Chương 1 GI I THI U Chương một nhằm mục đích giới thiệu tổng quan về luận án nghiên cứu. Cụ thể, chương này sẽ trình bày cơ sở để hình thành luận án, vấn đề nghiên cứu mà luận án nhắm đến, mục tiêu, câu hỏi, phạm vi và đối tượng nghiên cứu của luận án, giới thiệu tổng quan về phương pháp nghiên cứu của luận án cũng như ý nghĩa mang lại từ kết quả nghiên cứu của luận án. Cơ sở hình thành lu n án Đầu tư của DN đóng vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế, góp phần thúc đẩy tăng trưởng, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo công ăn việc làm cho người lao động,. Đặc biệt, trong tình hình khó khăn hiện nay thì đầu tư của DN càng thể hiện nổi bật vai trò là động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Trong những năm gần đây, Việt Nam là một trong những quốc gia có tốc độ tăng trưởng kinh tế khá nhanh trên thế giới, trong giai đoạn 2000 - 2012 tăng bình quân 6,6%/năm (giai đoạn 2000 - 2007 tăng 7% và giai đoạn 2008 - 2012 tăng 5,6%). Từ khi Luật DN ra đời vào năm 2005, môi trường đầu tư ngày càng thông thoáng đã tạo ra một làn sóng mới trong phát triển DN. Số lượng, quy mô, đầu tư, hiệu quả, năng lực cạnh tranh của DN,… đều tăng rất nhanh và đóng góp ngày càng lớn vào tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế của cả nước, năm 2012 cộng đồng DN đóng góp khoảng 61,8% trong tổng GDP của cả nước (Tổng cục thống kê, 2013). Theo VCCI (2012), tổng số DN Việt Nam tăng bình quân 13,9%/năm giai đoạn 2002 - 2011, từ 62.908 DN năm 2002 tăng lên 312.642 DN vào cuối năm 2011; DN Việt Nam ngày càng ít thâm dụng lao động nhưng tăng thâm dụng về vốn (năm 2002, bình quân 74 lao động/DN và 23 tỷ đồng/DN nhưng đến năm 2011 bình quân 34 lao động/DN và 47 tỷ đồng/DN).
Xu hướng đầu tư của DN đã cho thấy: sự lên ngôi của mô hình quản trị DN hiện đại (tỷ trọng số DNNN giảm mạnh từ 8,53% năm 2002 xuống 0,99%; DN tư nhân giảm từ 39,4% xuống 14,3%; công ty trách nhiệm hữu hạn tăng từ 37,3% lên 57,2%; công ty cổ phần tăng từ 4,5% lên 20,8%;.) và nguồn lực ngày càng hướng vào khu vực phi sản xuất (tỷ trọng vốn khu vực sản xuất từ 40,7% năm 2002 giảm còn 31,7% năm 2010),. Bên cạnh đó, 2 DN vẫn còn những khó khăn, tồn tại như: có quá ít các DN quy mô vừa (năm 2011 DN siêu nhỏ chiếm 65,6%, DN nhỏ chiếm 29,9%, DN vừa chiếm 2,1% và DN lớn chiếm 2,4%); hiệu suất sử dụng lao động (Doanh thu bình quân 1 lao động/Thu nhập bình quân của lao động) không được cải thiện; DN chủ yếu dựa vào nguồn vốn vay bên ngoài; khả năng trả lãi vay của DN giảm; tỷ lệ DN báo giảm hiệu quả kinh doanh tăng (năm 2007 có 81,1% DN lãi nhưng đến 2013 tỷ lệ là 64,3%),… Ngoài ra, Nguyễn Đình Cung (2012) cho biết quy mô vốn đầu tư của mỗi DN tuy có tăng lên nhưng vẫn còn rất thấp; tuy vốn sản xuất kinh doanh (SXKD) bình quân và giá trị tài sản cố định (TSCĐ) của DN tăng khá nhanh nhưng kể từ 2008, hai chỉ số này bắt đầu giảm và đến nay vẫn chưa có dấu hiệu phục hồi; điều này đã phản ánh một thực tế rằng các DN hiện không còn mạnh dạn đầu tư, mở rộng SXKD như trước. Các DN cũng gặp khó khăn rất nhiều trong việc tiếp cận nguồn vốn, thu mua nguyên liệu đầu vào và những biểu hiện bất ổn đến từ kinh tế vĩ mô,. Sự gia tăng về TSCĐ và đầu tư tài chính dài hạn cũng như số vốn SXKD hàng năm của DN có thể được xem như là giá trị đại diện cho việc đầu tư, mở rộng SXKD của DN bởi căn cứ theo phiếu điều tra thông tin DN thì vốn đầu tư thực hiện hàng năm được chia thành các khoản như: xây dựng cơ bản, mua sắm, sửa chữa, nâng cấp TSCĐ, bổ sung vốn lưu động,.
