MỞ ĐẦU Ngành công nghiệp chế biến dầu mỏ của các nƣớc trên thế giới trong đó có Việt Nam đã và đang phát triển không ngừng. Tuy nhiên cùng với sự phát triển của ngành này là tình trạng ô nhiễm môi trƣờng do ảnh hƣởng của các chất thải có nhiễm dầu. Các hiện tƣợng tràn dầu, rò rỉ dầu gây ô nhiễm nghiêm trọng cho môi trƣờng, làm hủy hoại hệ sinh thái động thực vật và ảnh hƣởng trực tiếp đến đời sống con ngƣời, trong đó ô nhiễm môi trƣờng nƣớc do dầu gây ra đƣợc xem là vấn đề đáng lo ngại bởi tốc độ lan truyền, quy mô ảnh hƣởng rộng và thời gian tác động lâu dài. Ngoài những sự cố kể trên thì vấn đề bảo quản xăng dầu của các kho chứa cũng nhƣ tại các cây xăng cũng có một số lƣợng xăng dầu không nhỏ gây ảnh hƣởng đến môi trƣờng xung quanh các kho chứa và các cây xăng đó.
Đứng trƣớc những hiểm họa do ô nhiễm dầu mỏ và các sản phẩm của nó, để có thể giải quyết một cách triệt để đòi hỏi phải có sự kết hợp nghiên cứu của nhiều nhà khoa học, công nghệ và các nhà quản lý môi trƣờng cũng nhƣ sự hợp tác giữa các đơn vị vận chuyển, kinh doanh và sử dụng sản phẩm từ dầu mỏ. Với mục tiêu góp phần bảo vệ môi trƣờng, ngoài việc tránh các hiện tƣợng rò rỉ dầu ra bên ngoài thì việc xử lý nƣớc thải có nhiễm dầu đƣợc đặc biệt quan tâm chú ý. Hiện nay, phân hủy sinh học (biodegradation)đã đƣợc áp dụng rộng rãi đối với xử lý ô nhiễm dầu và các chất độc hóa học cũng nhƣ các chất ô nhiễm khác. Bản chất của công nghệ phân hủy sinh học là kích thích sự phát triển của vi sinh vật bản địa có khả năng phân hủy dầu hoặc các chất gây ô nhiễm khác có sẵn trong tự nhiên, bằng cách thay đổi các yếu tố môi trƣờng nhƣ độ thông khí, các chất dinh dƣỡng, nguồn nitơ, phốt pho, các chất vi lƣợng, các chất hoạt động bề mặt sinh học …v.
Các yếu tố này có ý nghĩa là tạo ra điều kiện tối ƣu để các vi sinh vật sử dụng các thành phần dầu mỏ phát triển và Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.vn/ 2 hoạt động phân hủy để góp phần xử lý ô nhiễm dầu DO (diesel oil)để góp phần giải quyết vấn đề ô nhiễm dầu DO xung quanh các kho, bể chứa các cây xăng dầu, chúng tôi đã tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu khả năng phân hủy dầu diesel của các chủng vi khuẩn phân lập tại cây xăng Việt Hoàng huyện Phú lương tỉnh Thái Nguyên” * Mục tiêu nghiên cứu: Tuyển chọn đƣợc một số chủng vi sinh vật có khả năng phân hủy dầu DO ( diesel )cao phục vụ cho công nghệ xử lý nƣớc thải xung quanh các bể chứa hay các cây xăng dầu bằng phƣơng pháp phân hủy sinh học. * Nội dung nghiên cứu: - Lấy mẫu, làm giàu, phân lập và tuyển chọn các chủng vi khuẩn có khả năng sử dụng dầu DO. - Quan sát hình thái khuẩn lạc và hình dạng tế bào vi khuẩn. - Phân loại bằng sinh học phân tử.
- Nghiên cứu ảnh hƣởng của các điều kiện pH, nồng độ muối NaCl lên khả năng phân hủy dầu DO. - Đánh giá khả năng phân hủy dầu DO của chủng vi khuẩn phân lập đƣợc ở điều kiện tối ƣu. Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.vn/ 3 CHƢƠNG II TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Đặc điểm chung của dầu mỏ 2.1 Cấu trúc hóa học và đặc điểm của dầu mỏ: Dầu mỏ là chất lỏng sánh, có màu từ vàng sáng đến đen, có mùi đặc trƣng, nhẹ hơn nƣớc và có nhiệt độ sôi thấp hơn 2500C [1].
