Tổng quan về luận án

Hoạt động cấp tín dụng giữ vị trí huyết mạch trong hệ sinh thái tài chính, đóng vai trò phân bổ vốn trung gian từ các chủ thể nhàn rỗi sang các chủ thể sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế. Theo thống kê thực chứng được phân tích trong luận án tiến sĩ luật học "Pháp luật điều chỉnh hoạt động cấp tín dụng của ngân hàng thương mại ở Việt Nam" (Chuyên ngành Luật Kinh tế, Mã số 62380107, Đại học Luật Hà Nội, 2017) của tác giả Nguyễn Ngọc Lương, dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Phạm Thị Giang Thu và TS. Nguyễn Văn Tuyến: "Hoạt động cho vay của NHTM là một trong những hoạt động cơ bản, mang lại nguồn thu chủ yếu khoảng 70% lợi nhuận hàng năm". Tuy nhiên, đây cũng là hoạt động tiềm ẩn rủi ro hệ thống và hiệu ứng lây lan (contagion risk) nghiêm trọng nhất đối với an toàn tiền tệ quốc gia.

Khoảng trống nghiên cứu (research gap) cốt lõi xuất phát từ thực tế: Sau khi Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 có hiệu lực, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật dưới luật (Nghị định, Thông tư của Ngân hàng Nhà nước) chưa có tính đồng bộ, thiếu vắng các quy định chi tiết điều chỉnh tổng thể cấu trúc các nghiệp vụ cấp tín dụng. Hầu hết các công trình tiền nhiệm tại Việt Nam như nghiên cứu của Ngô Quốc Kỳ (2003), Nguyễn Văn Tuyến (2004) chỉ tiếp cận hoạt động ngân hàng ở phạm vi giao dịch thương mại nói chung trên nền tảng cơ chế pháp lý cũ; hoặc các nghiên cứu chuyên biệt như Lê Thị Thu Thủy (2006) về giao dịch bảo đảm tiền vay, Nguyễn Thành Nam (2015) về bảo lãnh ngân hàng chỉ khu biệt trong từng nghiệp vụ đơn lẻ. Chưa có một công trình cấp tiến sĩ luật học nào khảo sát toàn diện, hệ thống hóa và tái cấu trúc khung pháp lý cho toàn bộ các hình thức cấp tín dụng theo Luật Các TCTD năm 2010 trong giai đoạn tái cơ cấu hệ thống tổ chức tín dụng (2011–2020).

Luận án xác lập 02 câu hỏi nghiên cứu nền tảng:

  1. Những dấu hiệu bản chất pháp lý và nguyên tắc cốt lõi nào xác định một hành vi thương mại của NHTM là hoạt động cấp tín dụng?
  2. Hoạt động cấp tín dụng tác động như thế nào đến sự sinh tồn của NHTM và an toàn kinh tế - xã hội, từ đó đặt ra yêu cầu tái thiết lập các giới hạn an toàn pháp lý ra sao?

Giả thuyết nghiên cứu (hypotheses) bao gồm:

  • H1: Nội hàm pháp lý của khái niệm cấp tín dụng tại Việt Nam còn thiếu tính bao quát, làm phát sinh sự phân mảnh trong việc định danh và điều chỉnh các nghiệp vụ cấp tín dụng phái sinh hoặc phi truyền thống.
  • H2: Cấu trúc pháp luật điều chỉnh thẩm quyền cấp tín dụng, nội dung hợp đồng và các tỷ lệ an toàn tín dụng hiện hành còn bộc lộ xung đột quy phạm giữa luật chuyên ngành và luật chung (Bộ luật Dân sự, Luật Doanh nghiệp), làm giảm hiệu lực quản trị rủi ro.

Khung lý thuyết của luận án được xây dựng dựa trên sự tích hợp giữa Lý thuyết Người đại diện (Agency Theory), Lý thuyết Hợp đồng (Contract Theory) và Khung chuẩn mực an toàn vốn Basel (Basel Capital Accord). Phạm vi khảo sát thực chứng được xác lập dựa trên dữ liệu báo cáo tài chính hợp nhất đã kiểm toán của toàn hệ thống NHTM Việt Nam năm 2015, kết hợp đối chiếu hệ thống án lệ và đạo luật ngân hàng quốc tế.