Về số lượng DN, vào năm 2013 thì trên toàn vùng ĐBSCL có 28.732 DN chiếm 7,7% số DN cả nước, trong khi giai đoạn ngay sau khi Luật DN năm 1999 ra đời, số DN ĐBSCL chiếm đến 23% số DN cả nước (Võ Hùng Dũng, 2012). Qua đó cho thấy việc thu hút DN đầu tư mới, đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh của DN vẫn còn hạn chế. DN cả nước nói chung và của vùng ĐBSCL nói riêng chủ yếu là DN vừa và nhỏ, chưa mạnh dạn đầu tư vốn phát triển DN, chính sách thu hút đầu tư, phát triển DN chưa thật sự đáp ứng nhu cầu phát triển,… Trong khi nền kinh tế nước ta hiện đang hội nhập ngày càng sâu, rộng vào nền kinh tế thế giới, nếu quy mô vốn của các DN thấp thì không những ảnh hưởng tiêu cực đến việc đổi mới công nghệ của DN mà còn làm giảm khả năng tận dụng cơ hội kinh doanh và năng lực cạnh tranh của DN. Thực hiện chủ trương tái cấu trúc nền kinh tế, trong đó nội dung quan trọng là cơ cấu lại đầu tư công theo hướng tiết giảm cho phù hợp với quy mô và tốc độ phát triển của nền kinh tế thì yêu cầu khai thông, thu hút ngày càng 3 nhiều vốn đầu tư từ những thành phần kinh tế khác, nhất là DN tư nhân và DN có vốn đầu tư nước ngoài càng trở nên quan trọng và cấp thiết hơn.
Tuy nhiên, với con số lên đến gần 70% DN tư nhân hiện đang hoạt động SXKD không có lãi (DN nhỏ và siêu nhỏ chiếm 96%) được công bố tại Diễn đàn DN năm 2015 đã phần nào cho thấy tình hình hoạt động, phát triển của DN hiện nay vẫn chưa có nhiều chuyển biến tích cực. Tính riêng trong 4 tháng đầu năm 2016, cả vùng ĐBSCL có 1.284 DN tạm ngừng hoạt động không đăng ký hoặc chờ giải thể (giảm 21% so với cùng kỳ năm 2015), 600 DN đăng ký giải thể (giảm 20,4% so với cùng kỳ năm 2015), 1.469 DN quay trở lại hoạt động (tăng 135% so với cùng kỳ năm 2015). Tuy rằng số lượng DN tạm ngừng hoạt động, giải thể có giảm và số lượng DN hoạt động trở lại có tăng lên nhưng những khó khăn của cộng đồng DN hiện nay vẫn còn nhiều tồn đọng; trong số đó thì một số hạn chế điển hình của DN có thể kể đến như năng lực quản trị còn yếu, khả năng ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất thấp, năng lực tiếp cận thị trường và sức cạnh tranh của sản phẩm chưa cao,. Để có thể vượt qua những khó khăn, thách thức này, bên cạnh sự nỗ lực của chính bản thân cộng đồng DN thì còn đòi hỏi sự vào cuộc, hỗ trợ thiết thực và mạnh mẽ hơn nữa từ phía các nhà hoạch định chính sách.
