Tổng quan luận án

Công trình nghiên cứu "Pháp luật về dịch vụ giao nhận vận tải đường bộ ở Việt Nam hiện nay" của nghiên cứu sinh Phùng Trọng Quế, thuộc chuyên ngành Luật Kinh tế (Mã số: 9 38 01 07), được thực hiện tại Học viện Khoa học Xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Hồ Ngọc Hiển và TS. Nguyễn Văn Cương vào năm 2022.

Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, tác giả chỉ ra rằng giao nhận vận tải (GNVT) đường bộ là mắt xích gắn liền với hoạt động mua bán hàng hóa và chuỗi cung ứng logistics. Tại Việt Nam, chỉ số năng lực quốc gia về logistics (LPI) năm 2018 xếp hạng 39/160 quốc gia (tăng 25 bậc so với hạng 64/160 năm 2016), cả nước có khoảng 3.000 doanh nghiệp cung cấp dịch vụ logistics (trong đó 70% đặt tại khu vực Thành phố Hồ Chí Minh và khoảng 30 công ty đa quốc gia). Tuy nhiên, chi phí logistics tại Việt Nam vẫn chiếm tỷ trọng cao trong GDP (khoảng 20,9% năm 2014 và duy trì mức 16-17% GDP tại thời điểm nghiên cứu), trong đó chi phí vận tải chiếm gần 60% tổng chi phí logistics. Mặc dù Nhà nước đã ban hành Quyết định số 200/QĐ-TTg ngày 14/02/2017 phê duyệt Kế hoạch hành động nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển dịch vụ logistics Việt Nam đến năm 2025, khung pháp lý hiện hành vẫn bộc lộ nhiều điểm nghẽn: quy định về điều kiện kinh doanh còn chồng chéo giữa Luật Thương mại và các luật chuyên ngành; quy định về vận chuyển hàng hóa đặc biệt tại Nghị định số 42/2020/NĐ-CP chưa tương thích với Hiệp định ADR; quy định về hợp đồng dịch vụ GNVT còn sơ sài; cơ chế giới hạn và miễn trừ trách nhiệm của thương nhân cung ứng dịch vụ chưa bao quát các trường hợp thực tế như chậm giao hàng. Đến thời điểm thực hiện đề tài, chưa có công trình cấp tiến sĩ luật học nào nghiên cứu chuyên sâu, toàn diện cả về lý luận và thực tiễn pháp lý của riêng dịch vụ GNVT đường bộ.

Mục đích nghiên cứu của luận án là làm sáng tỏ các vấn đề lý luận về dịch vụ GNVT đường bộ và pháp luật điều chỉnh loại hình dịch vụ này; phân tích, đánh giá thực trạng quy định cùng thực tiễn thực thi pháp luật; từ đó đề xuất phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả thực thi tại Việt Nam đến năm 2030.

Luận án xác định 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể được đánh số như sau:

  1. Tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài để xác định nội dung kế thừa, khoảng trống nghiên cứu; xác định cơ sở lý thuyết, câu hỏi và giả thiết nghiên cứu.
  2. Nghiên cứu, làm sáng tỏ cơ sở lý luận cơ bản về dịch vụ GNVT đường bộ (khái niệm, đặc điểm) và lý luận pháp luật về dịch vụ GNVT đường bộ (khái niệm, đặc điểm, cấu trúc, nội dung cơ bản).
  3. Phân tích, đánh giá thực trạng quy định pháp luật hiện hành và thực tiễn thực thi pháp luật về dịch vụ GNVT đường bộ ở Việt Nam; chỉ ra ưu điểm, hạn chế, bất cập và nguyên nhân.
  4. Xác định các yêu cầu cơ bản và đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật cũng như nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về dịch vụ GNVT đường bộ nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội.

Đối tượng nghiên cứu của luận án là các quan điểm khoa học pháp lý về dịch vụ GNVT đường bộ, các vấn đề lý luận pháp luật và hệ thống quy phạm pháp luật hiện hành điều chỉnh dịch vụ GNVT đường bộ tại Việt Nam.

