CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Quan điểm của Đảng và Nhà nước về phát triển thể thao thành tích cao Thể thao thành tích cao (TTTTC) là hoạt động tập luyện và thi đấu của vận động viên (VĐV); trong đó, thành tích cao, kỷ lục thể thao được coi là giá trị văn hóa, là sức mạnh và năng lực của con người; nhà nước phát triển thể thao thành tích cao nhằm phát huy tối đa khả năng về thể lực, ý chí và trình độ kỹ thuật của VĐV để đạt được thành tích cao trong thi đấu thể thao. Phát triển TTTTC là một nhiệm vụ chính trị nhằm phát huy truyền thống của dân tộc, đáp ứng nhu cầu văn hóa tinh thần của nhân dân, đề cao sức mạnh ý chí tinh thần, tự hào dân tộc, góp phần nâng cao uy tín và vị thế của dân tộc Việt Nam. TTTTC có vị trí quan trọng trong việc phát triển TDTT nói chung, nâng cao sức khỏe và năng lực con người, có tác dụng to lớn trong việc tăng cường tình đoàn kết hữu nghị giữa các quốc gia, dân tộc và góp phần nâng cao uy tín của địa phương, đất nước.
TTTTC có mối quan hệ biện chứng với TDTT nói chung và với phong trào thể thao quần chúng nói riêng. Ngày nay, ở các quốc gia phát triển, TTTTC đã trở thành một ngành kinh tế - công nghiệp thể hiện ở một số lĩnh vực như bóng đá, bóng rổ, quần vợt, đua xe mô tô, ôtô … và đã trở thành nghề nghiệp của một bộ phận xã hội. Năm 1962, Hồi đồng chính phủ đã ban hành quyết định số 109-CP ngày 29 tháng 9 ban hành điều lệ về “chế độ phân cấp VĐV” và điều lệ về “chế độ phân cấp trọng tài” áp dụng trong Ngành TDTT. Đây là quyết định đầu tiên của Chính phủ về công tác TTTTC, trong đó quy định rõ về điều kiện phân cấp; quyền lợi và nghĩa vụ của VĐV theo từng cấp… [35] Ngay từ khi mới thành lập Ngành TDTT, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã rất quan tâm tới TTTTC.
Cuối năm 1966, Đoàn VĐV Thể thao Việt Nam tham dự Đại hội GANEFO - Đại hội Thể thao của các lực lượng mới trỗi dậy ở châu Á lần thứ nhất tổ chức tại Phnômpênh, Campuchia từ ngày 25 tháng 12 đến ngày 8 tháng 12. Đoàn VĐV nước ta giành được thành tích tốt đẹp, sau khi trở về nước 6 được Bác Hồ và Thủ tướng Phạm Văn Đồng tiếp và nói chuyện rất thân mật tại phủ Chủ tịch ở Hà Nội vào chiều ngày 19 tháng 12 năm 1966. Bác Hồ đã khen ngợi thành tích thi đấu của Đoàn VĐV thể thao Việt Nam rằng: “Tất cả các cháu giành được huy chương, nhiều cháu giành được huy chương vàng, thế là tốt!” Bác Hồ tặng huy hiệu của Người cho 4 VĐV đoạt được huy chương vàng. Những VĐV này đã làm rạng rỡ cho thể thao Việt Nam và dân tộc Việt Nam.
Hướng dẫn chi tiết về chế độ dinh hướng đối với VĐV và HLV thể thao được ban hành lần đầu tiên qua thông tư liên bộ số 86/TTBL/BTC-BLĐTBXH-TCTDTT năm 1994 [65]. Đây là bước ngoặt đánh dấu sự quan tâm của các bộ, ban, ngành với công tác TTTTC. Trong năm 1997 và 1998, Thủ tướng chính phủ đã ban hành 2 quyết định về việc phê duyệt chương trình thể thao quốc gia [66], trong đó nhấn mạnh: “Mục tiêu Chương trình: Đào tạo, huấn luyện vận đông viên thành tích cao gồm xây dựng, hoàn chỉnh hệ thống đào tạo VĐV các môn thể thao hiện có và các môn thể thao mới; tập huấn đội tuyển quốc gia để tham gia có kết quả các môn thể thao tại SEAGAMES năm 2003”. Và Quyết định số 49/1998/QĐ-UBTDTT về việc quy định chế độ đối với VĐV, HLV thể thao [67].