Literature Review và Positioning

Tổng quan y văn trong nước ghi nhận hai dòng nghiên cứu chủ đạo. Dòng nghiên cứu thứ nhất tập trung vào địa vị pháp lý tổng thể của ngân hàng thương mại, điển hình là giáo trình Luật Ngân hàng của Đại học Quốc gia Hà Nội (2005), Đại học Luật Hà Nội (2012) và luận án của Ngô Quốc Kỳ (2003), Nguyễn Văn Tuyến (2004). Dòng nghiên cứu thứ hai đi sâu vào từng nghiệp vụ kỹ thuật: Lê Thị Thu Thủy (2006) phân tích sâu các biện pháp bảo đảm tiền vay bằng tài sản; Tạ Hồng Hạnh (2014) khảo sát chiết khấu hối phiếu; Phạm Thị Thu Trang (2014) phân tích bao thanh toán; Nguyễn Minh Thắng (2007) khảo sát thẻ tín dụng; và Hoàng Huy Hà (2012) nghiên cứu chuẩn mực quản trị rủi ro. Điểm hạn chế chung của y văn quốc nội là sự đứt gãy về tính thời sự pháp lý sau cột mốc Luật Các TCTD năm 2010 và tình trạng tiếp cận phân tán, thiếu một mô hình lý luận thống nhất điều chỉnh hoạt động cấp tín dụng như một chỉnh thể giao dịch tài chính hoàn chỉnh.

Tranh luận học thuật (scholarly debates) nổi bật xoay quanh bản chất pháp lý của giao dịch cấp tín dụng:

  • Quan điểm thứ nhất (trường phái tư pháp truyền thống) đồng nhất quan hệ cho vay ngân hàng với quan hệ vay tài sản thông thường trong luật dân sự, nhấn mạnh nguyên tắc tự do ý chí và hợp đồng song vụ thuần túy.
  • Quan điểm thứ hai (trường phái công pháp điều tiết và luật kinh tế) cho rằng cấp tín dụng ngân hàng là một loại hình giao dịch thương mại đặc thù chịu sự chi phối ngặt nghèo của trật tự công cộng tài chính (financial public order), trong đó quyền tự chủ kinh doanh bị giới hạn bởi các tỷ lệ an toàn vốn bắt buộc nhằm bảo vệ quyền lợi người gửi tiền và ngăn ngừa rủi ro đạo đức (moral hazard).

Về mặt quốc tế, luận án định vị và so sánh với hai hệ thống luật điển hình:

  1. Nền tảng Thông luật (Common Law - Anh quốc và Hoa Kỳ): Thông qua các tác phẩm kinh điển như "Principles of Banking Law" của Ross Cranston và "Principles of Lender Liability" của Parker Hood, học thuyết pháp lý Anh - Mỹ tập trung vào trách nhiệm pháp lý của bên cho vay (lender liability), nghĩa vụ ủy thác (fiduciary duty) và án lệ giải quyết tranh chấp tín dụng thương mại (H. Gutteridge, 1955; A. Davis, 1954). Tại Hoa Kỳ, hoạt động này gắn liền với nguyên tắc thẩm định 6C (Character, Capacity, Cash, Collateral, Conditions, Control) cùng sự phân tách nghiêm ngặt giữa ngân hàng thương mại và chứng khoán (Maximilian J. Hall).
  2. Nền tảng Dân luật (Civil Law - CHLB Đức): Tác phẩm "German Banking Law and Practice in International Transactions" của Norbert Horn cho thấy hệ thống luật thành văn của Đức thiết lập mối quan hệ giữa ngân hàng và khách hàng dựa trên khung biểu phí minh bạch, chuẩn hóa điều khoản bắt buộc và gắn kết chặt chẽ với Bộ luật Dân sự Đức (BGB).

Luận án của Nguyễn Ngọc Lương đã tiến xa hơn y văn hiện hữu bằng cách xây dựng một cấu trúc 4 trụ cột pháp lý điều chỉnh hoạt động cấp tín dụng tại một nền kinh tế chuyển đổi như Việt Nam: Hình thức nghiệp vụ - Thẩm quyền quyết định - Nội dung giao dịch - Giới hạn bảo đảm an toàn.