Phạm vi nghiên cứu được giới hạn trên ba phương diện:

  • Về nội dung: Nghiên cứu các nội dung pháp lý cốt lõi gồm khái niệm, đặc điểm, điều kiện kinh doanh, giao nhận hàng hóa đặc biệt, hợp đồng dịch vụ, quyền và nghĩa vụ của các bên, chế định miễn trách nhiệm và giới hạn trách nhiệm của thương nhân cung ứng dịch vụ. Luận án tiếp cận dịch vụ GNVT đường bộ dưới góc độ dịch vụ thương mại có mục đích sinh lợi (không nghiên cứu hoạt động vận tải nội bộ của doanh nghiệp) và không đi sâu vào thủ tục tố tụng giải quyết tranh chấp.
  • Về không gian: Nghiên cứu thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng tại Việt Nam, có sự đối sánh với quy định pháp luật và thông lệ của một số quốc gia, khu vực (EU, Đức, Bỉ, Ukraine, Úc, Hoa Kỳ, các nước ASEAN).
  • Về thời gian: Khảo cứu hệ thống pháp luật từ năm 2006 (thời điểm Luật Thương mại năm 2005 có hiệu lực) đến năm 2022; dữ liệu thực tiễn được thu thập chủ yếu trong giai đoạn 5 năm gần nhất; các giải pháp hoàn thiện được định hướng thực hiện đến năm 2030.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án tiến hành tổng thuật và phân loại các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước theo 4 nhóm vấn đề chính:

Nhóm 1: Các nghiên cứu lý luận về dịch vụ giao nhận vận tải và logistics.

  • PGS. Nguyễn Như Tiến chủ biên Giáo trình "Vận tải và giao nhận trong ngoại thương" (Đại học Ngoại thương) và sách chuyên khảo "Logistics – khả năng ứng dụng và phát triển trong kinh doanh dịch vụ vận tải giao nhận Việt Nam" (2004) đã cung cấp các vấn đề cơ bản về kỹ thuật giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu, phân loại người giao nhận và nhận diện logistics như một phương thức kinh doanh mở rộng của vận tải giao nhận.
  • TS. Đỗ Quốc Dũng chủ biên Giáo trình "Giao nhận, vận tải và bảo hiểm" phân tích đặc thù cơ sở vật chất kỹ thuật đường bộ và xác định logistics là bước phát triển hoàn chỉnh của dịch vụ vận tải giao nhận.
  • Cuốn sách chuyên khảo "Logistics những vấn đề lý luận và thực tiễn ở Việt Nam" của GS. Đặng Đình Đào (Viện Nghiên cứu kinh tế và phát triển, Đại học Kinh tế Quốc dân) và sách chuyên khảo của GS. Đoàn Thị Hồng Vân ("Logistics – Những vấn đề cơ bản và Quản trị logistics") tập trung làm rõ bản chất kinh tế và quản trị của chuỗi cung ứng.
  • Báo cáo năm 2018 của USAID và CIEM ("Nâng cao hiệu quả ngành logistics nhằm cải thiện môi trường kinh doanh") chỉ ra hai cách tiếp cận khái niệm logistics (nghĩa rộng và nghĩa hẹp), trong đó cách tiếp cận của Luật Thương mại 2005 tương đồng với dịch vụ giao nhận hàng hóa theo nghĩa hẹp.
  • Tác giả Jake Rheude (2020) với bài báo "What is the difference between 3PL & freight forwarding" phân định rõ ranh giới nghiệp vụ giữa giao nhận hàng hóa truyền thống và dịch vụ 3PL.
  • Các tác phẩm quốc tế của Harald Gleissner và J. Femerling phân tích khung lý thuyết logistics hiện đại dưới góc độ kinh tế học.

Nhóm 2: Các nghiên cứu lý luận và quy định pháp luật về dịch vụ giao nhận vận tải đường bộ.

