Chương 1 TỔNG QUAN 1. Lịch sử vấn đề nghiên cứu thơ đi sứ của Đoàn Nguyễn Thục và Đoàn Nguyễn Tuấn Tìm hiểu lịch sử nghiên cứu thơ đi sứ thời trung đại chúng tôi nhận thấy: Phương pháp tiếp cận thơ đi sứ của các nhà nghiên cứu Việt Nam từ trước tới nay chủ yếu là giới thiệu các tác giả và thi tập. Bên cạnh đó, có một số công trình chú ý tới việc nghiên cứu thơ bang giao – xướng họa trong mối quan hệ giao lưu văn hóa văn học ở khu vực. Việc nghiên cứu thơ đi sứ của một số tác giả cũng đã được giới nghiên cứu quan tâm.
Nhằm chỉ ra hướng nghiên cứu của luận án, sau đây, chúng tôi điểm lại lịch sử nghiên cứu thơ Đoàn Nguyễn Thục và Đoàn Nguyễn Tuấn. Lịch sử sưu tầm, giới thiệu văn bản thơ Đoàn Nguyễn Thục Đoàn Nguyễn Thục được cử làm chánh sứ dẫn đầu sứ đoàn sang triều cống nhà Thanh năm 1771. Qua khảo sát, chúng tôi thấy một số tư liệu Hán Nôm, tuyển tập thơ và sách biên khảo mới chỉ giới thiệu vài nét về Đoàn Nguyễn Thục và trích dẫn một vài bài thơ của ông. Công trình Hoàng Việt thi tuyển, [Quyển 6, tờ 3a – 5a] của Bùi Huy Bích biên soạn có ghi: “Nguyên danh Duy Tĩnh, Quỳnh Côi, Hải An nhân, Cảnh Hưng thập tam niên Chánh Tiến sĩ, phụng sứ, lũy quan thự Phó Đô Ngự sử, Quỳnh Xuyên bá.
Phụng sai Nghệ An Đốc thị, tính ngạnh giới; Giáp Ngọ nam thùy nhật khất quy điền lý”; Sau đó, tác giả giới thiệu 7 bài thơ của Đoàn Nguyễn Thục: Nam Quan vãn độ, Đề Phục Ba miếu, Xích Bích hoài cổ, Quá Động Đình hồ, Đề Xích tị Tô Đông Pha, Tế Hoàng Hà, Tiễn Triều Tiên sứ Doãn Đông Thăng Lý Trí Trung [dẫn theo tài liệu nghiên cứu của Nguyễn Đăng Na] Công trình Hoàng Việt thi văn tuyển do nhóm Lê Thước, Hà Văn Đại, Trịnh Đình Rư… dịch, (Nxb Văn hóa, Hà Nội, 1958) cũng chọn giới thiệu 2 bài thơ của Đoàn Nguyễn Thục là: Nam Quan vãn độ và Tế Hoàng Hà [187,120]. Sách Lịch triều hiến chương loại chí, (tập 4), Phan Huy Chú (1782- 1840), phần Văn tịch chí loại Thi văn, có đôi dòng nhắc đến Đoàn Hoàng giáp phụng sứ tập và giới thiệu bốn bài thơ: Nam Quan vãn độ, Quá Động Đình hồ, Xích Bích 7 Hoài cổ, Quá Hoàng Hà [18,102]. Khác với hai công trình trên, Phan Huy Chú đã phiên dịch bài Tế Hoàng Hà là Quá Hoàng Hà, tuy nhan đề có khác nhưng nội dung vẫn là một. Trong cuốn Lược truyện các tác gia Việt Nam,[35] cũng có mấy dòng giới thiệu về tiểu sử Đoàn Nguyễn Thục và nhắc đến tác phẩm Phụng sứ tập.
Năm 1993, công trình Thơ đi sứ [8] cũng giới thiệu vài nét về tiểu sử Đoàn Nguyễn Thục và bốn bài thơ: Nam Quan Vãn độ, Giang thiên hổ thính ca nhân tác, Đề Hạng Vương miếu (Kỳ nhị) và Hồi Quá Dương Châu tái du [8, 213]. Trong số bốn bài được giới thiệu có ba bài là bản dịch của Khương Hữu Dụng. Như vậy, tổng số bài thơ của Đoàn Nguyễn Thục được sưu tầm giới thiệu tính tới thời điểm này là 10 bài. Những năm gần đây, hai nhà nghiên cứu Nguyễn Đăng Na và Nguyễn Ngọc Nhuận khá quan tâm tới việc sưu tầm, biên dịch thơ đi sứ của Đoàn Nguyễn Thục.