Đóng góp lý thuyết và khung phân tích

Đóng góp cho lý thuyết

Luận án có những đóng góp quan trọng trong việc làm sáng tỏ cơ sở lý luận của khoa học pháp lý kinh tế về thị trường vốn:

  • Mở rộng lý thuyết bản chất pháp lý của cấp tín dụng: Luận án định vị chính xác: "Bản chất pháp lý của hoạt động cấp tín dụng của NHTM là việc chuyển nhượng quyền sở hữu số tiền vay từ NHTM (bên cấp tín dụng) sang bên đi vay theo nguyên tắc hoàn trả và dựa trên cơ sở thỏa thuận trong các hợp đồng cấp tín dụng". Theo quy định tại Khoản 14 Điều 4 Luật Các TCTD năm 2010: "Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác". Luận án làm rõ rằng quyền sở hữu tiền tệ được chuyển giao toàn diện, xác lập cơ sở pháp lý để bên đi vay thực hiện quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản vay phù hợp với Điều 464 Bộ luật Dân sự năm 2015.
  • Phát triển Lý thuyết Người đại diện (Jensen & Meckling, 1976) trong quản trị ngân hàng: Phân tích sự xung đột lợi ích đa tầng giữa ban điều hành ngân hàng (người đại diện), cổ đông sở hữu và đại bộ phận người gửi tiền. Tác giả luận giải việc luật hóa thẩm quyền phê duyệt tín dụng chính là cơ chế kiểm soát nội bộ nhằm ngăn chặn hành vi lạm quyền, tư lợi cá nhân và xung đột lợi ích trong các tập đoàn tài chính.
  • Bổ sung Lý thuyết Quản trị rủi ro của Ủy ban Basel: Chứng minh tính tất yếu của việc chuyển hóa các chuẩn mực quốc tế (Basel II/III) thành các quy phạm pháp luật cưỡng chế mang tính bắt buộc (hard law) thay vì chỉ là khuyến nghị đạo đức nghề nghiệp.

Khung phân tích độc đáo

Khung phân tích của luận án kết hợp hài hòa 3 lý thuyết nền tảng (Lý thuyết Hợp đồng, Lý thuyết Người đại diện, Lý thuyết Giám sát an toàn vĩ mô) để giải quyết bài toán dung hòa giữa hai yêu cầu: Quyền tự do hợp đồng của NHTM và Quyền lực can thiệp công của Nhà nước.

Khung phân tích xác lập rõ các điều kiện biên (boundary conditions): Nghiên cứu tập trung trực tiếp vào các giao dịch do chính NHTM xác lập, loại trừ nghiệp vụ cho thuê tài chính do Điều 103 Khoản 2 Điểm b Luật Các TCTD năm 2010 bắt buộc phải thực hiện thông qua công ty con/liên kết độc lập; đồng thời loại trừ quy trình tố tụng tư pháp về giải quyết tranh chấp hợp đồng để tập trung tối đa vào cơ chế tiền kiểm soát rủi ro pháp lý.

Phương pháp nghiên cứu tiên tiến

Thiết kế nghiên cứu

Luận án vận dụng thế giới quan duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, kết hợp với trường phái thực chứng pháp lý (Legal Positivism) và phân tích quy phạm pháp luật học thuật (Doctrinal Legal Research). Thiết kế nghiên cứu đa tầng kết hợp giữa phương pháp nghiên cứu định tính (phân tích văn bản pháp quy, giải thích luật học) và phương pháp phân tích thực chứng kinh tế - xã hội dựa trên dữ liệu báo cáo giám sát ngân hàng.

Quy trình nghiên cứu rigorous

Quy trình thu thập và xử lý dữ liệu được thiết kế chặt chẽ qua 4 công đoạn:

  1. Thu thập văn bản quy phạm: Rà soát toàn bộ hệ thống luật chuyên ngành (Luật Các TCTD 1997, 2004, 2010), luật chung (BLDS 2005, 2015, Luật Doanh nghiệp 2014, Luật Thương mại 2005) và các thông tư điều hành của NHNN (Thông tư 28/2012/TT-NHNN, Thông tư 07/2015/TT-NHNN, Quyết định 1627/2001/QĐ-NHNN).
  2. Đối chiếu so sánh quốc tế (Comparative Law): Phân tích các chuẩn mực pháp luật từ Anh quốc (Consumer Credit Act 1974, Lending Code), CHLB Đức (BGB và Luật Ngân hàng Đức), Hoa Kỳ (quy định của Fed/OCC và chuẩn 6C).
  3. Khảo sát số liệu thực tế: Khai thác số liệu tài chính công khai từ Báo cáo tổng kết 10 năm thi hành Luật Các TCTD (Báo cáo số 49/BC-NHNN ngày 15/6/2009) và các báo cáo tài chính hợp nhất đã kiểm toán tính đến ngày 31/12/2015 của các NHTM Việt Nam.
  4. Tổng hợp và kiểm chứng chéo (Triangulation): Kết hợp giữa lý luận luật học, chuẩn mực quốc tế và thực tiễn vận hành để bảo đảm độ tin cậy và tính hợp lệ của các luận điểm phản biện.

Data và phân tích

Dữ liệu phân tích trong luận án phản ánh bức tranh toàn cảnh của hệ thống ngân hàng Việt Nam sau 5 năm thực thi Luật Các TCTD 2010:

  • Số liệu nợ xấu toàn hệ thống và áp lực trích lập dự phòng rủi ro tín dụng theo chuẩn phân loại nợ mới.
  • Cơ cấu tín dụng tập trung chủ yếu vào nghiệp vụ cho vay truyền thống (chiếm ~70% lợi nhuận), trong khi các nghiệp vụ hiện đại như bao thanh toán (factoring - giới hạn thời hạn thu hồi dưới 180 ngày) và chiết khấu công cụ chuyển nhượng còn chiếm tỷ trọng khiêm tốn do hành lang pháp lý thiếu thông suốt.
  • Mức độ tuân thủ tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu (CAR) và hiện tượng sở hữu chéo phức tạp làm biến dạng dòng vốn tín dụng.

Phát hiện đột phá và implications

Những phát hiện then chốt

  1. Sự dịch chuyển từ nguyên tắc bắt buộc bảo đảm tiền vay sang quyền tự chủ thẩm định tín dụng: Luận án chỉ ra bước chuyển mang tính cách mạng từ Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN khi bãi bỏ điều kiện bắt buộc phải có tài sản thế chấp/cầm cố cho mọi khoản vay, trao quyền tự chủ đánh giá dòng tiền và năng lực hoàn trả của khách hàng cho NHTM, thúc đẩy văn hóa cấp tín dụng dựa trên tính khả thi của phương án kinh doanh thay vì chỉ dựa vào tài sản bảo đảm.
  2. Nhận diện bản chất rủi ro đặc thù của bao thanh toán và chiết khấu: Nghiệp vụ bao thanh toán không đơn thuần là cho vay mà là nghiệp vụ cấp tín dụng ngắn hạn (dưới 180 ngày) dựa trên việc chuyển nhượng trái quyền hoặc nghĩa vụ tài sản, trong đó NHTM đòi tiền từ bên thứ ba (người mua hàng) thay vì đòi trực tiếp từ khách hàng được cấp tín dụng. Trong bao thanh toán miễn truy đòi (non-recourse factoring), NHTM gánh chịu toàn bộ rủi ro mất khả năng thanh toán của người mua.
  3. Mâu thuẫn giữa luật chung và luật chuyên ngành trong giao dịch bảo đảm: Sự không đồng nhất giữa quy định của Bộ luật Dân sự về quyền sở hữu tài sản hình thành trong tương lai, thế chấp quyền sử dụng đất với quy định của Luật Các TCTD gây khó khăn nghiêm trọng khi xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ xấu.
  4. Lỗ hổng pháp lý về kiểm soát sở hữu chéo và cho vay nội bộ: Pháp luật năm 2010 đã quy định về giới hạn cấp tín dụng đối với một khách hàng và người có liên quan, song các kỹ thuật lách luật thông qua công ty liên kết, cổ đông lớn ủy thác đầu tư trái phiếu doanh nghiệp chưa được nhận diện đầy đủ trong các quy chế an toàn tín dụng.