Như vậy, ngay từ thời điểm này, TTTTC đã được Chính phủ nước CHXHCNVN quan tâm, chú trọng. Ngay từ năm 2002, Ban chấp hành Trung ương đã ban hành chỉ thị Số: 17-CT/TW ngày 23 tháng 10 năm 2002 đã ban hành Chỉ thị Số: 17-VT/TW của Ban bí thư về phát triển thể dục thể thao đến năm 2010, trong đó có mục tiêu: “Giữ vị trí là một trong ba nước đứng đầu về thể thao ở khu vực Đông - Nam Á, một số môn có thứ hạng cao tại các giải thể thao châu Á và thế giới” [8]. Như vậy, ở thời điểm này, Đảng ta đã quan tâm tới việc phát triển và giữ vững vị thế trong lĩnh vực TTTTC. Ở Việt Nam, Đảng và Nhà nước rất quan tâm đến công tác TDTT, trong đó có TTTTC được thể hiện qua các hệ thống quan điểm, luật pháp, chủ trương chính sách cụ thể: "Nhà nước có chính sách phát triển TTTTC, đầu tư xây dựng 7 cơ sở vật chất, trang thiết bị hiện đại; đào tạo bồi dưỡng VĐV, HLV đạt trình độ quốc gia, quốc tế; tổ chức thi đấu TTTTC; tham gia các giải thể thao quốc tế; khuyến khích tổ chức cá nhân tham gia phát triển TTTTC" [56].
Năm 2004, trước đòi hỏi cấp bách từ thực tế, Bộ trưởng, chủ nhiệm Ủy ban TDTT đã ban hành quyết định số 1377/2004/QĐ-UBTDTT về việc ban hành Quy chế quản lý đội tuyển thể thao quốc gia [83]. Tới năm 2005, Bộ trưởng, chủ nhiệm Ủy ban TDTT cũng ban hành quy định khung về phong đẳng cấp VĐV các môn thể thao [84]. Từ thời điểm này, công tác quản lý TTTTC về cơ bản đã có hành lang pháp lý cần thiết. Trong nghị định số 112/2007/NĐ-CP của Chính phủ : Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thể dục, thể thao, ngoài các quy định chung về phát triển TDTT đã dành điều 9.
Xây dựng cơ sở vật chất cho phát triển thể thao thành tích cao; Điều 10. Đào tạo, bồi dưỡng VĐV, HLV; Điều 12. Quyền của chủ sở hữu đối với giải thể thao thành tích cao và giải thể thao chuyên nghiệp [16]. Như vậy, việc phát triển TTTTC đã rất được Chính phủ trú trọng phát triển.
Chiến lược phát triển Thể dục, thể thao đến năm 2020 đã xác định cần “Phát triển đồng bộ thể dục, thể thao trong trường học, trong lực lượng vũ trang, ở xã, phường, thị trấn cùng với phát triển thể thao thành tích cao, thể thao chuyên nghiệp”, trong đó khẳng định cần “Đổi mới và hoàn thiện hệ thống tuyển chọn, đào tạo tài năng thể thao, gắn kết đào tạo các tuyến, các lớp kế cận; thống nhất quản lý phát triển thể thao thành tích cao, thể thao chuyên nghiệp theo hướng tiên tiến, bền vững, phù hợp với đặc điểm thể chất và trình độ phát triển kinh tế - xã hội của nước ta và đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa, tinh thần của nhân dân; nâng cao thành tích thi đấu, giữ vững vị trí là một trong 3 quốc gia có thành tích thể thao đứng đầu khu vực Đông Nam Á, tiến tới thu hẹp khoảng cách trình độ đối với thể thao châu Á và thế giới. Tăng cường hội nhập quốc tế, tích cực thực hiện chủ trương, đường lối ngoại giao nhân dân của Đảng và Nhà nước” [68]. Như vậy, TTTTC là vấn đề hiện đã và đang được Đảng, chính phủ chú trọng phát triển. 8 Trong Nghị quyết Số: 08-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, tạo bước phát triển mạnh mẽ về Thể dục, thể thao đến năm 2020 cũng đã thống nhất quan điểm: “…Đầu tư cho thể dục thể thao là đầu tư cho con người, cho sự phát triển của đất nước.
