệ trao đổi cơ bản - sự thống trị của ngƣời mua, sự chi phối của nhà cung cấp, sự phụ thuộc lẫn nhau và sự độc lập; phân loại 6 hình thức khác nhau của ngƣời mua và nhà cung cấp thống trị; và giải thích tại sao các sáng kiến quản lý chuỗi cung ứng tích hợp thƣờng thất bại và tại sao một số khu vực nhất định trong mạng lƣới chuỗi cung ứng lại có lợi hơn. Freedman (1995), Luận án tiến sĩ “The Role of Distributors in Product Supply Channels: Theory and Practice”, Massachusetts Institue of Technology [88] Luận án đã tổng hợp các lý thuyết liên quan đến vai trò của các nhà phân phối trong các kênh cung cấp sản phẩm, phân tích trƣờng hợp điển hình về một nhà bán lẻ lớn của Mỹ thông qua phƣơng pháp khảo sát, thu thập thông tin đối với các nhà cung cấp, nhà phân phối, nhân viên kinh doanh và logistics. Luận án nghiên cứu cả hai vai trò của các nhà phân phối và lý thuyết hỗ trợ việc sử dụng các nhà phân phối trong các kênh cung cấp sản phẩm, qua đó làm rõ tầm quan trọng của hoạt động phân phối đối với việc gia tăng lợi nhuận của các nhà bán lẻ.
Hà Văn Hội (2012), bài báo khoa học“Chuỗi giá trị xuất khẩu dệt may của Việt Nam: Những bất lợi, khó khăn và biện pháp đối phó”, Tạp chí Khoa học, Đại học Quốc gia Hà Nội [34] Công trình nghiên cứu phân tích đặc thù sản phẩm dệt may xuất khẩu của Việt Nam là phụ thuộc vào ngƣời tiêu dùng nƣớc ngoài, nên trong mỗi “mắt xích” của chuỗi giá trị xuất khẩu dệt may, từ khâu nhập khẩu nguyên liệu thô cho đến các khâu tiếp theo nhƣ sản xuất nguyên, phụ liệu cho ngành dệt may, sản xuất sản phẩm xuất khẩu, phân phối sản phẩm trên thị trƣờng quốc tế đều gặp phải nhiều khó khăn khách quan cũng nhƣ chủ quan. Chính vì vậy, để góp phần gia tăng giá trị trong chuỗi giá trị xuất khẩu, ngành dệt may Việt Nam cần tăng cƣờng các biện pháp nhƣ chủ động nguồn nguyên liệu và nhân lực cho sản xuất; tăng cƣờng thu thập, phân tích và trao đổi thông tin, nắm bắt tình hình thị trƣờng xuất khẩu; tăng cƣờng tham gia vào chuỗi cung ứng dệt may khu vực và toàn cầu; nắm vững các quy định của các nƣớc đối với việc nhập khẩu sản phẩm dệt may. Nghiên cứu cũng đƣa ra đề xuất Hiệp hội Dệt may Việt Nam cần khuyến khích các doanh nghiệp tích cực tham gia chuỗi cung ứng ASEAN. Để có thể chuyển dần lên các mô hình sản xuất ở cấp độ cao hơn, thoát khỏi tình trạng gia công và tăng giá trị gia tăng, cơ hội mở ra cho Việt Nam khi một mối liên kết chặt chẽ giữa các nhà sản xuất dệt và may trong ASEAN để xây dựng chuỗi cung ứng trong khu vực đƣợc xây dựng.
SAFSA - chuỗi cung ứng dệt may chất lƣợng cao ASEAN là một trong những mô hình đó. SAFSA đƣợc kỳ vọng sẽ nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp dệt may. Hai bên gồm nhà cung cấp và khách hàng đều có lợi: nhà cung cấp sẽ có lợi nhuận cao hơn khi chuyển dần từ gia công sản phẩm đơn thuần sang sản xuất dịch vụ trọn gói, còn khách hàng có nhiều sự lựa chọn về các nhà cung ứng dịch vụ hơn với thời gian đƣợc cung ứng sản phẩm ngắn hơn. Các nghiên cứu về phát triển hệ thống phân phối hàng hóa một quốc gia ở nƣớc ngoài Những nghiên cứu về phát triển hệ thống phân phối hàng hóa của một quốc gia ở nƣớc ngoài không nhiều, tuy nhiên, NCS đã tìm hiểu và liệt kê một số nghiên cứu điển hình sau đây.
