CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HIỆU QUẢ KINH DOANH VÀ GIẢI PHÁP TÀI CHÍNH NÂNG CAO HIỆU QUẢ KINH DOANH TẠI DOANH NGHIỆP 1. Tiêu chuẩn và hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp 1.Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm hiệu quả Hiện nay, có rất nhiều quan điểm khác nhau về hiệu quả của các tác giả trong nước và trên thế giới. Theo Fraser (1994), hiệu quả là sự đo lường giữa các mục tiêu đã đặt ra và những thành tích đã đạt được.
Còn Erlendsson (2002) cho rằng hiệu quả là mức độ đạt được các mục tiêu. Như vậy, các tác giả nước ngoài chủ yếu xem xét mức độ thực hiện được mục tiêu đã đề ra để đánh giá một công việc hoặc một quá trình nào đó có hiệu quả hay không. Trong cách tiếp cận này, khi nói đến hiệu quả của một hoạt động/ quá trình nào đó, người ta gắn nó với mục tiêu nhất định. Hiệu quả sẽ là sự so sánh giữa kết quả và mục tiêu cần phải đạt được.
Các hoạt động không có mục tiêu trước không thể đưa ra để tính hiệu quả. Tại Việt Nam, có 3 quan điểm chính về hiệu quả và nhìn chung cả 3 quan điểm này đều khá tương đồng với nhau: Quan điểm thứ nhất, theo Đại từ điển tiếng Việt, hiệu quả là kết quả đích thực. Quan điểm thứ hai, hiệu quả là một chỉ tiêu phản ánh mức độ kết quả thu được nhằm đạt một mục đích cụ thể tương ứng với những nguồn lực phải bỏ ra trong quá trình thực hiện một hoạt động nhất định. Trong cách tiếp cận này, khi nói đến hiệu quả của một hoạt động nào đó, người ta gắn nó với mục đích nhất định.
Hiệu quả luôn gắn với một mục tiêu nhất định, không có hiệu quả chung chung. Quan điểm thứ ba, hiệu quả là không lãng phí. Đây được xem là một quan điểm cho chúng ta cách tiếp cận về bản chất hiệu quả nói chung. Có thể thấy rằng, các tác giả Việt Nam chủ yếu đánh giá hiệu quả dựa trên sự so sánh giữa kết quả đạt được với những phí tổn đã bỏ ra để có được kết quả đó.
14 Như vậy, một hoạt động/ quá trình được cho là hiệu quả nếu nó đạt được một kết quả giống nhau nhưng sử dụng ít thời gian, công sức và nguồn lực nhất. Phân loại hiệu quả Trong công tác quản lý, phạm trù hiệu quả được biểu hiện ở nhiều dạng khác nhau.Tiếp cận theo từng góc độ cụ thể, có thể phân biệt từng loại hiệu quả theo các tiêu thức sau: Căn cứ vào mục đích xác định hiệu quả: - Hiệu quả tuyệt đối: Loại hiệu quả này được tính toán cho từng phương án bằng cách xác định mối tương quan giữa kết quả thu được với chi phí bỏ ra khi thực hiện mục tiêu. - Hiệu quả so sánh: được xác định bằng việc so sánh các chỉ tiêu hiệu quả tuyệt đối, hoặc so sánh tương quan các đại lượng thể hiện chi phí hoặc kết quả của các phương án với nhau. Căn cứ vào mục tiêu của mỗi chu kỳ tái sản xuất xã hội: - Hiệu quả kinh tế: Hiệu quả chỉ xét về khía cạnh kinh tế của hoạt động/ quá trình, có ý nghĩa quyết định trong hoạt động của các chủ thể khác nhau.
