Tổng quan luận án
Chất diệt cỏ chứa dioxin (chất diệt cỏ/dioxin) là nhóm hợp chất hữu cơ chứa clo có độc tính cao, đặc tính tích lũy sinh học lớn và đặc biệt khó bị phân hủy trong môi trường tự nhiên. Trong chiến tranh giai đoạn 1961–1971, khối lượng lớn chất diệt cỏ chứa dioxin đã được rải xuống miền Trung và miền Nam Việt Nam. Mặc dù đã qua hơn 40 năm, hàm lượng tồn lưu tại các điểm nóng như sân bay Biên Hòa, Đà Nẵng và Phù Cát vẫn ở mức rất cao, trong đó đồng phân cực độc 2,3,7,8-TCDD chiếm tới 99% tổng độ độc tương đương (TEQ).
Công nghệ phân hủy sinh học (bioremediation) thông qua phương pháp chôn lấp tích cực đã được thử nghiệm và ứng dụng tại Đà Nẵng (quy mô từ 0,5 m³ đến 100 m³) và Biên Hòa (lô xử lý 3.384 m³), đạt hiệu quả giảm độ độc từ 50–70% sau gần 2 năm tại Đà Nẵng và trên 99% sau 27 tháng tại Biên Hòa. Quá trình khử độc triệt để đòi hỏi sự phối hợp của nhiều nhóm vi sinh vật, trong đó quá trình loại khử clo kỵ khí (reductive dechlorination) giữ vai trò then chốt mở đầu nhằm hạ thấp số lượng nguyên tử clo, tạo điều kiện cho các vi sinh vật hiếu khí khoáng hóa tiếp theo. Tuy nhiên, trước thời điểm nghiên cứu, hiểu biết về cấu trúc quần xã, sự đa dạng di truyền và các nhóm gene chức năng của vi khuẩn kỵ khí hô hấp loại clo trong các lô xử lý này vẫn chưa được giải quyết một cách hệ thống; việc làm giàu nhóm vi khuẩn hô hấp loại clo bắt buộc trong nước chưa thu được kết quả hoàn chỉnh. Luận án của nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Tâm Thư được thực hiện nhằm giải quyết các khoảng trống khoa học này.
Mục đích nghiên cứu của luận án được xác định gồm 3 nội dung:
- Đánh giá sự đa dạng vi khuẩn kỵ khí trong các lô xử lý chất diệt cỏ/dioxin và trong mẫu làm giàu vi khuẩn kỵ khí hô hấp loại khử clo bằng phương pháp sinh học phân tử.
- Đánh giá sự đa dạng các gene chức năng tham gia vào quá trình phân hủy và chuyển hóa các hợp chất chứa clo vòng thơm trong mẫu làm giàu quần xã vi khuẩn kỵ khí hô hấp loại khử clo từ mẫu đất ở lô xử lý của Biên Hòa.
- Đánh giá khả năng phân hủy chất diệt cỏ/dioxin trong mẫu làm giàu bởi quần xã vi khuẩn kỵ khí hô hấp loại khử clo.
Để thực hiện các mục đích trên, luận án triển khai 6 nội dung nghiên cứu:
- Xác định sự có mặt của một số nhóm vi khuẩn kỵ khí hô hấp loại khử clo trong các lô xử lý bằng phương pháp nested-PCR.
- Nghiên cứu sự đa dạng vi khuẩn khử sulfate (KSF) và Dehalococcoides từ các lô xử lý đất nhiễm chất diệt cỏ/dioxin tại sân bay Đà Nẵng và Biên Hòa bằng phương pháp điện di trên gel biến tính (DGGE).
- Đánh giá sự biến động số lượng vi khuẩn kỵ khí sử dụng dioxin và vi khuẩn khử sulfate trong lô xử lý 3.384 m³ tại Biên Hòa.
- Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học của quần xã vi khuẩn khử sulfate và một chủng đại diện được làm giàu, phân lập từ các lô xử lý chất diệt cỏ/dioxin ở Việt Nam.
- Đánh giá khả năng phân hủy hoặc chuyển hóa các đồng phân PCDD/Fs và các hợp chất vòng thơm từ mẫu làm giàu quần xã vi khuẩn kỵ khí hô hấp loại khử clo và vi khuẩn khử sulfate.
