Chương 1. Tổng quan nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh của DNNVV do phụ nữ làm chủ Chương 2. Cơ sở lý luận về các nhân tố ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh Chương 3. Phương pháp nghiên cứu Chương 4.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận Chương 5. Tóm tắt kết quả nghiên cứu và hàm ý quản trị 8 Chƣơng 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN KẾT QUẢ KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA DO PHỤ NỮ LÀM CHỦ 1. Các nghiên cứu trƣớc đây về nhân tố ảnh hƣởng đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp do phụ nữ làm chủ Theo phân tích tổng quan các công trình nghiên cứu về nhân tố ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh của DNNVV do phụ nữ làm chủ trong và ngoài nước nhận thấy vấn đề liên quan đến doanh nghiệp do phụ nữ làm chủ nói chung và DNNVV do phụ nữ làm chủ nói riêng nhận được sự quan tâm của rất nhiều học giả, nhà nghiên cứu với nhiều cách tiếp cận và mô hình sử dụng khá đa dạng. Cụ thể: Do tính chất đặc thù của các doanh nghiệp do phụ nữ làm chủ khi được xem xét trong mối quan hệ với các doanh nghiệp do nam làm chủ, việc điều tra các nhân tố ảnh hưởng cụ thể đến hoạt động của họ là một lĩnh vực nghiên cứu quan trọng.
Lim & Envick (2013) [99] cho rằng tồn tại sự khác biệt giữa các doanh nghiệp do nam giới và phụ nữ làm chủ về động cơ khởi sự kinh doanh, các loại cơ hội được tìm kiếm và kỳ vọng về sự thành công và tăng trưởng kinh doanh. Tương tự, DeTienne & Chandler (2005) [64] lưu ý rằng do kết quả của quá trình xã hội hóa khác nhau, nhận thức của phụ nữ về cơ hội khác với nam giới, dẫn đến các hành vi kinh doanh khác nhau. Hơn nữa, một lập luận nổi bật trong tài liệu là khi so sánh với các doanh nghiệp do nam giới làm chủ, các doanh nghiệp do phụ nữ làm chủ có xu hướng nhỏ hơn về quy mô, tạo ra ít doanh thu và lợi nhuận hơn, đồng thời tăng trưởng chậm hơn [24], [69]. Điều này thường được gọi là "giả thuyết nữ dưới hiệu suất" [67].
Tuy nhiên, ngày càng nhiều nghiên cứu đã thách thức giả thuyết này; chẳng hạn như Watson (2003) [146] cho rằng các đặc điểm của doanh nghiệp do nam giới làm chủ và do phụ nữ làm chủ là khác nhau và do đó khi các biến kiểm soát và các biện pháp hoạt động thích hợp được đưa vào trong các cuộc điều tra về hiệu suất, kết quả là các doanh nghiệp do phụ nữ làm chủ không hoạt động kém hơn các doanh nghiệp do nam giới làm chủ. Tài liệu về hiệu quả hoạt động của các DNNVV do phụ nữ làm chủ cho đến thập kỷ trước vẫn còn hạn chế. Người ta đã lập luận rằng các nghiên cứu thực nghiệm điều tra mối quan hệ giữa năng lực và hiệu suất giữa các doanh nhân đã 9 xem xét doanh nhân theo nghĩa chung hơn là phân biệt theo giới tính [125]. Nghiên cứu trước đây đã xác định nhiều loại nhân tố khác nhau ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động và sự thành công sau này của các doanh nghiệp do phụ nữ làm chủ.