- Hiệu quả xã hội: Chẳng hạn như giải quyết công ăn việc làm, công bằng xã hội và đảm bảo vệ sinh môi trường, … Căn cứ vào chủ thể nhận được kết quả và chi phí bỏ ra để có được kết quả đó: - Hiệu quả cá biệt: Hiệu quả thu được từ hoạt động/ quá trình của từng cá nhân/ tổ chức. - Hiệu quả kinh tế quốc dân: Được tính cho toàn bộ nền kinh tế, chính là sản phẩm thặng dư, thu nhập quốc dân hay tổng sản phẩm xã hội mà đất nước thu được trong mỗi thời kỳ so với lượng vốn sản xuất, lao động xã hội và tài nguyên đã bỏ ra. Căn cứ vào đối tượng chi phí: - Hiệu quả chi phí bộ phận:Là mối tương quan giữa kết quả thu được với chi phí từng yếu tố cần thiết để thực hiện hoạt động/ quá trình nào đó. 15 - Hiệu quả chi phí tổng hợp: Là mối tương quan giữa kết quả thu được với tổng chi phí bỏ ra để thực hiện hoạt động/ quá trình nào đó.
Hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp Hiệu quả kinh doanh là một vấn đề được các nhà kinh tế và quản lý kinh tế hết sức quan tâm trong rất nhiều năm qua. Mọi hoạt động kinh doanh của bất kỳ doanh nghiệp nào cũng đều hướng tới mục tiêu hiệu quả. Các doanh nghiệp luôn phải nghĩ cách làm thế nào để một đồng vốn bỏ vào kinh doanh mang lại hiệu quả cao nhất, khả năng sinh lời nhiều nhất. Trong cơ chế thị trường hiện nay ở nước ta, môi trường kinh doanh luôn biến đổi đòi hỏi mỗi doanh nghiệp phải có chiến lược kinh doanh thích hợp.
Công việc kinh doanh là một nghệ thuật, nó đòi hỏi các nhà quản lý phải có sự tính toán nhanh nhạy, biết nhìn nhận vấn đề ở tầm chiến lược. Hiệu quả kinh doanh luôn gắn liền với hoạt động kinh doanh, có thể xem xét nó trên nhiều góc độ khác nhau. Cho tới thời điểm này, đã có rất nhiều quan điểm khác nhau của các nhà kinh tế về hiệu quả kinh doanh. Đầu tiên phải kể đến Adam Smith - cha đẻ của kinh tế học, ông cho rằng hiệu quả kinh doanh là kết quả đạt được trong hoạt động kinh tế, là doanh thu tiêu thụ hàng hóa (Adam Smith, 1776).
Trong quan điểm này nhà kinh tế người Anh đã đánh đồng hiệu quả và kết quả mà thật ra giữa chúng có sự khác biệt. Theo ông, các mức chi phí khác nhau mang lại cùng một kết quả thì có hiệu quả như nhau. Như vậy, Adam Smith mới chỉ quan tâm đến kết quả đầu ra mà chưa quan tâm đến các yếu tố đầu vào. Nordhaus (2010) khẳng định hiệu quả kinh doanh diễn ra khi xã hội không thể tăng sản lượng một loạt hàng hoá mà không cắt giảm một loạt sản lượng hàng hoá khác.
Một nền kinh tế có hiệu quả nằm trên giới hạn khả năng sản xuất của nó. Quan điểm này thực chất là đề cập đến khía cạnh phân bổ có hiệu quả các nguồn lực của nền sản xuất xã hội, nghĩa là nếu việc phân bổ và sử dụng các nguồn lực sản xuất trên đường giới hạn khả năng sản xuất sẽ làm cho nền kinh tế có hiệu quả cao. 16 Ở trong nước, vấn đề hiệu quả kinh doanh cũng được rất nhiều nhà nghiên cứu quan tâm và tìm cách đưa ra các khái niệm dựa trên góc độ nhìn nhận của họ. Trong đó, điển hình là quan điểm của PGS.
Phạm Công Đoàn (2012) khẳng định hiệu quả kinh doanh mô tả mối tương quan giữa lợi ích kinh tế mà doanh nghiệp đạt được với chi phí đã bỏ ra để đạt được lợi ích đó. Đại lượng biểu hiện lợi ích và chi phí kinh doanh phụ thuộc vào mục tiêu của doanh nghiệp trong từng thời kỳ. Nếu doanh nghiệp lấy mục tiêu chiếm lĩnh thị trường làm trọng thì có thể đó là doanh thu bán hàng và những chi phí gắn liền với hoạt động bán hàng của doanh nghiệp. Nhưng nếu mục tiêu của doanh nghiệp là tối đa hóa lợi nhuận thì đó là lợi nhuận đạt được từ vốn đầu tư của chủ doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định.