Về mặt lý thuyết, xét trên góc độ vĩ mô thì hầu hết các nhà nghiên cứu đều thừa nhận việc tích lũy vốn để đầu tư và đầu tư sẽ là yếu tố hết sức quan trọng có tác động tích cực đến sự tăng trưởng của nền kinh tế. Chẳng hạn như theo Smith (1976) thì việc tăng vốn đầu tư sẽ góp phần làm tăng tổng sản lượng quốc gia cũng như sản lượng bình quân trên mỗi lao động. Hay trong mô hình tăng trưởng Harrod – Domar thì cho rằng việc tăng đầu tư sẽ có ảnh hưởng tích cực và trực tiếp đến tăng trưởng kinh tế. Bên cạnh đó, trên góc độ vi mô thì đầu tư lại có thể được xem là yếu tố quyết định cho sự ra đời, tồn tại và phát triển những cơ sở SXKD, thậm chí là cả các tổ chức, đơn vị phi lợi nhuận.
Các chủ đề về đầu tư của DN đã được các nhà khoa học trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu trong một thời gian dài. Trong nước, nhìn chung có ít các nghiên cứu toàn diện về đầu tư DN của cả nước cũng như vùng ĐBSCL, thời gian điều tra, nghiên cứu chủ yếu trong giai đoạn 2004 - 2007, giai đoạn kinh tế tăng trưởng tốt nhất. Lê Khương Ninh và ctg (2008) đã nghiên cứu, phân tích các yếu tố 4 ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của DN ngoài quốc doanh ở ĐBSCL, đặc biệt tập trung vào Kiên Giang với mẫu điều tra khoảng 294 DN ở Kiên Giang và 606 DN thuộc vùng ĐBSCL trong 1 hoặc 2 năm, sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng, đưa vào mô hình nhiều yếu tố nội sinh tác động đến đầu tư như: tăng trưởng doanh thu, vốn tự có, trình độ văn hóa và chuyên môn, vốn vay, quy mô DN, ngành nghề, mặt bằng. Ngoài ra, Nguyễn Thị Cành (2004) sử dụng phương pháp phân tích định tính, khảo sát các yếu tố ngoại sinh tác động đến đầu tư DN dựa trên việc khảo sát 140 DN ở Tiền Giang (26 DN), Bình Dương (40 DN), TP.HCM (74 DN), trong đó có 14 yếu tố chính như vấn đề ưu đãi tín dụng, cung nguồn nhân lực, cơ sở hạ tầng,… được đưa ra lấy ý kiến DN để đánh giá theo thang đo Likert,… Về nghiên cứu ngoài nước, nhiều học giả, nhà khoa học đã bị cuốn hút vào điều tra về DN nói chung và nghiên cứu đầu tư của DN nói riêng như: Blanchard và Fischer (1989), Harris và ctg (1994), Besley (1995), Bernanke và ctg (1996), Budina và ctg (2000), Das (2012), Jangili và Kumar (2010) và Badertscher và ctg (2013),… đã quan sát nhiều khía cạnh khác nhau đối với đầu tư của DN, các nghiên cứu này rất đa dạng do sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau.
Tuy rằng chủ đề nghiên cứu về đầu tư của DN đã được nghiên cứu ở nhiều nơi khác nhau trên thế giới nhưng kết quả nghiên cứu vẫn chưa cho thấy sự nhất quán ở một số yếu tố. Cùng một biến số nhưng khi nghiên cứu các DN ở những khu vực khác nhau sẽ có ảnh hưởng khác nhau hoặc không có ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của DN. Điều này cho thấy đặc thù riêng của từng khu vực, quốc gia có khả năng sẽ ảnh hưởng đến đầu tư của DN nhưng đa phần các nghiên cứu chưa xem xét đến yếu tố này. Bên cạnh đó thì các nghiên cứu phần lớn tập trung vào khám phá mối quan hệ giữa dòng tiền và lượng vốn đầu tư của DN, ít quan tâm đến các đặc điểm khác của DN, trong khi những yếu tố này cũng có thể có ảnh hưởng rất lớn đến quyết định đầu tư của DN.