  • Simone Lamont-Black và D. Rhidian Thomas trong tác phẩm "Current Issues in Freight Forwarding: law and logistics" phân tích vai trò đa chức năng, sự mơ hồ pháp lý trong tư cách của người giao nhận theo Công ước CMR và điều kiện kinh doanh tiêu chuẩn tại Đức, Ireland, Bắc Âu.
  • Các tài liệu hướng dẫn của ESCAP (2011, 2013) về tiêu chuẩn tối thiểu, quy tắc ứng xử chuyên nghiệp cho GNVT, NVOCC và vận tải đa phương thức tại Hàn Quốc, Singapore, Thái Lan, Bangladesh, Trung Quốc, nhấn mạnh cơ chế tự điều chỉnh ngành của các hiệp hội.
  • Jané và Alfonso de Ochoa với "Sổ tay hợp đồng logistics: hướng dẫn thực hành" phân tích hợp đồng 3PL trong từng phương thức vận tải.
  • Luận án tiến sĩ của Đào Thị Cấm (2020) "Hợp đồng dịch vụ logistics theo pháp luật Việt Nam hiện nay" và công trình của TS. Nguyễn Thị Dung (2020) nghiên cứu chuyên sâu về hình thức hợp đồng logistics nhưng chưa giải quyết toàn diện điều kiện kinh doanh và giao nhận hàng hóa đặc thù.
  • Borka Tusevska phân tích chế độ trách nhiệm pháp lý hữu hạn của người giao nhận theo quy tắc FIATA; Jan Ramberg nghiên cứu về sự thống nhất luật vận tải quốc tế và hợp đồng gia nhập; Mikhail Selivanov phân tích trách nhiệm người giao nhận đường bộ tại Ukraine; Adry Poelmans phân tích quyền khởi kiện của người giao nhận trong luật Bỉ; Maurice Lynch nghiên cứu việc áp dụng điều kiện kinh doanh chuẩn dưới dạng email footer tại Úc; Roy Gilad và Grossman phân tích trách nhiệm pháp lý khi giao hàng chậm.

Nhóm 3: Các nghiên cứu thực trạng và thực tiễn thực thi pháp luật.

  • Các báo cáo nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới (WB) gồm: Báo cáo "Kho vận hiệu quả: Chìa khóa để Việt Nam nâng cao năng lực cạnh tranh" (2014) và Báo cáo "Tăng cường ngành vận tải hàng hóa đường bộ Việt Nam, hướng đến giảm chi phí logistics và phát thải khí nhà kính" (2019).
  • Báo cáo Logistics Việt Nam thường niên của Bộ Công Thương (các năm 2017, 2018, 2019, 2020); Sách trắng Logistics của Hiệp hội Doanh nghiệp Dịch vụ Logistics Việt Nam (VLA); Báo cáo nghiên cứu VITRANSS2 (2010) của JICA và Bộ GTVT; các báo cáo rà soát điều kiện kinh doanh và dòng chảy pháp luật của VCCI (2011, 2017, 2020).
  • Các bài viết thực tiễn án lệ và trọng tài của Luật sư Ngô Khắc Lễ về tranh chấp giao nhận vận tải và điều kiện kinh doanh chuẩn của VLA.

Nhóm 4: Các đề xuất, kiến nghị hoàn thiện chính sách, pháp luật.

  • Các nghiên cứu của Luis C. Blancas (WB, 2015) về mô hình tham vấn công - tư; đề xuất của Nguyễn Tương, Nguyễn Hùng, Tạ Thị Thùy Trang, Võ Thị Thanh Linh và Nguyễn Thị Thu Hoài về việc sửa đổi định nghĩa logistics trong Luật Thương mại 2005, bổ sung các định chế 1PL-4PL, NVOCC, MTO, LSP và thành lập Ủy ban Logistics Quốc gia.

Khoảng trống nghiên cứu được luận án xác định: Phần lớn các công trình hiện có tiếp cận logistics dưới giác độ kinh tế học, quản trị kinh doanh hoặc nghiên cứu pháp luật logistics nói chung mà không phân tích chuyên biệt phương thức đường bộ. Các nghiên cứu pháp lý về GNVT đường bộ đa phần chỉ là bài báo đơn lẻ hoặc tập trung vào hợp đồng dịch vụ. Luận án lựa chọn giải quyết khoảng trống này bằng cách xây dựng hệ thống lý luận và đánh giá toàn diện khung pháp luật điều chỉnh dịch vụ GNVT đường bộ tại Việt Nam, từ điều kiện gia nhập thị trường, hợp đồng, trách nhiệm pháp lý đến thực tiễn thực thi.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Về cơ sở lý thuyết, luận án vận dụng các lý thuyết và khái niệm pháp lý - kinh tế chuyên ngành:

  • Lý luận về dịch vụ thương mại: Xác định 5 đặc tính cốt lõi của dịch vụ (tính vô hình, tính không thể tách rời, tính không đồng nhất, tính không cất trữ được, không chuyển giao quyền sở hữu).
  • Lý luận về địa vị pháp lý của người giao nhận: Luận án phân tích sự phân hóa địa vị pháp lý giữa hệ thống Thông luật (Common Law - người giao nhận đóng vai trò đại lý thuần túy của người gửi/nhận hàng) và hệ thống Dân luật (Civil Law - người giao nhận đóng vai trò đại lý hoa hồng, vừa là đại lý vừa là người ủy thác đối với người vận chuyển thực tế).
  • Khái niệm công cụ: Xác lập định nghĩa "Dịch vụ GNVT đường bộ là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của việc cung ứng dịch vụ liên quan đến vận chuyển, gom hàng, lưu kho, bốc xếp, đóng gói hay phân phối hàng hóa cũng như các dịch vụ khác liên quan đến hàng hoá bằng phương thức vận tải đường bộ nhằm mục đích sinh lợi".

Về phương pháp luận, luận án dựa trên nền tảng chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các chủ trương, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hội nhập kinh tế quốc tế.

Phương pháp nghiên cứu cụ thể áp dụng trong luận án là phương pháp nghiên cứu định tính và phương pháp nghiên cứu luật học chuyên ngành, bao gồm:

  • Phương pháp thu thập và tổng hợp tài liệu: Áp dụng tại Chương 1 và Chương 3 để tập hợp các nghiên cứu lý luận, số liệu thống kê ngành và báo cáo chuyên ngành.
  • Phương pháp phân tích quy phạm pháp luật: Sử dụng xuyên suốt các chương để mổ xẻ nội dung các điều luật, xác định sự thiếu hụt, chồng chéo hoặc bất cập trong các văn bản quy phạm pháp luật.
  • Phương pháp luật học so sánh: Đối chiếu quy định của pháp luật Việt Nam với các điều ước quốc tế (Công ước CMR 1961, Hiệp định ADR, cam kết WTO, CPTPP) và pháp luật các quốc gia (Đức, Bỉ, Ukraine, Úc, Thái Lan, Singapore) nhằm tìm kiếm giải pháp tương thích.
  • Phương pháp đánh giá và hệ thống hóa: Phân loại, xâu chuỗi thực trạng quy định và thực tiễn xét xử, tranh chấp.
  • Phương pháp dự báo: Áp dụng tại Chương 4 để đề xuất các giải pháp lập pháp và thực thi phù hợp với xu thế phát triển kinh tế đến năm 2030.

Nguồn tư liệu và dữ liệu của luận án bao gồm:

  • Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam: Bộ luật Dân sự 2015, Luật Thương mại 2005, Luật Doanh nghiệp, Luật Giao thông đường bộ 2008, Nghị định số 140/2007/NĐ-CP, Nghị định số 163/2017/NĐ-CP, Nghị định số 42/2020/NĐ-CP, Nghị định số 10/2020/NĐ-CP và các thông tư hướng dẫn.
  • Các điều ước và quy tắc quốc tế: Công ước CMR 1961, Công ước ADR, Quy tắc mẫu của FIATA, Điều kiện kinh doanh chuẩn của VLA.
  • Báo cáo số liệu chính thức: Báo cáo Logistics Việt Nam của Bộ Công Thương (2017-2020), Báo cáo chỉ số LPI của Ngân hàng Thế giới (2014, 2018, 2019), Báo cáo rà soát của USAID/CIEM, VCCI, và Tổng cục Thống kê.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý thuyết nghiên cứu

Chương 1 hệ thống hóa toàn diện các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế liên quan đến dịch vụ GNVT và logistics. Tác giả phân tích các hướng tiếp cận chính: hướng tiếp cận kinh tế học và quản trị chuỗi cung ứng; hướng tiếp cận pháp lý về hợp đồng và trách nhiệm bồi thường thiệt hại; hướng tiếp cận về quản lý nhà nước và điều kiện kinh doanh. Chương này chỉ ra rằng dù logistics được nghiên cứu rộng rãi, dịch vụ GNVT đường bộ dưới giác độ luật kinh tế tại Việt Nam vẫn chưa được nghiên cứu độc lập ở cấp độ luận án tiến sĩ. Đồng thời, tác giả xác lập khung lý thuyết nghiên cứu, đối tượng, phạm vi, câu hỏi và hệ phương pháp tiếp cận định tính của đề tài.