- Sử dụng công cụ Metagenomics để nghiên cứu sự đa dạng của quần xã vi khuẩn kỵ khí cũng như các gene chức năng tham gia vào quá trình phân hủy và chuyển hóa chất diệt cỏ/dioxin có mặt trong mẫu làm giàu từ đất của 16 vị trí ở lô xử lý khử độc tại Biên Hòa sau 36 tháng.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Quần xã vi khuẩn kỵ khí bản địa, nhóm vi khuẩn khử sulfate, chi Dehalococcoides, chi Pseudomonas, các chủng phân lập (như chủng KSF BDN10T); các chất ô nhiễm gồm 17 đồng phân PCDD/Fs, 2,3,7,8-TCDD, OCDD, 2,4,5-T, 2,4-D, và sản phẩm trung gian 2,4-DCP, 2,4,5-TCP.
- Phạm vi không gian: Mẫu đất lấy từ các lô xử lý chôn lấp tích cực thử nghiệm quy mô 10 m³, 100 m³ tại sân bay Đà Nẵng và lô xử lý quy mô 3.384 m³ tại khu Z1 sân bay Biên Hòa (thu thập tại 16 vị trí sau 36 tháng xử lý).
- Phạm vi thời gian: Nghiên cứu thực nghiệm, theo dõi mẫu nuôi cấy làm giàu kéo dài 12 tháng (1 năm) và các giai đoạn xử lý đất hiện trường từ 24 đến 36 tháng, hoàn thành năm 2013.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án tổng thuật các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế về các hợp chất hữu cơ chứa clo, cơ chế phân hủy sinh học và tính đa dạng của vi sinh vật tham gia chuyển hóa:
- Độc tính và tình hình ô nhiễm: Tài liệu của Schecter (2006), Smidt (2000, 2004), Fennell (2004), Tas (2009), Wagner (2009), Angelo (2010), Ssebugere (2013) cung cấp số liệu tổng quan về sự phát tán của dioxin, PCB, HCB, PCE, TCE trên thế giới. Báo cáo của Hatfield Consultants (2009, 2011) và Văn phòng 33 phản ánh thực trạng ô nhiễm dioxin tại các điểm nóng Đà Nẵng (nồng độ TCDD bề mặt đạt tới 361.000 ppt), Biên Hòa (khu Z1 nồng độ TCDD ở độ sâu 60–90 cm đạt 259.000 ppt, chiếm 99% TEQ) và Phù Cát (khu nhiễm độc cao đạt 11.000 ppt).
- Cơ chế chuyển hóa và phân hủy sinh học: Reineke (2001), Hiraishi (2003, 2008), Maphosa (2010), Yoshida (2005) xác định 4 con đường phân hủy sinh học chất clo hữu cơ: oxy hóa cắt vòng thơm nhờ enzyme dioxygenase hiếu khí; loại clo sản phẩm cắt vòng (ortho/meta hoặc ortho biến đổi); phân hủy bằng enzyme ngoại bào (laccase, MnP, LiP do nấm mục gỗ Phanerochaete chrysosporium, xạ khuẩn tiết ra); và hô hấp loại clo kỵ khí nhờ hệ enzyme nội bào reductive dehalogenase (RdhA).
- Vi khuẩn phân hủy hiếu khí: Fukumori (1993), Kitagawa (2002), Mai (2001), Itoh (2004), Vroumsia (2005), Chang (2008), Habe (2001), Aly (2008), Hong (2004), Hartmann (2013), Sowers (2013), Hidayat (2013), Cvančarová (2013) làm rõ khả năng chuyển hóa 2,4-D, 2,4,5-T, DBF, DD, 1-MCDD, 2-MCDD bởi các chủng Burkholderia, Cupriavidus necator JMP134, Sphingomonas wittichii RW1, Rhodococcus opacus SAO101, Terrabacter sp. DBF63.
- Vi khuẩn hô hấp loại khử clo kỵ khí: Hiraishi (2008), Richardson (2013), Kranzioch (2013) phân loại vi khuẩn hô hấp clo thành 3 ngành chính: Proteobacteria, Firmicutes, Chloroflexi.
