Tổng quan luận án

Ô nhiễm chất diệt cỏ chứa dioxin từ thời kỳ chiến tranh tại các điểm nóng như sân bay Biên Hòa, sân bay Đà Nẵng và sân bay Phù Cát là vấn đề môi trường phức tạp do độc tính cao và tính bền vững của các hợp chất cơ clo đa vòng thơm. Phương pháp phân hủy sinh học (bioremediation) thông qua công nghệ chôn lấp tích cực đã được thử nghiệm và ứng dụng thực tế ở quy mô từ 0,5 $\text{m}^3$ đến 100 $\text{m}^3$ tại Đà Nẵng (đạt hiệu quả khử độc 50–70% sau gần 2 năm) và quy mô 3.384 $\text{m}^3$ tại Biên Hòa (đạt hiệu quả trên 99% sau 27 tháng). Tuy nhiên, cơ sở sinh học phân tử và vai trò của quần xã vi sinh vật kỵ khí tham gia hô hấp loại khử clo trong các khối ủ này chưa được làm sáng tỏ một cách hệ thống, đặc biệt là việc làm giàu và phân tích cấu trúc di truyền của các vi khuẩn kỵ khí bắt buộc. Luận án của nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Tâm Thư tập trung giải quyết khoảng trống này nhằm cung cấp luận cứ khoa học về thành phần loài và các gene chức năng tham gia phân giải chất độc.

Mục tiêu nghiên cứu của luận án được xác định gồm ba nội dung chính:

  1. Đánh giá sự đa dạng của vi khuẩn kỵ khí trong các lô xử lý chất diệt cỏ/dioxin và trong mẫu làm giàu vi khuẩn kỵ khí hô hấp loại khử clo bằng phương pháp sinh học phân tử.
  2. Đánh giá sự đa dạng các nhóm gene chức năng tham gia vào quá trình phân hủy và chuyển hóa các hợp chất chứa clo vòng thơm trong mẫu làm giàu quần xã vi khuẩn kỵ khí hô hấp loại clo từ mẫu đất lô xử lý tại Biên Hòa.
  3. Đánh giá khả năng phân hủy, chuyển hóa chất diệt cỏ/dioxin và các sản phẩm trung gian trong mẫu làm giàu bởi quần xã vi khuẩn kỵ khí hô hấp loại khử clo.

Đối tượng nghiên cứu là quần xã vi khuẩn kỵ khí (vi khuẩn khử sulfate, Dehalococcoides, Pseudomonas...), các dòng thuần phân lập, hệ gene metagenome và các gene chức năng mã hóa enzyme phân hủy hợp chất clo vòng thơm. Phạm vi nghiên cứu về không gian tập trung tại các lô xử lý phân hủy sinh học ở sân bay Đà Nẵng (lô 10 $\text{m}^3$, 100 $\text{m}^3$) và sân bay Biên Hòa (lô chôn lấp tích cực 3.384 $\text{m}^3$ tại khu vực Z1). Phạm vi thời gian bao gồm quá trình theo dõi các mốc xử lý thực địa (đến 36 tháng tại Biên Hòa) và quá trình làm giàu nhân tạo trong phòng thí nghiệm kéo dài 12 tháng.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án tổng quan hệ thống các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về hiện trạng ô nhiễm và cơ chế phân hủy các hợp chất hữu cơ chứa clo:

  • Về mức độ ô nhiễm và độc tính: Schecter (2006), Tas (2009), Wagner (2009) và Fennell (2004) đã phân tích tính bền vững và sự tích lũy sinh học của các hợp chất chlorophenoxy (2,4-D; 2,4,5-T), polychlorinated biphenyls (PCB) và polychlorodibenzo-p-dioxins/furans (PCDD/Fs). Tại Việt Nam, các báo cáo của Hatfield (2009, 2011), Báo cáo Văn phòng 33 và Bộ Tài nguyên và Môi trường (2006, 2012) chỉ ra rằng nồng độ 2,3,7,8-TCDD tại khu Z1 sân bay Biên Hòa lên tới 259.000 ppt và tại đầu Bắc sân bay Đà Nẵng lên tới 361.000 ppt, chiếm trên 90–99% tổng độ độc tương đương (TEQ).
  • Về cơ chế phân hủy sinh học: Reineke (2001) và Hiraishi (2003, 2008) phân định 4 con đường chuyển hóa: oxy hóa cắt vòng thơm, loại clo ở sản phẩm cắt vòng, phân giải nhờ enzyme ngoại bào (laccase, MnP, LiP do nấm tiết ra) và loại khử clo kỵ khí (hô hấp loại clo). Quá trình kỵ khí được xem là bước mở đầu giúp giảm số lượng nguyên tử clo trên khung phân tử đa vòng, tạo tiền đề cho các phản ứng khoáng hóa tiếp theo.
  • Về vi khuẩn hô hấp loại clo: Bunge và cộng sự (2003, 2008, 2009), Adrian (2007), Löffler và cộng sự (2013) đã chứng minh vai trò của Dehalococcoides mccartyi (các chủng 195, CBDB1, BAV1, FL2, VS, GT) trong việc loại clo của PCDD/Fs và chloroethene. Các nghiên cứu của Boyle và cộng sự (1995, 1999b), Sun (2000), Drzyzga và cộng sự (2001), Bisaillon và cộng sự (2010) mô tả hoạt tính của vi khuẩn khử sulfate (Desulfitobacterium, Desulfovibrio, Desulfomonile).
  • Các nghiên cứu tại Việt Nam: Đặng Thị Cẩm Hà (2005, 2009, 2012) cùng các cộng sự đã xây dựng công nghệ chôn lấp tích cực. Nguyễn Bá Hữu (2007c, 2008, 2009) sử dụng phương pháp DGGE và SSCP phát hiện sự có mặt của Dehalococcoides và Pseudomonas trong các lô xử lý tại Đà Nẵng. Nguyễn Thị Sánh (2005, 2007), La Thanh Phương (2005) và Phùng Khắc Huy Chú (2012) nghiên cứu khả năng đồng trao đổi chất của các chủng Pseudomonas bản địa.