Các loại nhân tố này bao gồm cấu trúc xã hội, nhân tố văn hóa, nhân tố thể chế, nhân tố liên quan đến giới tính, nhân tố cá nhân, nguồn lực và đặc điểm doanh nghiệp, kỹ năng và năng lực kinh doanh. Nghiên cứu liên quan đến những nhân tố này được thảo luận dưới đây: Nghiên cứu về cơ cấu xã hội. Cơ cấu xã hội là một trong những nhóm nhân tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến các doanh nghiệp do phụ nữ làm chủ. Để minh họa, phụ nữ được gán cho các vai trò gia đình truyền thống và trách nhiệm chăm sóc con cái trong nhiều xã hội, với một số xã hội mong đợi phụ nữ trước hết có xu hướng thực hiện các nhiệm vụ và trách nhiệm gia đình [86].
Điều này thường dẫn đến việc phụ nữ có ít thời gian cho công việc kinh doanh của họ. Trong nghiên cứu của Mwale & Phiri (2022) [105] về nhân tố ảnh hưởng đến sự thành công của DNNVV do phụ nữ làm chủ tại Lusaka, cho rằng hôn nhân không hạn chế sự tham gia của đa phần nữ doanh nhân được khảo sát vào các hoạt động kinh doanh. Hơn nữa, nghiên cứu cho thấy những người được hỏi chỉ ra rằng mang thai không hạn chế phụ nữ tham gia vào các hoạt động kinh doanh. Ngoài ra, các phát hiện xác nhận rằng phần lớn người được hỏi lập luận rằng vai trò giới có tác động đến phụ nữ đóng vai trò tích cực trong kinh doanh.
Nghiên cứu cũng phát hiện ra rằng phần lớn những người được hỏi cho rằng họ không phải đối mặt với sự quấy rối khi đăng ký kinh doanh và họ cũng không đồng tình với quan điểm là văn hóa cản trở họ tham gia vào hoạt động kinh doanh. Nghiên cứu cho thấy một ý kiến hỗn hợp về việc liệu phụ nữ trong kinh doanh có được chồng cho phép làm kinh doanh với đàn ông hay không. Đây là một kết quả thú vị vì kỳ vọng là những người được hỏi sẽ tuyên bố rằng trách nhiệm gia đình cản trở sự tham gia tích cực vào kinh doanh. Kỳ vọng này được thành lập dựa trên sự khẳng định rằng văn hóa châu Phi và Zambia có xu hướng mang lại nhiều trách nhiệm cho gia đình đối với phụ nữ do đó giảm thời gian để họ tích cực tham gia vào kinh doanh [82].
Kết quả của nghiên cứu này tương đồng với kết quả nghiên cứu 10 của Hasan & Almubarak (2016) [80] về nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của doanh nhân nữ tại các DNNVV ở Trung Đông, nghiên cứu của Assefa & Cheru (2018) [37] về nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển của doanh nghiệp siêu nhỏ và nhỏ do phụ nữ làm chủ tại Ethiopia, và nghiên cứu của Khan và cộng sự (2021) [93] về nhân tố ảnh hưởng đến sự thành công của doanh nhân nữ trong các DNNVV tại thị trường mới nổi của Pakistan khi tìm thấy mối liên hệ tích cực ở các mức độ khác nhau giữa yếu tố văn hoá xã hội đến kết quả kinh doanh của doanh nhân nữ. Các kết quả nghiên cứu trên đây có quan điểm trái ngược với rất nhiều nghiên cứu đã được thực hiện về mối liên hệ giữa văn hoá xã hội và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp do nữ làm chủ. Cụ thể, trong nghiên cứu của Phillip (2019) [120] phát hiện ra rằng các vai trò giới như công việc gia đình được chỉ định để cản trở sự tiến bộ của phụ nữ trong tinh thần kinh doanh chính thức vì họ không có đủ thời gian để quản lý doanh nghiệp của họ; nghiên cứu của Ongachi & wisa (2013) [118] về nhân tố ảnh hưởng đến sự tăng trưởng của doanh nghiệp siêu nhỏ và nhỏ do phụ nữ làm chủ tại thành phố Kitale của Kenya đều chỉ ra rằng trách nhiệm kép của phụ nữ về gia đình và công việc, và cái nhìn thiếu thiện cảm của xã hội đối với doanh nhân nữ đã dẫn đến hạn chế trong tiếp cận nguồn lực và tham gia mạng lưới của doanh nhân nữ, từ đó làm ảnh hưởng tiêu cực của yếu tố văn hoá- xã hội đến kết quả kinh doanh của DNNVV do phụ nữ làm chủ. Kết quả của nghiên cứu này có sự tương đồng với nghiên cứu của Maziku và cộng sự (2014) [107] về ảnh hưởng của yếu tố văn hoá – xã hội đến hiệu suất kinh doanh của DNNVV do phụ nữ làm chủ tại Tanzania khi cho rằng yếu tố văn hoá xã hội ảnh hưởng tiêu cực đến kết quả kinh doanh của DNNVV do phụ nữ làm chủ do những định kiến về giới trong kinh doanh vẫn đang còn tồn tại khá nặng nề tại đất nước này.