- Nhóm hô hấp loại clo bắt buộc: Chi Dehalococcoides, Dehalogenimonas, Dehalobacter. Löffler và cộng sự (2013) thống nhất phân loại loài Dehalococcoides mccartyi với 6 chủng chuẩn (195, CBDB1, BAV1, VS, FL2, GT). Hendrickson (2002) chia nhóm này thành 3 phân nhóm di truyền: Cornell, Victoria và Pinellas. Bunge và cộng sự (2003, 2008, 2009) chứng minh khả năng loại clo 1,2,3,4-TCDD, 1,2,3,7,8-PeCDD của chủng CBDB1. Kube (2005), Seshadri (2005), Wagner (2009) phân tích số lượng bản sao gene rdhA (cbrA, pceA, tceA).
- Nhóm hô hấp loại clo không bắt buộc: Điển hình là nhóm vi khuẩn khử sulfate (Desulfovibrio, Desulfitobacterium, Desulfomonile, Desulfococcus). Barton (2007), Muyzer (2008), Boyle (1995, 1999b), Sun (2000), Häggblom (2006), Drzyzga (2001), Duret (2012), Bisaillon (2010), Marzorati (2007), Ritalahti (2004) chứng minh vai trò khử sulfate và khử clo của D. hafniense, D. dehalogenans, D. dechloracetivorans.
- Nhóm loại clo đồng trao đổi chất: Điển hình là chi Pseudomonas, Clostridium, Shewanella. Nghiên cứu của Kaschabek (2002), Kim (2009), Gohil (2011) mô tả các chuỗi enzyme chuyển hóa hợp chất clo và cắt vòng benzoate, phenylacetate.
- Nghiên cứu tại Việt Nam: Các công trình của Đặng Thị Cẩm Hà (2005, 2009, 2012), Kiều Hữu Ảnh (2003), Hoàng Thị Mỹ Hạnh (2004), La Thanh Phương (2005), Lê Văn Nhương (2005), Nguyễn Bá Hữu (2007, 2008, 2009), Nguyễn Thị Sánh (2005, 2007), Phạm Ngọc Long (2009), Nguyễn Ngọc Bảo (2010), Phùng Khắc Huy Chú (2012) đã phát hiện sự tồn tại của Pseudomonas, Desulfovibrio, Dehalococcoides trong các lô xử lý thực nghiệm tại Đà Nẵng và Biên Hòa.
Khoảng trống nghiên cứu được lựa chọn giải quyết: Các nghiên cứu trước đây tại Việt Nam chủ yếu tiếp cận vi khuẩn hiếu khí hoặc phân tích đơn lẻ một số đoạn gene bằng kỹ thuật PCR-DGGE/SSCP thông thường; chưa xây dựng được quy trình làm giàu thành công toàn diện quần xã vi khuẩn kỵ khí có đầy đủ 3 nhóm chức năng (bắt buộc, không bắt buộc và đồng trao đổi chất) từ đất ô nhiễm nồng độ cao; chưa ứng dụng công cụ giải trình tự thế hệ mới Metagenomics để đánh giá hệ gene chức năng phân hủy clo hữu cơ trong các lô xử lý thực địa.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khung phân tích
Luận án dựa trên cơ sở lý thuyết chuyển hóa sinh học kỵ khí các hợp chất cơ clo (chloroethene, chlorophenol, chlorophenoxyalkanoic acid, PCDD/Fs). Khung phân tích tập trung vào quá trình hô hấp loại clo (Reductive dehalogenation) — phản ứng trong đó hợp chất clo hữu cơ đóng vai trò là chất nhận điện tử cuối cùng, khí hydro ($H_2$) hoặc các axit hữu cơ chuỗi ngắn đóng vai trò chất cho điện tử dưới sự xúc tác của phức hệ enzyme reductive dehalogenase (RdhA) chứa cụm sắt-lưu huỳnh ($Fe/S$) và nhân corrinoid.
Phương pháp nghiên cứu
Luận án kết hợp đồng thời phương pháp sinh học phân tử hiện đại, phương pháp vi sinh vật học thực nghiệm và phương pháp hóa phân tích:
- Phương pháp sinh học phân tử:
- Tách chiết DNA tổng số trực tiếp từ mẫu đất hiện trường và mẫu nuôi cấy làm giàu.