Khi dầu tràn ra sẽ nổi trên mặt nƣớc và có xu hƣớng loang ra xung quanh, tạo thành lớp bao phủ trên mặt nƣớc hình thành một lớp dầu bóng và dễ bay hơi. Sóng và gió làm cho dầu và nƣớc trộn lẫn vào nhau tạo thành nhũ dầu. Nhũ dầu có chứa hơn 70% nƣớc biển trở nên khá nhớt, làm tăng diện tích bề mặt do đó tạo điều kiện thuận lợi cho vi sinh vật (vsv)tấn công và phân hủy dầu một cách dễ dàng. Tuy nhiên, những khối nhũ quá lớn và dầu bị vón cục thì sẽ hạn chế sự phân hủy của vsv.
Nhƣ vậy đặc điểm lí học của dầu mỏ có ảnh hƣởng rất lớn đến quá trình phân hủy sinh học của chính bản thân nó [8], [22]. Dầu mỏ là một hỗn hợp các hợp chất hữu cơ gồm hai thành phần chủ yếu là hydrocarbon và thành phần phân cực, trong đó các hợp chất hydrocarbon chiếm 60% đến 90% trong dầu thô. Hydrocarbon chia thành 2 loại: hydrocarbon no và hydrocarbon thơm. Hydrocarbon no gồm các n- alkan mạch thẳng, n- alkan mạch nhánh và hydrocarbon no mạch vòng.
Hydrocarbon thơm gồm có hydrocarbon thơm đơn nhân nhƣ Toluen, Benzen, Ethylbenzen, Xylen ( TBEX )v. và hydrocarbon thơm đa nhân ( polycyclic aromatic hydrocarbon – PAH )[1], [8], [27], [28]. Theo các nghiên cứu về dầu thô ở Poncacity, Oklahoma đã tách đƣợc trên 200 loại hydrocarbon trong đó bao gồm các n -parafin ( từ C1 đến C32), 4 hexan phân nhánh, 8 heptan trong đó có 6 phân nhánh 15 octan phân nhánh. Ngoài ra, có thể có tất cả các đồng phân C8; C9 của alkylbenzen.
Thành phần phân cực gồm Asphalten và Resin, đây là các hợp chất có chứa nitơ, lƣu huỳnh, oxy và cacbon. Asphalten gồm Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.vn/ 4 có Phenol, Axit béo, Keton, Este hydrocarbon có nhân Porphyrin và Resin bạo hàm các Pyridin, Quinolin, Sylgoxyt, Sulfoxyt và Amit [25]. Dầu mỏ và các sản phẩm có nguồn gốc dầu mỏ thƣờng có thành phần các phân đoạn khác nhau. Dầu thô, dầu nhiên liệu ( FO)thƣờng có hàm lƣợng cao thành phần phân cực, trong khi đó dầu diezen ( DO), xăng thƣờng có thành phần chính là các hydrocarbon no [1], [2], [16].
Cấu tạo của hydrocarbon trong thành phần dầu mỏ cũng ảnh hƣởng đến sự phân hủy dầu của vi sinh vật. Các alkan mạch thẳng dễ bị phân hủy nhất, sau đó đến alkan mạch nhánh, tiếp đến là hydrocarbon thơm có trọng lƣợng phân tử thấp, rồi đến hydrocarbon thơm có trọng lƣợng phân tử lớn và cuối cùng là các hợp chất phân cực [l], [36]. Trong các alkan mạch thẳng các alkan có độ dài từ C10 đến C24 thƣờng đƣợc phân hủy nhanh nhất, các chuỗi dài hơn thƣờng khó phân hủy, các chuỗi ngắn hơn gây độc cho các vi sinh vật nhƣng chúng lại dễ bay hơi. Riêng các alkan có trọng lƣợng phân tử lớn hơn 500 thì hoàn toàn không đƣợc các vi sinh vật sử dụng [27].
So với hydrocarbon no các hợp chất hydrocarbon thơm thƣờng đƣợc sử dụng chậm hơn và đặc biệt với hydrocarbon đa nhân [12], [ 20]. Tuy nhiên mức độ so sánh khả năng phân hủy chỉ mang tính tƣơng đối.2 Các sản phẩm từ dầu mỏ: Các sản phẩm thƣơng phẩm của dầu mỏ đƣợc chia làm các loại sau: nhiên liệu cho động cơ xăng, nhiên liệu cho động cơ diesel, nhiên liệu cho động cơ phản lực, nhiên liệu đốt lò, bitum [9]. Nhiên liệu dùng cho động cơ xăng đƣợc gọi là xăng, đây là một hỗn hợp chứa nhiều các hợp chất khác nhau. Khi nghiên cứu về thành phần hoá học của dầu mỏ, phân đoạn dầu mỏ nói chung hay của xăng thƣơng phẩm nói riêng ngƣời ta thƣờng chia thành phần của nó thành hai nhóm chất chủ yếu đó là các hợp chất hydrocacbon và các hợp chất phi hydrocacbon.
Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.vn/ 5 Thành phần hoá học chính của xăng là các hydrocacbon có số nguyên tử từ C4 ÷ C10 thậm chí có cả các hydrocacbon nặng hơn nhƣ C11; C12 và cả C13. Ngoài ra trong thành phần hoá học của xăng còn chứa một hàm lƣợng nhỏ các hợp chất phi hydrocacbon của lƣu huỳnh, nitơ và oxy. Với số nguyên tử cacbon nhƣ trên, trong thành phần của xăng chứa đầy đủ cả ba họ hydrocacbon và hầu nhƣ các chất đại diện cho các họ này đều tìm thấy trong xăng. Nhiên liệu cho động cơ xăng là một sản phẩm quan trọng của nhà máy lọc dầu, nó đã trở thành một mặt hàng quen thuộc trong đời sống sinh hoạt hàng ngày của con ngƣời cũng nhƣ hoạt động sản xuất trong công nghiệp [7].
Nhiên liệu cho động cơ phản lực: Nhiên liệu cho động cơ phản lực là một loại nhiên liệu đƣợc sử dụng cho các động cơ trên máy bay phản lực, loại động cơ này làm việc trong điều kiện rất đặc biệt ( nhiệt độ và áp suất môi trƣờng thấp, ở độ cao lớn).Vì vậy nhiên liệu cho nó đòi hỏi một sự khắt khe nhất trong tất cả các loại phƣơng tiện giao thông [7]. Nhiên liệu đốt lò: sản phẩm dầu mỏ ( GPL, dầu đốt, cốc )đƣợc sử dụng khi cần cung cấp nhiệt cho một quá trình nào đó.Dầu đốt có hai loại là dầu đốt nặng và dầu đốt nhẹ. Dầu đốt nhẹ đƣợc dùng chủ yếu để sƣởi ấm nhà cửa tại vùng nông thôn, để chạy các nhà máy nông nghiệp nhƣ máy kéo, máy làm đƣờng do đó có tên là dầu đốt gia đình FOD ( Fuel Oil Domestic ).Về cơ bản không khác nhiều nhiên liệu diezen, nhƣng có một số tính chất kỹ thuật kém hơn, đặc biệt về trị số cetan, về tính chất nhiệt độ thấp. Tuy nhiên, ở nƣớc ta tính chất nhiệt độ thấp của FOD không phải là vấn đề cần quan tâm.
Dầu đốt nặng dùng cho các lò công nghiệp, các lò nung, lò hơi, nhà máy phát điện, các phƣơng tiện giao thông trọng tải lớn nhƣ tàu thủy. Trong các lĩnh vực trên thì dầu đốt nặng đƣợc sử dụng nhiều nhất cho việc cung cấp nhiệt ở các lò công nghiệp nên thƣờng hay gọi chung là nhiên liệu đốt lò. Ở trong phần này chúng tôi chỉ nghiên cứu nhiên liệu đốt lò ở trạng thái lỏng và thu đƣợc từ dầu mỏ. Thành phần của nhiên liệu đốt lò là một hỗn hợp phức tạp bao gồm những Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.vn/ 6 hợp chất có trọng lƣợng phân tử lớn, chúng có mặt trong dầu thô ban đầu hay đƣợc sinh ra từ các quá trình chuyển hoá sâu.
Cấu trúc của các hợp chất này rất phức tạp vì vậy việc phân tách chúng thành các hợp chất riêng lẻ hay các họ nhƣ khi nghiên cứu đối với các phân đoạn nhẹ là rất khó khăn và không có nhiều ý nghĩa thực tiễn [7]. Nhiên liệu động cơ diesel: Nhiên liệu diesel là một loại nhiên liệu lỏng, nặng hơn dầu hỏa và xăng, sử dụng cho động cơ diesel ( đƣờng bộ, đƣờng sắt, đƣờng thủy)và một phần đƣợc sử dụng cho các loại máy móc công nghiệp nhƣ tuabin khí, máy phát điện, máy móc xây dựng.