Implications đa chiều

  • Về mặt lý luận: Khẳng định tính độc lập tương đối của ngành Luật Ngân hàng trong hệ thống Luật Kinh tế, xây dựng hệ khái niệm chuẩn xác về các giao dịch tín dụng phái sinh.
  • Về mặt lập pháp: Cung cấp luận cứ trực tiếp cho việc sửa đổi, bổ sung Luật Các TCTD (được hiện thực hóa trong Luật sửa đổi năm 2017 và Luật Các TCTD năm 2024), xây dựng các Thông tư quy định về tỷ lệ bảo đảm an toàn (như Thông tư 36/2014/TT-NHNN và Thông tư 22/2019/TT-NHNN sau này).
  • Về mặt thực thi tại NHTM: Hướng dẫn chuẩn hóa hệ thống quy trình cấp tín dụng nội bộ, triển khai chấm điểm tín dụng tự động đối với khách hàng cá nhân và xếp hạng tín dụng nội bộ đối với doanh nghiệp, tiệm cận mô hình 6C của Hoa Kỳ.

Limitations và Future Research

  • Giới hạn về dữ liệu thực chứng: Dữ liệu tài chính và báo cáo giám sát dừng lại ở mốc thời gian kiểm toán năm 2015, chưa phản ánh đầy đủ tác động của giai đoạn xử lý nợ xấu đặc biệt thông qua Công ty Quản lý tài sản (VAMC) và Nghị quyết 42/2017/QH14 sau đó.
  • Giới hạn phạm vi nghiệp vụ: Luận án chưa đi sâu vào các nghiệp vụ tài chính công nghệ mới nổi (Fintech, cho vay ngang hàng P2P lending, cấp tín dụng kỹ thuật số) do bối cảnh thị trường năm 2017 các mô hình này chưa phát triển mạnh tại Việt Nam.
  • Định hướng nghiên cứu tương lai:
    1. Xây dựng khung pháp lý điều chỉnh hoạt động cấp tín dụng trên nền tảng ngân hàng số (Digital Banking) và hợp đồng thông minh (Smart Contracts).
    2. Đánh giá toàn diện việc áp dụng chuẩn mực Basel III và chuẩn mực kế toán tài chính quốc tế IFRS 9 về trích lập tổn thất tín dụng dự kiến (ECL).
    3. Hoàn thiện cơ chế pháp lý về xử lý nợ xấu và thị trường mua bán nợ tập trung tại Việt Nam.

Tác động và ảnh hưởng

Công trình luận án của Nguyễn Ngọc Lương đã tạo ra những tác động học thuật và thực tiễn sâu rộng:

  • Ảnh hưởng học thuật: Trở thành tài liệu tham khảo nền tảng tại các cơ sở đào tạo luật hàng đầu như Trường Đại học Luật Hà Nội, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, Học viện Ngân hàng; đóng góp hàng loạt bài báo khoa học chất lượng trên Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp và Tạp chí Luật học (giai đoạn 2010–2015).
  • Định hình chính sách: Đóng góp trực tiếp vào quá trình đánh giá tổng kết thực thi Luật Các TCTD 2010 của Ngân hàng Nhà nước, hỗ trợ xây dựng khung chính sách tái cơ cấu hệ thống ngân hàng và kiểm soát trần tín dụng an toàn.
  • Chuyển đổi quản trị ngành: Cung cấp bộ hướng dẫn quy chuẩn cho các định chế tài chính trong việc rà soát hợp đồng mẫu, hạn chế rủi ro pháp lý trong các hợp đồng tín dụng và hợp đồng bảo đảm.

Đối tượng hưởng lợi

  • Nghiên cứu sinh và Giảng viên ngành Luật Kinh tế, Tài chính - Ngân hàng: Khai thác khung lý luận toàn diện về bản chất pháp lý của giao dịch cấp tín dụng và phương pháp so sánh luật học.
  • Cơ quan quản lý nhà nước (Ngân hàng Nhà nước, Bộ Tư pháp, Tòa án nhân dân tối cao): Tham khảo các luận cứ khoa học để hoàn thiện hệ thống thông tư, hướng dẫn áp dụng án lệ giải quyết tranh chấp tín dụng.
  • Khối Ngân hàng Thương mại (Pháp chế, Quản trị rủi ro, Khối Kinh doanh): Nắm vững các giới hạn an toàn pháp lý, tái cấu trúc hợp đồng tín dụng, kiểm soát thẩm quyền phê duyệt nhằm phòng ngừa rủi ro tranh chấp và rủi ro hình sự hóa quan hệ kinh tế.