- Kỹ thuật Nested-PCR sử dụng các cặp mồi đặc hiệu khuếch đại đoạn gene 16S rRNA của vi khuẩn khử sulfate, Dehalococcoides và gene chức năng rdhA.
- Điện di trên gel biến tính (DGGE) với gradient biến tính thích hợp (sử dụng cặp mồi DCC305f/DSV838r cho KSF và các mồi chuyên biệt cho Dehalococcoides) để phân tích cấu trúc và thành phần loài vi khuẩn.
- Tách dòng, giải trình tự đoạn gene 16S rRNA và xây dựng cây phát sinh chủng loại (phylogenetic tree).
- Phương pháp Metagenomics: Giải trình tự hệ gene metagenome trực tiếp trên hệ thống máy Roche 454 GS Junior; xử lý và lắp ráp chuỗi nucleotide bằng phần mềm Newbler; phân tích chú giải chức năng và phân loại vi sinh vật qua hệ thống MG-RAST.
- Phương pháp vi sinh vật học thực nghiệm:
- Nuôi cấy làm giàu vi khuẩn kỵ khí trên môi trường khoáng chuyên dụng bổ sung dịch chiết đất ô nhiễm (DCĐ), 2,4,5-T và 2,4-DCP trong điều kiện kỵ khí nghiêm ngặt.
- Đánh giá động thái số lượng vi sinh vật bằng phương pháp đếm số ống có thể nhất (MPN) và đếm khuẩn lạc sống.
- Đánh giá ảnh hưởng của các yếu tố môi trường (nhiệt độ từ 20–45°C, pH từ 5,0–9,0, nồng độ NaCl từ 0–5%, nguồn carbon khác nhau, nồng độ dịch chiết đất và các hợp chất clo hữu cơ) lên sự sinh trưởng của quần xã vi khuẩn khử sulfate.
- Làm sạch và quan sát hình thái tế bào vi khuẩn kỵ khí dưới kính hiển vi.
- Phương pháp hóa học:
- Chiết tách chất diệt cỏ/dioxin từ mẫu đất và môi trường nuôi cấy.
- Phân tích định tính và định lượng 2,4-DCP, 2,4,5-T bằng phương pháp sắc ký lỏng hiệu năng cao (HPLC).
- Phân tích xác định 17 đồng phân PCDD/Fs và tính toán tổng độ độc tương đương (TEQ) bằng phương pháp sắc ký khí khối phổ phân giải cao (HRGC/HRMS).
Nguồn tư liệu và dữ liệu
Dữ liệu phân tích gồm mẫu đất lấy từ các vị trí xử lý tại sân bay Đà Nẵng, 16 mẫu đất thu từ lô chôn lấp tích cực 3.384 m³ tại khu Z1 sân bay Biên Hòa sau 36 tháng xử lý; tập dữ liệu metagenome phân tích từ mẫu làm giàu 12 tháng; các phổ sắc ký HPLC và dữ liệu phân tích khối phổ GC/MS đo độ độc tồn lưu.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Chương này tổng quan toàn diện các tư liệu khoa học về đặc điểm cấu tạo, tính chất lý hóa, thời gian bán hủy và độ độc của các hợp chất hữu cơ chứa clo (chất diệt cỏ phenoxy 2,4-D, 2,4,5-T; các đồng phân PCDD/Fs; PCB, HCB, TCE, PCE). Trình bày chi tiết thực trạng ô nhiễm dioxin tại các căn cứ quân sự cũ ở Việt Nam (Biên Hòa, Đà Nẵng, Phù Cát). Phân tích chi tiết 4 cơ chế phân hủy sinh học chất hữu cơ chứa clo ở điều kiện hiếu khí và kỵ khí; làm rõ vai trò sinh lý của 3 nhóm vi khuẩn hô hấp clo (Firmicutes, Proteobacteria, Chloroflexi), cấu trúc hệ enzyme RdhA và sự đa dạng các gene chức năng (rdhA, tfdA, dioxygenase). Khái quát các phương pháp đánh giá đa dạng vi sinh vật trong đất từ phương pháp nuôi cấy truyền thống đến sinh học phân tử và Metagenomics.