Tăng tỷ lệ chi ngân sách nhà nước, ưu tiên đầu tư xây dựng cơ sở vật chất thể dục, thể thao và đào tạo VĐV thể thao thành tích cao; đồng thời phát huy các nguồn lực của xã hội để phát triển thể dục, thể thao, phát huy mạnh mẽ vai trò của các tổ chức xã hội trong quản lý, điều hành các hoạt động thể dục, thể thao”. Trong 6 nhiệm vụ và giải pháp đề ra cũng có 3 nhiệm vụ và giải pháp liên quan tới lĩnh vực TTTTC [59]. Như vậy, có thể thấy Đảng ta rất quan tâm tới việc phát triển TTTTC. Quan tâm tới công lĩnh vực TTTTC, ngày 7 tháng 11 năm 2011, Bộ Tài chính và Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cũng đã ban hành thông tư liên tịch hướng dẫn thực hiện chế độ dinh dưỡng đặc thù đối với VĐV, HLV thể thao có thành tích cao [11].
Đây là hành lang pháp lý quan trọng giúp đảm bảo quyền lợi cho các đối tượng VĐV, HLV thể thao đang tập luyện tại các đội tuyển quốc gia; đội tuyển trẻ quốc gia; đội tuyển tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, ngành; đội tuyển năng khiếu các cấp và đội tuyển quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh. Năm 2013, Thủ tướng chính phủ đã ban hành Quyết định Số: 2160/QĐ- TTg ngày 11 tháng 11 năm 2013 về việc phê duyệt “Quy hoạch phát triển Thể dục, thể thao Việt Nam đến năm 2020, định hướng đến năm 2030”. Trong quy hoạch đã nhấn mạnh: “Thành tích ở một số môn thể thao có thếmạnh của Việt Nam đạt trình độ của châu lục và thế giới. Phấn đấu đến năm 2030, Việt Nam trở thành quốc gia có nền thể dục, thể thao phát triển ở châu lục”.
Trong quy hoạch cũng đã đưa ra các chỉ tiêu cụ thể cần đạt được của TTTTC Việt Nam tới năm 2020 [69]. Ngày 27/6/2016, Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã ký Quyết định số 2244/QĐ-BVHTTDL ban hành Chương trình hành động của Ngành Văn hoá, Thể thao và Du lịch thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng, trong đó nhấn mạnh về TTTTC: “phát triển thể thao thành 9 tích cao, từng bước theo hướng chuyên nghiệp; nâng cao chất lượng, hiệu quả đào tạo VĐV; phấn đấu là một trong 3 nước có thành tích thể thao dẫn đầu SEA Games, từng bước tiếp cận thành tích của châu Á và thế giới ở một số nội dung Olympic, ASIAD mà nước ta có thế mạnh. Mục tiêu: Giữ vững vị trí là một trong 3 nước đứng đầu tại SEA Games 29 năm 2017, SEA Games 30 năm 2019, SEA Games 31 năm 2021; phấn đấu đạt 2-3 huy chương vàng tại ASIAD 18 năm 2018; phấn đấu có huy chương tại Thế vận hội Olympic 2016, phấn đấu có 25 VĐV tham dự, giành 1-2 huy chương tại Thế vận hội Olympic 2020” [12]. Gần đây nhất, năm 2018, Quốc hội đã ban hành Luật số: 26/2018/QH14 ngày 14 tháng 6 năm 2018 về Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thể dục, thể thao.