Những nghiên cứu này là những tài liệu tham khảo rất hữu ích về thực tiễn, giúp NCS phân tích và rút ra một số bài học kinh nghiệm có thể áp dụng trong thực tế tại Việt Nam. - Masakuni Negishi và Takashi Shimasaki (2014), báo cáo khoa học khả năng xây dựng hạ tầng phân phối kiểu Nhật Bản tại thị trường ASEAN, Viện nghiên cứu Nomura [86] 12 Báo cáo đã nghiên cứu kỹ thực trạng mạng lƣới phân phối hàng hóa tại các thị trƣờng ASEAN để xác định tính khả thi và tìm phƣơng án “xuất khẩu” các hạ tầng phân phối kiểu Nhật sang ASEAN. Nghiên cứu cho thấy trong những năm gần đây, thị trƣờng phân phối của ASEAN phát triển rất nhanh chóng và nhu cầu xây dựng các mạng lƣới phân phối hiện đại. Nghiên cứu này cũng chỉ ra 3 phƣơng pháp để xây dựng mạng lƣới phân phối tại thị trƣờng mới gồm có: (1) thúc đẩy xuất khẩu; (2) hỗ trợ các doanh nghiệp phát triển kinh doanh ở các thị trƣờng trọng điểm và (3) hỗ trợ việc mở rộng mạng lƣới phân phối, kinh doanh hiện có của các doanh nghiệp tại các thị trƣờng trọng điểm.
Đối với việc mở kênh phân phối tại thị trƣờng ASEAN, sau khi nghiên cứu các đặc trƣng của thị trƣờng này, các tác giả cũng chỉ ra các điều kiện để thành công gồm có: Đảm bảo tính minh bạch, rõ ràng và độ mở khi phân chia trách nhiệm và lợi nhuận giữa các bên liên quan (các thị trƣờng ASEAN rất đa văn hóa, đa chủng tộc nên không phải các bên sẽ dễ dàng hiểu nhau); Thiết lập một tổ chức gồm những ngƣời có kinh nghiệm phát triển mạng lƣới phân phối ra bên ngoài và đặc biệt là có kinh nghiệm về phân phối tại thị trƣờng ASEAN; Chính phủ cần có hỗ trợ thông qua những khoản đầu tƣ trung và dài hạn thay vì các khoản trợ cấp trong ngắn hạn. Briones and Danilo C. Israel (2014), Nghiên cứu “Tăng cường kết nối chuỗi cung ứng và khả năng cạnh tranh của các sản phẩm nông nghiệp ASEAN: Xác định các điểm nút và cơ hội cải tiến”, Viện Nghiên cứu phát triển Philippines [89] Nghiên cứu cho thấy Chính phủ Philippines muốn bắt đầu hợp nhất dài hạn giữa hoạt động chế biến và tiếp thị trong ngành. Điều này có thể dẫn đến một mạng lƣới các trung tâm thƣơng mại và chế biến, thúc đẩy hợp tác công tƣ trong phát triển xuất khẩu và phân phối sản phẩm, kết hợp với một khung pháp lý mạnh mẽ, áp dụng các tiêu chuẩn và cấp phép sản phẩm.
Đồng thời khu vực công nên đầu tƣ nhiều vào cải thiện mạng lƣới giao thông. - Gerd Vonfram (2003), tài liệu hội thảo “Metro Group: Future Store Initiative” [75] Nghiên cứu của Gerd Vonfram (Giám đốc IT của Tập đoàn Metro) nhấn mạnh sự phát triển, tích hợp của công nghệ vào chuỗi bán lẻ. Lấy case study của mero, tập đoàn này hƣớng đến tiếp cận trực tiếp ngƣời tiêu dùng, với việc ứng dụng công nghệ để ngƣời tiêu dùng nắm đƣợc thông tin sản phẩm, quá trình kiểm định, hệ thống cửa hàng tiện ích nhằm đƣa ra lựa chọn mua sắm một cách phù hợp. Nghiên cứu này giúp hình dung rõ hơn về xu thế của hệ thống phân phối bán lẻ trong tƣơng lai, những ƣu 13 tiên mà các nhà phân phối đang hƣớng đến.