Chương 2: Những vấn đề lý luận về dịch vụ giao nhận vận tải đường bộ và pháp luật về dịch vụ giao nhận vận tải đường bộ

Chương 2 xây dựng hệ thống cơ sở lý luận về dịch vụ GNVT đường bộ và pháp luật điều chỉnh. Tác giả phân loại dịch vụ GNVT đường bộ dựa trên 4 tiêu chí: phạm vi hoạt động (nội địa, quốc tế); nghiệp vụ chuyên môn (thuần túy, tổng hợp); tính chất hoạt động (giao nhận riêng/nội bộ, giao nhận chuyên nghiệp/thương mại); và phương thức vận tải. Luận án làm rõ 5 đặc điểm cơ bản của dịch vụ GNVT đường bộ:

  1. Mang đầy đủ tính chất của dịch vụ thương mại (tính vô hình, không tách rời, không đồng nhất, không cất trữ được, không chuyển quyền sở hữu).
  2. Là ngành nghề kinh doanh có điều kiện do gắn với phương tiện vận tải là "nguồn nguy hiểm cao độ" và tính chất phức tạp của hàng hóa.
  3. Gắn liền với cơ sở vật chất kỹ thuật đường bộ và công cụ vận tải chuyên dụng (phân loại đường thành 5 cấp kỹ thuật, phân cấp quản lý từ trung ương đến địa phương; phương tiện phân loại theo trọng tải dưới 2,5 tấn, từ 2,5 đến 5 tấn, trên 5 tấn và cấu tạo thùng kín, mui bạt, chuyên dùng).
  4. Mang tính tổng hợp và đa chủ thể tham gia (người gửi, người vận chuyển, người nhận, các nhà thầu phụ gom hàng, kho bãi).
  5. Chịu tác động trực tiếp của điều kiện ngoại cảnh và thời tiết.

Về vai trò kinh tế - xã hội, dịch vụ GNVT đường bộ giúp thương nhân tiết kiệm thời gian, giảm chi phí lưu thông, mở rộng thị trường tiêu thụ thông qua khả năng vận chuyển trực tiếp "từ cửa đến cửa" (door-to-door), tạo nguồn thu ngoại tệ và giải quyết việc làm cho người lao động.

Về mặt pháp luật, chương 2 phân tích cấu trúc pháp luật điều chỉnh gồm: quy định về chủ thể và điều kiện gia nhập thị trường; quy định về hợp đồng dịch vụ GNVT đường bộ; quy định về giao nhận hàng hóa đặc biệt (hàng nguy hiểm, hàng siêu trường siêu trọng); quy định về quyền, nghĩa vụ và cơ chế giới hạn trách nhiệm, miễn trừ trách nhiệm của bên cung ứng dịch vụ.

Chương 3: Thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn thực thi pháp luật về dịch vụ giao nhận vận tải đường bộ ở Việt Nam hiện nay

Chương 3 tập trung phân tích hệ thống quy phạm pháp luật thực định và đánh giá dữ liệu thực tế tại Việt Nam giai đoạn 2016-2021. Tác giả tổng hợp các chỉ số thực trạng ngành logistics và vận tải đường bộ thông qua các bảng thống kê và số liệu báo cáo thực tế:

Chỉ số / Dữ liệu thực trạng Giá trị ghi nhận trong văn bản luận án
Số lượng doanh nghiệp dịch vụ logistics cả nước Khoảng 3.000 doanh nghiệp (70% tại khu vực TP. Hồ Chí Minh, ~30 công ty đa quốc gia)
Xếp hạng chỉ số năng lực logistics (LPI) của WB Năm 2018: Hạng 39/160 quốc gia (tăng 25 bậc so với hạng 64/160 năm 2016)
Tỷ trọng chi phí logistics so với GDP Năm 2014: 20,9% GDP; giai đoạn nghiên cứu: 16% – 17% GDP
Tỷ trọng chi phí vận tải trong chi phí logistics Chiếm gần 60% tổng chi phí logistics
Khối lượng hàng hóa vận chuyển và luân chuyển Trình bày tại Bảng 3.1 và Bảng 3.2 theo từng ngành vận tải (tr. 111)
Doanh nghiệp đăng ký mới và hoạt động ngành vận tải, kho bãi Trình bày tại Bảng 3.3 (tr. 111) và Bảng 3.4 về kết quả sản xuất kinh doanh (tr. 113)