Chương 2. Vật liệu và phương pháp nghiên cứu
Mô tả chi tiết nguồn gốc mẫu đất từ các lô xử lý tại sân bay Đà Nẵng và Biên Hòa. Bảng trình tự các cặp mồi oligonucleotide đặc hiệu sử dụng trong phản ứng PCR, Nested-PCR và DGGE. Liệt kê hóa chất, thiết bị máy móc, công thức pha chế môi trường nuôi cấy kỵ khí và các dung dịch đệm. Quy trình chiết tách DNA tổng số, quy trình đổ gel và chạy DGGE theo nồng độ chất biến tính. Quy trình làm giàu quần xã vi khuẩn kỵ khí, vi khuẩn khử sulfate trên cơ chất dịch chiết đất, 2,4,5-T, 2,4-DCP. Quy trình thử nghiệm sinh lý sinh thái, kỹ thuật làm sạch chủng vi khuẩn BDN10T. Phương pháp giải trình tự metagenome bằng hệ thống Roche 454 GS Junior, xử lý dữ liệu bằng Newbler và MG-RAST; phương pháp phân tích sắc ký HPLC và GC/MS.
Chương 3. Kết quả và thảo luận
Chương 3 trình bày các số liệu thực nghiệm thu được từ quá trình nghiên cứu cấu trúc quần xã, thử nghiệm sinh học và hiệu quả phân hủy hóa học:
- Đa dạng vi khuẩn loại khử clo trong các lô xử lý: Phân tích Nested-PCR và DGGE xác định sự có mặt đồng thời của vi khuẩn khử sulfate và Dehalococcoides trong các mẫu đất xử lý tại Đà Nẵng và Biên Hòa. Phân tích phát sinh chủng loại dựa trên đoạn 16S rRNA ghi nhận các dòng vi khuẩn khử sulfate có quan hệ gần gũi với Desulfovibrio, Desulfococcus, Desulfitobacterium, và các dòng Dehalococcoides thuộc các phân nhóm Cornell, Victoria.
- Phân tích Metagenome mẫu làm giàu vi khuẩn kỵ khí: Mẫu làm giàu từ 16 vị trí đất lô xử lý Biên Hòa sau 36 tháng được phân tích hệ gene metagenome bằng máy Roche 454 GS Junior và chú giải qua MG-RAST. Kết quả ghi nhận tập đoàn vi sinh vật đa dạng với sự chiếm ưu thế của Proteobacteria, trong đó chi Pseudomonas chiếm tỷ lệ cao nhất. Đã phát hiện hàng loạt gene chức năng mã hóa enzyme chuyển hóa vòng thơm và loại halogen như haloacid dehalogenase, reductive dehalogenase (rdhA), dioxygenase, hydrolase.
- Đặc điểm sinh thái của quần xã vi khuẩn khử sulfate: Quần xã vi khuẩn khử sulfate làm giàu từ Đà Nẵng và Biên Hòa sinh trưởng tối ưu ở nhiệt độ 30–37°C, pH 7,0–7,5, nồng độ NaCl 0,5–1,0%, thích ứng tốt khi sử dụng nguồn carbon là lactate, pyruvate và chịu được nồng độ dịch chiết đất cũng như các chất cơ clo ở mức xác định. Phân lập và làm sạch thành công chủng vi khuẩn khử sulfate BDN10T từ mẫu Đà Nẵng.
- Khả năng phân hủy và chuyển hóa các hợp chất diệt cỏ/dioxin: Quần xã vi khuẩn kỵ khí làm giàu từ đất Biên Hòa sau thời gian nuôi cấy đã làm giảm 55,7% tổng độ độc TEQ trên mẫu đất ô nhiễm ban đầu có độ độc rất cao (41.265 ng TEQ/kg đất khô), phân hủy đáng kể các đồng phân dioxin/furan từ 4 đến 8 clo, đặc biệt là 2,3,7,8-TCDD và OCDD. Quần xã vi khuẩn làm giàu và chủng làm sạch BDN10T chuyển hóa hiệu quả 2,4,5-T và sản phẩm trung gian 2,4-DCP, 2,4,5-TCP.