Cũng theo PGS. Phạm Công Đoàn, thực chất của hiệu quả kinh doanh là thực hiện yêu cầu của quy luật tiết kiệm thời gian, nó biểu hiện trình độ sử dụng các nguồn lực của doanh nghiệp để thực hiện các mục tiêu đã xác định. Như vậy, hiệu quả kinh doanh là một phạm trù khách quan, phản ảnh trình độ và năng lực quản lý, đảm bảo thực hiện có kết quả cao những nhiệm vụ kinh doanh đã đặt ra trong từng thời kỳ với chi phí nhỏ nhất. Hiệu quả kinh doanh cũng là mối quan tâm hàng đầu của doanh nghiệp và chủ doanh nghiệp.
Mỗi quan điểm về hiệu quả kinh doanh nêu trên đều chứa đựng những ưu, nhược điểm nhất định. Có thể thấy rằng, mặc dù các nhà nghiên cứu nhìn nhận hiệu quả kinh doanh ở nhiều góc độ khác nhau nhưng nhìn chung hiệu quả kinh doanh phản ánh mặt chất lượng của các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực để đạt được các mục tiêu đã đề ra của doanh nghiệp. Qua các quan điểm trên, chúng ta có thể đưa ra định nghĩa đầy đủ về hiệu quả kinh doanh như sau: “Hiệu quả kinh doanh là phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực trong hoạt động kinh doanh nhằm đạt được các mục tiêu đã đề ra” Trong đó, các nguồn lực của doanh nghiệp bao gồm nguồn nhân lực, tài sản vật chất, các nguồn lực vô hình. Đây là nhóm yếu tố quyết định khả năng hoạt động của doanh nghiệp, trong đó nguồn lực quan trọng nhất là con người.
Trình độ sử 17 dụng các nguồn lực trong hoạt động kinh doanh phản ánh khả năng phân bổ và tổ chức quản lý sử dụng các nguồn lực của doanh nghiệp vào hoạt động kinh doanh. Trong quá trình hoạt động của mình, các nhà quản trị doanh nghiệp thường đặt ra nhiều mục tiêu hoạt động của doanh nghiệp. Các mục tiêu này thường được ấn định theo các lĩnh vực cụ thể như mức lợi nhuận; năng suất, chi phí, vị thế cạnh tranh, tăng thị phần; nâng cao chất lượng phục vụ; duy trì sự tồn tại của doanh nghiệp; đạt sự ổn định nội bộ …. Tại một thời điểm nhất định, doanh nghiệp có thể có nhiều mục tiêu khác nhau.
Các mục tiêu này thay đổi theo thời gian và mỗi khi thay đổi mục tiêu, cách nhìn nhận và đánh giá hiệu quả cũng thay đổi theo (PGS. Phạm Công Đoàn, 2012). Quan điểm về hiệu quả kinh doanh ở trên sẽ được tác giả sử dụng xuyên suốt trong toàn bộ nghiên cứu này. Về bản chất, hiệu quả kinh doanh là mối quan hệ so sánh giữa kết quả đạt được và chi phí bỏ ra để sử dụng các yếu tố đầu vào và có tính đến các mục tiêu của doanh nghiệp.
Mối quan hệ so sánh ở đây có thể là so sánh tuyệt đối và cũng có thể là so sánh tương đối. Nếu xét mối quan hệ giữa kết quả và hiệu quả thì kết quả được xem là cơ sở để tính hiệu quả kinh doanh. Kết quả kinh doanh của doanh nghiệp có thể là những đại lượng có khả năng cân, đo, đong, đếm được như số sản phẩm tiêu thụ mỗi loại, doanh thu bán hàng, thị phần .