Trong khi đó, nghiên cứu của Dharmaratne (2013) [65] về ảnh hưởng của nhân tố cá nhân đến hiệu quả kinh doanh của doanh nhân nữ tại Srilanka và Lerner và cộng sự (1997) [98] về nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của doanh nhân nữ tại Israel thì lại không tìm thấy mối liên hệ giữa yếu tố văn hoá xã hội và kết quả kinh doanh. Cesaroni & Paoloni (2016) [52] chỉ xét riêng ảnh hưởng của mối quan hệ gia đình đối với các 11 lựa chọn, hành vi và hoạt động của các nữ doanh nhân, theo những cách tích cực và tiêu cực. Các tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính bằng cách phỏng vấn sâu các nữ doanh nhân tại Ý. Nghiên cứu đã cho thấy sự tồn tại của mối quan hệ gắn bó bền chặt giữa các nữ doanh nhân và gia đình họ.
Với vai trò là người mẹ, người vợ, người con gái trong gia đình có thể mang lại những điều kiện thuận lợi nhưng cũng có thể lại có những mặt cản trở trong công việc kinh doanh của phụ nữ. Gia đình có thể cung cấp hỗ trợ tài chính đáng kể hoặc hỗ trợ tâm lý cho các nữ doanh nhân, đưa ra sự hỗ trợ mang tính quyết định về mặt tổ chức, giúp các nữ doanh nhân quản lý gia đình, chăm sóc con cái và đôi khi thậm chí quản lý công việc kinh doanh. Tuy nhiên, những ràng buộc trách nhiệm trong gia đình như chăm sóc con cái, đối nội đối ngoại lại là có thể là trở ngại cho phụ nữ do họ không có đủ thời gian dành cho công việc kinh doanh. Tóm lại, gia đình đóng vai trò vừa là hỗ trợ nhưng cũng có thể là trở ngại đối với phụ nữ trong công việc kinh doanh, điều quan trọng là phụ nữ phải nhận thức được vấn đề nào là quan trọng hơn đối với họ, và cần có biện pháp để cân bằng chúng thì mới có thể quản lý doanh nghiệp hiệu quả.
Tại Việt Nam, nghiên cứu của UN Women (2020) [142] bằng phương pháp phỏng vấn sâu và sử dụng dữ liệu thứ cấp nhằm đánh giá tình hình thực hiện pháp luật hỗ trợ DNNVV và nhu cầu nâng cao năng lực và dịch vụ đào tạo cho DNNVV do nữ làm chủ và doanh nhân nữ tại Việt Nam cho thấy rằng các doanh nhân nữ phải đối mặt với các rào cản cụ thể về giới khi tham gia kinh doanh, dẫn đến hiệu quả kinh doanh thấp hơn so với các doanh nhân nam. Sự phân biệt nghề nghiệp và sự thiếu đại diện của phụ nữ ở các vị trí quản lý cấp cao ở nhiều quốc gia cũng có thể hạn chế phụ nữ trong một số ngành nhất định và ảnh hưởng đến động cơ và mục tiêu kinh doanh của họ.