Tuy nhiên, nghiên cứu chƣa đề cấp cách thức tuyển chọn, yêu cầu xét duyệt cụ thể từ các nhà phân phối, bán lẻ đối với sản phẩm của các nhà cung cấp. - Atsushi Kobayashi (2013), Ấn phẩm khoa học “Vai trò của Singapore trong sự phát triển của thương mại nội-Đông Nam Á, khoảng năm 1820-1852”, Viện Nghiên cứu Châu Á và Châu Phi, Đại học Tokyo [70] Ấn phẩm đã nghiên cứu về tầm quan trọng của hệ thống phân phối các sản phẩm khu vực đối với việc tăng cƣờng thƣơng mại tại Singapore và kết luận việc thiết lập thành công các hệ thống phân phối từ sớm đã giúp Singapore có vai trò quan trọng mắt xích trong thƣơng mại của khu vực. - Quỹ Hợp nhất Nhật Bản – ASEAN (2014), Tài liệu tập huấn về "Lập Kế hoạch và Phân tích Hậu cần" [87] Tài liệu đã đƣa ra các định nghĩa và mô tả về các hệ thống phân phối và mối liên hệ với logistics một cách hiệu quả. Đóng góp của tài liệu này là việc sơ đồ hóa hệ thống phân phối với hậu cần và phân tích chi tiết về các chi phí phân phối đối với hàng hóa giao dịch xuyên biên giới.
Các nghiên cứu về phát triển hệ thống phân phối hàng hóa Việt Nam ở nƣớc ngoài Nghiên cứu về hệ thống phân phối hàng hóa Việt Nam ở nƣớc ngoài là một vấn đề khá mới mẻ. Trong vài năm gần đây, tại Việt Nam có một số nghiên cứu liên quan, có tính tham khảo hữu ích với luận án của NCS. - Phạm Thị Tƣờng Vân (2017), báo cáo khoa học Nghiên cứu khảo sát: Chính sách phát triển kinh tế biên mậu ở Việt Nam, Viện Chiến lƣợc và Chính sách tài chính [64] Báo cáo đã làm rõ bất cập, khoảng trống chính sách phát triển kinh tế biên mậu, tập trung vào các chính sách về thƣơng mại (hàng hóa, thị trƣờng, xúc tiến thƣơng mại, thanh toán biên mậu…) và chính sách quản lý (đối với hoạt động thƣơng mại qua biên giới, cửa khẩu, chợ), chính sách hỗ trợ (tài chính, cơ sở hạ tầng…). Qua phân tích số liệu, chính sách, đề tài đã lý giải đƣợc nguyên nhân của những hạn chế, vƣớng mắc này, từ đó đề xuất 4 nhóm giải pháp lớn để giải quyết có hiệu quả hoạt động phát triển kinh tế biên mậu giữa Việt Nam và các nƣớc láng giềng.
14 - Chính phủ (2015), Quyết định số 1513/QĐ-TTg ngày 03/9/2015 của Thủ tƣớng Chính phủ về việc Phê duyệt Đề án Thúc đẩy doanh nghiệp Việt Nam tham gia trực tiếp các mạng phân phối ở nước ngoài giai đoạn đến năm 2020 [17] Mục tiêu của Đề án: thực hiện tập trung, đồng bộ các nhiệm vụ, giải pháp thúc đẩy doanh nghiệp Việt Nam tham gia trực tiếp các mạng phân phối ở nƣớc ngoài nhằm đẩy mạnh xuất khẩu trực tiếp hàng hóa của Việt Nam vào hệ thống phân phối nƣớc ngoài của các tập đoàn phân phối đa quốc gia; tăng quy mô kim ngạch, đa dạng chủng loại hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam tại các hệ thống phân phối nƣớc ngoài.