Dưới đây là bảng tổng hợp các nhóm vi khuẩn và khả năng phân hủy hợp chất clo hữu cơ được ghi nhận trong nghiên cứu:
| Đối tượng nghiên cứu / Nhóm vi khuẩn |
Nhóm hô hấp loại clo |
Phương pháp phát hiện / Phân tích |
Cơ chất chuyển hóa / Phân hủy ghi nhận |
Hiệu quả / Đặc điểm sinh học chính |
| Dehalococcoides spp. (nhóm Cornell, Victoria) |
Hô hấp loại clo bắt buộc |
Nested-PCR, DGGE, giải trình tự 16S rRNA |
PCDD/Fs, 2,4,5-T, 2,4-DCP |
Tồn tại trong các lô xử lý; mang các gene rdhA tham gia khử clo |
| Dehalogenimonas spp. |
Hô hấp loại clo bắt buộc |
Metagenomics (Roche 454, MG-RAST) |
Hợp chất mạch thẳng và vòng chứa clo |
Hiện diện trong metagenome mẫu làm giàu đất Biên Hòa |
| Vi khuẩn khử sulfate (Desulfovibrio, Desulfitobacterium, Desulfococcus) |
Hô hấp loại clo không bắt buộc |
Nested-PCR, DGGE, nuôi cấy kỵ khí |
2,4,5-T, 2,4-DCP, dịch chiết đất ô nhiễm |
Sinh trưởng tối ưu ở 30–37°C, pH 7,0–7,5; sử dụng lactate/pyruvate |
| Chủng vi khuẩn KSF BDN10T |
Hô hấp loại clo không bắt buộc |
Phân lập, làm sạch, giải trình tự 16S rRNA, HPLC |
2,4-DCP, 2,4,5-TCP |
Chuyển hóa và làm giảm nồng độ các chất chlorophenol trung gian |
| Pseudomonas spp. |
Loại clo đồng trao đổi chất |
DGGE, Metagenomics, nuôi cấy |
2,4-D, 2,4,5-T, PCDD/Fs, chlorocatechol |
Chiếm ưu thế lớn nhất trong metagenome mẫu làm giàu; mang gene tfdA, haloacid dehalogenase |
| Quần xã vi khuẩn kỵ khí làm giàu (từ đất Biên Hòa 36 tháng) |
Tập đoàn hỗn hợp (bắt buộc, không bắt buộc, đồng trao đổi chất) |
Nuôi cấy làm giàu 1 năm, HRGC/HRMS, HPLC, Metagenomics |
Đất ô nhiễm nặng (41.265 ng TEQ/kg đất khô), 17 đồng phân PCDD/Fs, 2,4,5-T |
Giảm 55,7% tổng độ độc TEQ; phân hủy đồng thời 2,3,7,8-TCDD, OCDD và các chlorophenol |
Chương 4. Bàn luận
Chương này bàn luận chuyên sâu về mối tương quan giữa động thái biến động quần xã vi khuẩn kỵ khí với hiệu suất khử độc chất diệt cỏ/dioxin trong quy trình chôn lấp tích cực. Tác giả luận giải cơ chế phối hợp trao đổi chất giữa ba nhóm vi khuẩn: nhóm đồng trao đổi chất (Pseudomonas) và vi khuẩn khử sulfate (Desulfovibrio, Desulfitobacterium) đóng vai trò tạo sinh khối, hạ thế oxy hóa khử và chuyển hóa bước đầu; nhóm hô hấp loại clo bắt buộc (Dehalococcoides, Dehalogenimonas) sử dụng $H_2$ làm chất cho điện tử để khử clo ở các vị trí bền vững trên khung dioxin. Đối chiếu dữ liệu metagenomics với các nghiên cứu quốc tế để làm sáng tỏ sự phân bố đa dạng của các cụm gene rdhA, haloacid dehalogenase và dioxygenase trong điều kiện thực địa tại Việt Nam.