Phân tích thực trạng quy định pháp luật cho thấy các bất cập chủ yếu:

  • Điều kiện kinh doanh dịch vụ: Quy định về tư cách pháp lý thương nhân giữa Luật Thương mại 2005 và các nghị định hướng dẫn (Nghị định 163/2017/NĐ-CP, Nghị định 10/2020/NĐ-CP) còn thiếu tính đồng bộ, gia tăng gánh nặng thủ tục hành chính.
  • Giao nhận hàng hóa đặc biệt: Quy định về vận chuyển hàng hóa nguy hiểm tại Nghị định số 42/2020/NĐ-CP chưa tương thích với Hiệp định ADR, gây vướng mắc cho doanh nghiệp vận chuyển xuyên biên giới.
  • Hợp đồng dịch vụ: Pháp luật hiện hành thiếu các quy định chi tiết điều chỉnh hợp đồng dịch vụ GNVT có tính tùy biến cao, chưa xử lý thỏa đáng vấn đề hợp đồng gia nhập (hợp đồng theo mẫu) và việc áp dụng điều kiện kinh doanh chuẩn của hiệp hội.
  • Giới hạn và miễn trừ trách nhiệm: Quy định mức giới hạn trách nhiệm bồi thường còn sơ sài, thiếu căn cứ xử lý đối với trường hợp giao chậm hàng hóa hoặc tổn thất phát sinh gián tiếp.

Chương 4: Các yêu cầu cơ bản và giải pháp hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về dịch vụ giao nhận vận tải ở Việt Nam hiện nay

Chương 4 xác định các yêu cầu nền tảng của việc hoàn thiện pháp luật: bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất của hệ thống pháp luật kinh tế; tương thích với các điều ước quốc tế và cam kết mở cửa thị trường (WTO, CPTPP, ASEAN); bảo đảm quyền tự do kinh doanh và cân bằng lợi ích giữa bên cung ứng dịch vụ với khách hàng.

Các giải pháp cụ thể được luận án đề xuất chia làm hai nhóm:

  1. Nhóm giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật:
  • Sửa đổi Luật Thương mại 2005 (đặc biệt là Mục 4 Chương VI): Hoàn thiện định nghĩa dịch vụ logistics và GNVT theo hướng phản ánh đúng chuỗi giá trị hiện đại; phân định rõ giữa vận chuyển thuần túy và dịch vụ logistics tích hợp; thể chế hóa các định chế mới như NVOCC, MTO, LSP, dịch vụ logistics bên thứ nhất đến bên thứ tư (1PL, 2PL, 3PL, 4PL).
  • Hoàn thiện quy định về điều kiện kinh doanh và thủ tục hành chính: Cắt giảm điều kiện kinh doanh chồng chéo, đơn giản hóa cấp phép vận tải chuyên ngành.
  • Sửa đổi quy định về giao nhận hàng nguy hiểm: Rà soát, sửa đổi Nghị định 42/2020/NĐ-CP nhằm đồng bộ hóa với tiêu chuẩn quốc tế ADR.
  • Hoàn thiện chế định hợp đồng và trách nhiệm dân sự: Bổ sung quy định về mức giới hạn trách nhiệm bồi thường khi giao chậm hàng; hoàn thiện cơ chế áp dụng điều kiện kinh doanh chuẩn (standard trading conditions).
  1. Nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật:
  • Tăng cường vai trò đầu mối quản lý nhà nước của Bộ Công Thương, nghiên cứu hình thành cơ chế điều phối Ủy ban Logistics Quốc gia.
  • Đẩy mạnh cơ chế đối thoại, tham vấn công - tư (PPP) trong quy hoạch hạ tầng và xây dựng chính sách GNVT đường bộ.
  • Nâng cao năng lực tự điều chỉnh ngành và vai trò của Hiệp hội Doanh nghiệp Dịch vụ Logistics Việt Nam (VLA).
  • Đào tạo nguồn nhân lực chuyên nghiệp, nâng cấp hạ tầng giao thông kết nối liên vùng và đẩy mạnh chuyển đổi số, e-logistics.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án tự xác định các đóng góp mới về mặt khoa học pháp lý và thực tiễn như sau:

  1. Về mặt lý luận: Hệ thống hóa và làm rõ cơ sở lý luận về dịch vụ GNVT đường bộ và pháp luật điều chỉnh dịch vụ GNVT đường bộ; phân tích bản chất pháp lý, đặc điểm, mối quan hệ giữa GNVT và logistics; luận giải các yếu tố tác động và sự cần thiết điều chỉnh pháp luật đối với phương thức vận tải đường bộ.
  2. Về mặt thực tiễn pháp lý: Đánh giá một cách có hệ thống thực trạng các quy định pháp luật và thực tiễn thi hành tại Việt Nam; chỉ ra những mâu thuẫn, khoảng trống pháp luật (về điều kiện kinh doanh, hợp đồng, giới hạn trách nhiệm, hàng hóa nguy hiểm); so sánh đối chiếu quy định trong nước với pháp luật quốc tế và các thông lệ của FIATA, ESCAP, CMR để làm rõ nguyên nhân bất cập.
  3. Về mặt giải pháp: Xác lập hệ thống quan điểm, yêu cầu mang tính khoa học và đề xuất các nhóm giải pháp lập pháp, giải pháp tổ chức thực thi cụ thể nhằm hoàn thiện khung khổ pháp luật về dịch vụ GNVT đường bộ ở Việt Nam định hướng đến năm 2030.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về mặt hạn chế, căn cứ theo phạm vi nghiên cứu do tác giả xác định trong phần Mở đầu:

  • Luận án chỉ tập trung vào phương thức giao nhận vận tải đường bộ dưới góc độ dịch vụ thương mại sinh lợi của thương nhân chuyên nghiệp, chưa đi sâu vào toàn bộ các phương thức vận tải khác (đường biển, đường sắt, hàng không) trong chuỗi vận tải đa phương thức.
  • Luận án không nghiên cứu hoạt động giao nhận vận tải nội bộ của doanh nghiệp sản xuất tự thực hiện.
  • Luận án không đi sâu phân tích các thủ tục tố tụng tư pháp giải quyết tranh chấp tại Tòa án và Trọng tài thương mại do tính chất phức tạp và thuộc phạm vi của luật tố tụng.

Hướng nghiên cứu tiếp được gợi mở từ luận án bao gồm: nghiên cứu mở rộng cơ chế pháp lý điều chỉnh chuỗi dịch vụ logistics đa phương thức tích hợp; nghiên cứu chuyên sâu về cơ chế giải quyết tranh chấp thương mại phát sinh từ hợp đồng logistics điện tử (e-logistics); và nghiên cứu tác động của các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới đối với thị trường dịch vụ vận tải nội địa.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo chuyên ngành hữu ích cho các nhóm đối tượng:

  • Cơ quan lập pháp và cơ quan quản lý nhà nước (Bộ Công Thương, Bộ Giao thông vận tải, Bộ Kế hoạch và Đầu tư): Tham khảo các luận cứ khoa học tại Chương 3 và Chương 4 để phục vụ quá trình sửa đổi Luật Thương mại 2005, Luật Giao thông đường bộ, rà soát Nghị định 163/2017/NĐ-CP, Nghị định 42/2020/NĐ-CP và hoạch định chính sách phát triển logistics quốc gia.
  • Giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên ngành Luật Kinh tế, Thương mại quốc tế, Quản trị Logistics: Kế thừa khung lý thuyết tại Chương 1, Chương 2 và danh mục tài liệu tham khảo phong phú về pháp luật vận tải quốc tế.
  • Các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ giao nhận vận tải, logistics (LSP) và Hiệp hội VLA: Sử dụng nội dung phân tích quyền, nghĩa vụ, điều kiện kinh doanh chuẩn và giới hạn trách nhiệm để rà soát mẫu hợp đồng dịch vụ, phòng ngừa rủi ro pháp lý trong hoạt động kinh doanh hàng ngày.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án đưa ra định nghĩa về dịch vụ giao nhận vận tải đường bộ như thế nào?
Luận án định nghĩa: "Dịch vụ GNVT đường bộ là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của việc cung ứng dịch vụ liên quan đến vận chuyển, gom hàng, lưu kho, bốc xếp, đóng gói hay phân phối hàng hóa cũng như các dịch vụ khác liên quan đến hàng hoá bằng phương thức vận tải đường bộ nhằm mục đích sinh lợi".