Câu hỏi chuyên sâu

1. Đóng góp lý thuyết độc đáo nhất của luận án là gì?
Luận án đã mở rộng Lý thuyết Hợp đồng và Lý thuyết Người đại diện trong khoa học luật kinh tế bằng việc định vị bản chất pháp lý của cấp tín dụng là quá trình chuyển giao trọn vẹn quyền sở hữu lượng tín dụng đi kèm với nguyên tắc hoàn trả vô điều kiện, từ đó chứng minh tính tất yếu của việc thiết lập giới hạn pháp lý đối với thẩm quyền phán quyết của người đại diện nhằm ngăn chặn rủi ro đạo đức.

2. Điểm đổi mới về phương pháp luận so với các nghiên cứu tiền nhiệm?
So với các nghiên cứu của Ngô Quốc Kỳ (2003) hay Lê Thị Thu Thủy (2006) chỉ sử dụng phương pháp diễn giải quy phạm thuần túy, luận án đã tích hợp phương pháp so sánh luật học quốc tế đa chiều (Anh, Mỹ, Đức) với phương pháp phân tích thực chứng kinh tế - pháp lý dựa trên dữ liệu báo cáo tài chính toàn hệ thống ngân hàng năm 2015.

3. Phát hiện bất ngờ nhất từ dữ liệu nghiên cứu là gì?
Phát hiện cho thấy mặc dù hành lang pháp lý cho các hình thức cấp tín dụng mới như bao thanh toán và chiết khấu đã được quy định trong Luật Các TCTD 2010, nhưng tỷ lệ áp dụng thực tế lại cực kỳ thấp (chiếm dưới 5% tổng dư nợ), nguyên nhân gốc rễ không nằm ở nhu cầu thị trường mà do thiếu vắng các quy định hướng dẫn về cơ chế chuyển giao trái quyền và bảo vệ bên thứ ba ngay tình.

4. Luận án có cung cấp quy trình nhân rộng (replication protocol) không?
Luận án cung cấp hệ thống tiêu chí 4 trụ cột đánh giá tính hoàn thiện của pháp luật tín dụng, có thể chuyển giao và áp dụng trực tiếp để đánh giá các thị trường tài chính phi ngân hàng (công ty tài chính, quỹ tín dụng nhân dân, fintech).

5. Chương trình nghiên cứu 10 năm tiếp theo được vạch ra như thế nào?
Tập trung vào 3 trọng tâm: (1) Pháp điển hóa hoạt động ngân hàng điện tử; (2) Tích hợp toàn diện Basel III vào luật thực định; và (3) Xây dựng cơ chế phá sản chuyên biệt cho các tổ chức tín dụng yếu kém tại Việt Nam.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của Nguyễn Ngọc Lương đánh dấu bước tiến học thuật xuất sắc trong lĩnh vực Luật Kinh tế với các giá trị cốt lõi:

  1. Xác lập hệ thống khái niệm chuẩn mực và làm sáng tỏ bản chất pháp lý của hoạt động cấp tín dụng của NHTM trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
  2. Xây dựng khung phân tích 4 trụ cột pháp lý điều chỉnh hoạt động tín dụng, tạo cầu nối vững chắc giữa lý luận pháp luật và thực tiễn vận hành ngân hàng.
  3. Nhận diện sâu sắc các xung đột pháp luật thực định giữa Luật Các TCTD 2010 với Bộ luật Dân sự và pháp luật doanh nghiệp trong cơ chế bảo đảm an toàn tín dụng.
  4. Đối sánh thấu đáo các chuẩn mực lập pháp từ hệ thống Common Law (Anh, Mỹ) và Civil Law (Đức) để rút ra các bài học lập pháp có giá trị thực tiễn cao cho Việt Nam.
  5. Đề xuất hệ thống giải pháp lập pháp đồng bộ, có tính khả thi cao, góp phần hoàn thiện khung khổ pháp lý cho hệ thống ngân hàng Việt Nam phát triển bền vững và hội nhập quốc tế.