Nhà nghiên cứu Nguyễn Ngọc Nhuận đã sưu tầm được tài liệu gồm 17 trang đánh máy rô nê ô trên khổ giấy A4 có nhan đề “Hải An Sứ vịnh” của Đoàn Duy Tĩnh (tên gọi khác của Đoàn Nguyễn Thục). Văn bản này được Viện Nghiên cứu Hán Nôm lưu giữ. Phần đầu tác giả dịch nội dung giới thiệu vài nét về tiểu sử, sự nghiệp và cho biết Đoàn Nguyễn Thục có hai tập thơ: Hải An Sứ vịnh và Hải An thi tập. Phần dịch 17 bài thơ gồm phiên âm, dịch nghĩa và dịch thơ.
Một số bài có dịch đầy đủ cả phần nguyên dẫn, chú thích. Dựa vào tài liệu này và một số tài liệu khác tìm được trong quá trình nghiên cứu, nhà nghiên cứu Nguyễn Đăng Na đã khảo dị, hiệu đính, chú thích, dịch nghĩa 17 bài thơ của Đoàn Nguyễn Thục. Tuy nhiên, trong số 17 bài thơ này, có 6 bài trùng với các tài liệu đã chép thơ Đoàn Nguyễn Thục đó là: Nam Quan vãn độ, Đề Xích tị Tô Đông Pha, Tiễn Triều Tiên sứ Doãn Đông Thăng Lý Trí Trung, Giang thiên hổ thính ca nhân tác, Đề Hạng Vương miếu (Kỳ nhị) và Hồi Quá Dương Châu tái du. Như vậy, có thể nói cho tới nay, chưa có một công trình nào sưu tầm, biên dịch đầy đủ thơ văn của Đoàn Nguyễn Thục.
Tác phẩm của ông cũng chưa thống nhất về tên gọi, các nhà nghiên cứu có nhiều cách gọi tên tác phẩm của Đoàn Nguyễn Thục: Đoàn Hoàng Giáp phụng sứ tập, Phụng sứ tập, Hải An thi tập, Hải An sứ vịnh. Hiện nay, tất cả các văn bản kể trên đều không còn được lưu giữ ở thư viện Quốc gia và thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm. Trong quá trình nghiên cứu đề tài, chúng tôi thu thập 8 được tổng số bài thơ của Đoàn Nguyễn Thục còn lại 21 bài (chủ yếu trong Hải An sứ vịnh). Mặc dù số lượng chưa đầy đủ nhưng qua khảo sát, chúng tôi thấy đây là những bài thơ hay, đánh dấu những địa danh quan trọng trong hành trình đi sứ và cũng phần nào thể hiện tài năng sáng tạo thi ca của thi nhân.
Lịch sử sưu tầm, giới thiệu văn bản thơ Đoàn Nguyễn Tuấn Tìm hiểu, đánh giá về thơ ca đi sứ thời Tây Sơn nói chung và thơ đi sứ của Đoàn Nguyễn Tuấn nói riêng là công việc đã được giới nghiên cứu quan tâm. Nhờ công phu sưu tầm, biên dịch của một số nhà nghiên cứu trong một thời gian khá dài, những thi phẩm của Đoàn Nguyễn Tuấn đã đến được với người đọc. Năm 1962, công trình Lược truyện các tác gia Việt Nam [35] đã giới thiệu vài nét về tiểu sử Đoàn Nguyễn Tuấn và tác phẩm Hải Ông thi tập. Năm 1982, Nhóm biên soạn Đào Phương Bình, Nguyễn Tuấn Lương, Trần Duy Vôn, cho ra mắt bạn đọc cuốn Thơ văn Đoàn Nguyễn Tuấn – Hải Ông thi tập.
Các nhà nghiên cứu đã thận trọng điều tra, giám định, khảo dị mười văn bản Hán Nôm có chép thơ văn của Đoàn Nguyễn Tuấn đó là: Hải Ông thi tập, ký hiệu: A.2603; Cựu Hàn Lâm Đoàn Nguyễn Tuấn thi tập, ký hiệu: A.598; Trương Mộng Mai thi, ký hiệu: VHv.79; Nhật Nam phong nhã thống biên, ký hiệu: A.2622; Hàn các quyết khoa thi tập, ký hiệu: A.353; Đạo Nam Trai sơ khảo, ký hiệu: A.1810; Minh Đô thi (tập thượng), ký hiệu: A.2424; Hải phái thi cảo, ký hiệu: A.310; Hải phái thi văn tập, ký hiệu: VHv.77; Hải Yên thi tập, ký hiệu: A.1167 và đưa ra những nhận định: “Hải Ông thi tập, ký hiệu: A.2603 là văn bản có chép thơ văn của Đoàn Nguyễn Tuấn đầy đủ nhất và sớm nhất. Theo kết quả của các nhà nghiên cứu thì Hải Ông thi tập ra đời “từ thời Gia Long – một triều vua mà tác giả còn sống vào những năm đầu, ít nhất là còn đến năm Nhâm Thân (1812) là năm mà tác giả còn tham gia đề tài Thăng Long tam thập vịnh do Uẩn Ngọc hầu Hoàng tướng công tổ chức” [7,16]. Theo các tác giả Nguyễn Tuấn Lương, Trần Duy Vôn, Đào Phương Bình: “Hải Ông thi tập là đáng trân trọng nhất vì nó chứa đựng nhiều thơ văn của Đoàn Nguyễn Tuấn hơn cả, nó có thể gần với nguyên bản hơn cả, nếu không phải chính nó là nguyên bản. Chỉ có Hải Ông thi tập (A.2603) là một văn bản có giá trị và đáng tin cậy hơn cả” [7,17].