Kết quả và những đóng góp mới
Những đóng góp mới của luận án
- Đây là công trình đầu tiên tại Việt Nam làm giàu thành công quần xã vi khuẩn kỵ khí hô hấp loại khử clo từ đất chôn lấp tích cực xử lý chất diệt cỏ/dioxin. Quần xã làm giàu bao gồm đầy đủ cả ba nhóm chức năng: nhóm hô hấp loại khử clo bắt buộc (Dehalococcoides, Dehalogenimonas); nhóm hô hấp loại khử clo không bắt buộc (Desulfitobacterium, Desulfovibrio, Desulfococcus, Anaeromyxobacter); và nhóm hô hấp loại khử clo đồng trao đổi chất (Pseudomonas, Clostridium, Shewanella), trong đó Pseudomonas chiếm ưu thế.
- Đã đánh giá định lượng khả năng phân hủy và chuyển hóa làm giảm 55,7% tổng độ độc TEQ trên mẫu đất ô nhiễm rất nặng (41.265 ng TEQ/kg đất khô) bởi quần xã vi khuẩn kỵ khí. Đánh giá được hiệu suất phân hủy 17 đồng phân PCDD/PCDF, 2,4,5-T và các sản phẩm phân hủy sinh học trung gian (2,4,5-TCP, 2,4-DCP) bởi quần xã vi khuẩn kỵ khí cũng như bởi chủng vi khuẩn khử sulfate BDN10T đã được làm sạch.
- Lần đầu tiên tại Việt Nam áp dụng công cụ Metagenomics để đánh giá sự đa dạng quần xã vi khuẩn kỵ khí và xác định các nhóm gene chức năng (rdhA, haloacid dehalogenase, dioxygenase...) tham gia vào chuỗi phân hủy và chuyển hóa chất diệt cỏ/dioxin trong mẫu làm giàu 1 năm từ đất sau 36 tháng xử lý tại sân bay Biên Hòa.
Kiến nghị và giải pháp đề xuất
- Đề xuất tiếp tục tối ưu hóa quy trình nuôi cấy và bảo tồn tập đoàn vi khuẩn kỵ khí hô hấp loại clo có hoạt tính cao nhằm phục vụ nhân giống quy mô lớn.
- Kiến nghị ứng dụng kết hợp quần xã vi khuẩn kỵ khí hô hấp loại clo đã được làm giàu vào các quy trình công nghệ sinh học chôn lấp tích cực quy mô lớn tại các vùng đất ô nhiễm dioxin còn lại ở Việt Nam nhằm rút ngắn thời gian xử lý và nâng cao hiệu quả khử độc hoàn toàn.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của luận án:
- Nghiên cứu tập trung chủ yếu trên các mẫu đất và mẫu làm giàu thu thập từ các lô xử lý chôn lấp tích cực tại sân bay Biên Hòa và Đà Nẵng, chưa mở rộng phân tích toàn diện trên các mẫu đất ô nhiễm thuộc các điểm nóng khác như Phù Cát.
- Việc phân lập thuần khiết các chủng vi khuẩn hô hấp loại clo kỵ khí bắt buộc (Dehalococcoides) gặp rào cản sinh học lớn do đặc tính phụ thuộc cộng sinh dinh dưỡng nghiêm ngặt trong quần xã, do đó các đánh giá chuyển hóa chủ yếu thực hiện trên mẫu tập đoàn làm giàu hoặc chủng vi khuẩn khử sulfate dễ nuôi cấy (BDN10T).
Hướng nghiên cứu tiếp theo:
- Tiếp tục nghiên cứu phân lập thuần khiết và giải mã chi tiết các gene rdhA đặc thù của các chủng Dehalococcoides bản địa.
- Thử nghiệm bổ sung các chất cho điện tử thích hợp ($H_2$, lactate, formate) và các đồng yếu tố (vitamin B12) nhằm thúc đẩy tối đa tốc độ loại clo kỵ khí của quần xã vi sinh vật trong điều kiện xử lý thực tế ngoài hiện trường.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn cao cho các đối tượng và lĩnh vực sau:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên các chuyên ngành Vi sinh vật học, Công nghệ sinh học, Sinh học môi trường và Khoa học môi trường: Tham khảo cơ sở lý luận về cơ chế hô hấp loại clo kỵ khí, các con đường phân hủy sinh học dioxin và các hợp chất phenoxy.