2. Thực trạng chi phí logistics và cơ cấu doanh nghiệp logistics tại Việt Nam được luận án ghi nhận ra sao?
Theo số liệu trong luận án, chi phí logistics tại Việt Nam năm 2014 chiếm khoảng 20,9% GDP và giảm xuống mức 16-17% GDP tại thời điểm nghiên cứu; chi phí vận tải chiếm gần 60% tổng chi phí logistics. Cả nước có khoảng 3.000 doanh nghiệp logistics, trong đó 70% tập trung tại khu vực TP. Hồ Chí Minh và có khoảng 30 công ty logistics đa quốc gia. Chỉ số LPI năm 2018 của Việt Nam xếp hạng 39/160 nước (tăng 25 bậc so với năm 2016).

3. Địa vị pháp lý của người giao nhận vận tải có sự khác biệt như thế nào giữa hai hệ thống pháp luật theo tổng kết của tác giả?
Theo luận án, ở các nước Thông luật (Common Law), địa vị pháp lý của người giao nhận dựa trên khái niệm đại lý (agent), hoạt động nhân danh và vì lợi ích của người ủy thác. Ở các nước Dân luật (Civil Law), người giao nhận hoạt động theo thể chế đại lý hoa hồng (commission agent), vừa đóng vai trò đại lý của người ủy thác gửi/nhận hàng, vừa là người ủy thác đối với người vận chuyển thực tế hoặc các đại lý phụ.

4. Những bất cập pháp lý cụ thể nào đối với vận chuyển hàng hóa đặc biệt bằng đường bộ được chỉ ra trong luận án?
Luận án chỉ ra sự chưa tương thích giữa quy định nội địa tại Nghị định số 42/2020/NĐ-CP với tiêu chuẩn quốc tế của Hiệp định ADR về vận chuyển hàng hóa nguy hiểm bằng đường bộ, dẫn đến việc các cơ quan quản lý phải tiến hành rà soát để tránh gây phiền hà, gia tăng gánh nặng thủ tục hành chính cho doanh nghiệp cung ứng dịch vụ.

5. Luận án đề xuất giải pháp trọng tâm nào đối với việc sửa đổi Luật Thương mại năm 2005?
Luận án đề xuất sửa đổi Mục 4 Chương VI Luật Thương mại 2005 nhằm chuẩn hóa khái niệm logistics theo chuỗi cung ứng hiện đại, phân định rõ dịch vụ logistics với vận tải thuần túy, và bổ sung thể chế hóa các định chế chuyên ngành gồm 1PL, 2PL, 3PL, 4PL, NVOCC, MTO, LSP, buyer consolidator, cross docking và VMI.

Kết luận

Luận án tiến sĩ "Pháp luật về dịch vụ giao nhận vận tải đường bộ ở Việt Nam hiện nay" của tác giả Phùng Trọng Quế là công trình khoa học pháp lý chuyên sâu về khung pháp lý điều chỉnh hoạt động GNVT đường bộ dưới góc độ Luật Kinh tế. Luận án đã hệ thống hóa cơ sở lý luận, làm rõ 5 đặc điểm của dịch vụ GNVT đường bộ và phân tích toàn diện thực trạng quy định từ điều kiện kinh doanh, hợp đồng dịch vụ đến trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Dựa trên việc phân tích các dữ liệu thực tế ngành logistics và đối sánh luật học quốc tế, tác giả đã đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ nhằm sửa đổi Luật Thương mại 2005, hoàn thiện các văn bản dưới luật và nâng cao năng lực thực thi pháp luật đến năm 2030.