Với thái độ nghiên cứu cẩn trọng, sự đối sánh chi 9 tiết giữa mười văn bản, các tác giả đã phiên âm, phiên dịch, chú thích 199/241 bài thơ của Đoàn Nguyễn Tuấn. Nhà nghiên cứu Nguyễn Lộc, khi tìm hiểu về văn học thời Tây Sơn đã rất quan tâm đến Đoàn Nguyễn Tuấn. Năm 1978 trong cuốn Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XVIII đến nửa đầu thế kỷ XIX, tác giả chú ý giới thiệu tiểu sử và sự nghiệp Đoàn Nguyễn Tuấn. Sau này, trong cuốn Văn học Tây Sơn [91] và công trình Tổng tập văn học Việt Nam, tập 9A - Văn học thời Tây Sơn [92], tác giả tiếp tục giới thiệu về Đoàn Nguyễn Tuấn và 48 bài thơ (bao gồm cả nguyên văn chữ Hán, phiên âm, dịch nghĩa, dịch thơ), trích trong Hải Ông thi tập.
Năm 1983, trong cuốn Từ điển văn học [45,215], tác giả Phạm Tú Châu đã giới thiệu: “Đoàn Nguyễn Tuấn để lại khoảng 240 bài thơ và một số bài phú tập hợp cả ở Hải Ông thi tập”. Tác giả điểm tên 23 bài thơ trong Hải Ông thi tập của Đoàn Nguyễn Tuấn. Công trình Thơ đi sứ [8] đã có sự nghiên cứu tìm tòi về chặng đường phát triển của thơ đi sứ từ thời Trần đến thời Nguyễn, trong đó có nhắc đến thơ đi sứ của Đoàn Nguyễn Tuấn và giới thiệu 5 bài thơ: Quá Nhị hà Quan bắc binh cố lũy, Thu khuê, Thu diệp, Đáp vấn, Chiêu Quân mộ. Nguyễn Thạch Giang (Chủ biên) trong công trình Tinh tuyển văn học Việt Nam [33] cũng giới thiệu về tác giả Đoàn Nguyễn Tuấn và 13 bài thơ của thi nhân.
Thơ đi sứ của các sứ thần Việt Nam cũng là đối tượng được các nhà nghiên cứu Trung Quốc quan tâm sưu tầm và giới thiệu. Năm 2010, các học giả của Viện Nghiên cứu Văn sử - Đại học Phúc Đán Trung Quốc đã hoàn thành công trình khảo cứu có quy mô đồ sộ nhất từ trước tới nay về thơ đi sứ: Việt Nam Hán văn Yên hành văn hiến tập thành (Tuyển tập thơ đi sứ chữ Hán Việt Nam 1313- 1884). Trong đó Hải Ông thi tập của Đoàn Nguyễn Tuấn được giới thiệu ở Việt Nam Hán văn Yên hành văn hiến tập thành, tập 7, ký hiệu Hv. Công trình này giới thiệu vài nét về tiểu sự nghiệp Đoàn Nguyễn Tuấn và chụp lại những bài thơ đi sứ của thi nhân trong cuốn Hải Ông thi tập, ký hiệu A.
Những năm gần đây, nhà nghiên cứu Nguyễn Đăng Na và Nguyễn Thanh Tùng cũng quan tâm dịch nghĩa, khảo dị, chú thích khá nhiều bài thơ trong Hải Ông thi tập. Đặc biệt là 25 bài có điểm tên trong Thơ văn Đoàn Nguyễn Tuấn – Hải Ông thi tập mà các tác giả trước đó còn lược bỏ. 10 Đoàn Nguyễn Tuấn là một tác giả được đánh giá là khá tiến bộ trong triều Tây Sơn. Thơ của ông còn để lại khá nhiều (241 bài).
Qua các tư liệu Hán Nôm, thơ văn của Hải Ông được quan tâm sưu tầm, ghi chép lại từ rất sớm.