- Giảng viên và cán bộ nghiên cứu: Tham khảo phương pháp luận kết hợp giữa vi sinh học truyền thống với sinh học phân tử hiện đại (Nested-PCR, DGGE) và công cụ Metagenomics (nền tảng Roche 454, Newbler, MG-RAST) trong nghiên cứu hệ vi sinh vật đất không nuôi cấy được.
- Cơ quan quản lý, các nhà khoa học và chuyên gia môi trường/quân đội: Cung cấp số liệu thực nghiệm khoa học phục vụ thiết kế, vận hành và tối ưu hóa các quy trình công nghệ xử lý đất ô nhiễm chất độc hóa học/dioxin tồn lưu sau chiến tranh bằng biện pháp phân hủy sinh học tại Việt Nam.
Câu hỏi thường gặp
1. Quần xã vi khuẩn kỵ khí làm giàu từ đất lô xử lý Biên Hòa gồm những nhóm chức năng nào và chi nào chiếm ưu thế?
Quần xã vi khuẩn kỵ khí làm giàu bao gồm đủ 3 nhóm chức năng: nhóm hô hấp loại clo bắt buộc (Dehalococcoides, Dehalogenimonas); nhóm hô hấp loại clo không bắt buộc (Desulfitobacterium, Desulfovibrio, Desulfococcus, Anaeromyxobacter); và nhóm loại clo đồng trao đổi chất (Pseudomonas, Clostridium, Shewanella). Trong đó, chi Pseudomonas chiếm tỷ lệ ưu thế lớn nhất trong dữ liệu metagenome.
2. Hiệu suất khử độc dioxin của quần xã vi khuẩn kỵ khí làm giàu đạt được mức độ nào trên mẫu đất ô nhiễm nặng?
Trên mẫu đất ô nhiễm rất nặng có tổng độ độc ban đầu là 41.265 ng TEQ/kg đất khô, quần xã vi khuẩn kỵ khí làm giàu đã phân hủy và chuyển hóa làm giảm 55,7% tổng độ độc TEQ, phân hủy đồng thời 17 đồng phân PCDD/PCDF, trong đó có hai đồng phân chính là 2,3,7,8-TCDD và OCDD.
3. Các yếu tố môi trường ảnh hưởng như thế nào đến sinh trưởng của quần xã vi khuẩn khử sulfate trong nghiên cứu?
Quần xã vi khuẩn khử sulfate làm giàu từ Đà Nẵng và Biên Hòa sinh trưởng tốt nhất ở điều kiện nhiệt độ 30–37°C, khoảng pH trung tính 7,0–7,5, nồng độ muối NaCl từ 0,5–1,0%, sử dụng tốt nguồn carbon hữu cơ là lactate và pyruvate, đồng thời duy trì khả năng sinh trưởng trong môi trường chứa dịch chiết đất ô nhiễm và các chất cơ clo ở nồng độ xác định.
4. Công cụ Metagenomics đã phát hiện những nhóm gene chức năng quan trọng nào trong mẫu làm giàu?
Phân tích Metagenomics trên hệ thống Roche 454 GS Junior và MG-RAST đã xác định sự hiện diện của các nhóm gene reductive dehalogenase (rdhA), haloacid dehalogenase, các gene mã hóa enzyme cắt vòng thơm dioxygenase, ring-hydroxylating complex, hydrolase và các enzyme liên quan đến quá trình chuyển hóa các hợp chất vòng thơm chứa clo.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Thị Tâm Thư đã làm sáng tỏ cấu trúc và sự đa dạng của quần xã vi khuẩn kỵ khí hô hấp loại clo cũng như các hệ gene chức năng liên quan trong các lô xử lý đất ô nhiễm chất diệt cỏ/dioxin tại Đà Nẵng và Biên Hòa. Công trình đã làm giàu thành công tập đoàn vi khuẩn kỵ khí đa dạng có khả năng làm giảm 55,7% độ độc TEQ trên đất ô nhiễm nặng và chứng minh vai trò chuyển hóa của các chủng vi khuẩn khử sulfate làm sạch. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học và dữ liệu thực nghiệm quan trọng, khẳng định tiềm năng ứng dụng công nghệ phân hủy sinh học trong việc xử lý triệt để các điểm nóng ô nhiễm dioxin tồn lưu tại Việt Nam.