Khoảng trống nghiên cứu được luận án xác định là việc thiếu hụt dữ liệu metagenomics về toàn bộ quần xã vi khuẩn kỵ khí và các cụm gene chức năng trong đất xử lý dioxin quy mô lớn ở Việt Nam, cũng như chưa có quy trình làm giàu thành công tập đoàn vi khuẩn kỵ khí chứa đầy đủ cả ba nhóm sinh lý hô hấp loại clo.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án dựa trên cơ sở lý thuyết về chuỗi chuyển hóa yếm khí các hợp chất cơ clo, trong đó các phân tử chứa clo đóng vai trò là chất nhận điện tử cuối cùng và hydro phân tử ($\text{H}_2$) hoặc các acid hữu cơ ngắn giữ vai trò chất cho điện tử. Quá trình khử clo được xúc tác chính bởi enzyme reductive dehalogenase (RdhA) nằm trong màng tế bào.

Nhóm vi khuẩn Đặc điểm sinh lý Đại diện điển hình
Hô hấp loại clo bắt buộc Chỉ thu năng lượng sinh trưởng từ quá trình khử clo; sử dụng $\text{H}_2$ làm chất cho điện tử; kỵ khí tuyệt đối. Dehalococcoides, Dehalogenimonas, Dehalobacter
Hô hấp loại clo không bắt buộc Có thể sử dụng cơ chất chứa clo hoặc các chất nhận điện tử vô cơ khác ($\text{SO}_4^{2-}$, $\text{S}_2\text{O}_3^{2-}$, $\text{NO}_3^-$). Desulfitobacterium, Desulfovibrio, Desulfococcus, Anaeromyxobacter
Đồng trao đổi chất Khử clo ngẫu nhiên song song với quá trình trao đổi chất; sống được ở điều kiện kỵ khí, vi hiếu khí hoặc hiếu khí. Pseudomonas, Clostridium, Shewanella

Hệ thống phương pháp thực nghiệm được triển khai đồng bộ:

  • Phương pháp sinh học phân tử: Tách chiết DNA tổng số trực tiếp từ đất và dịch nuôi cấy; khuếch đại phân đoạn gene 16S rRNA bằng kỹ thuật PCR và nested-PCR; phân tích cấu trúc quần thể bằng điện di trên gel biến tính (DGGE); nhân dòng và giải trình tự nucleotide; giải trình tự metagenome bằng hệ máy Roche 454 GS Junior và phân tích dữ liệu thông qua phần mềm Newbler cùng hệ thống máy chủ MG-RAST.
  • Phương pháp vi sinh vật: Nuôi cấy kỵ khí trong bình yếm khí chuyên dụng; làm giàu tập đoàn vi khuẩn hô hấp loại clo trên môi trường khoáng bổ sung dịch chiết đất ô nhiễm, 2,4,5-T và 2,4-DCP; phân lập và làm sạch vi khuẩn khử sulfate; khảo sát các yếu tố sinh thái ảnh hưởng đến sinh trưởng (nhiệt độ, pH, nồng độ $\text{NaCl}$, nguồn carbon, nồng độ dịch chiết đất); quan sát hình thái bằng kính hiển vi quang học và kính hiển vi điện tử.
  • Phương pháp hóa học: Định lượng các thành phần 2,4,5-T và 2,4-DCP bằng phương pháp sắc ký lỏng hiệu năng cao (HPLC); phân tích hàm lượng 17 đồng phân PCDD/Fs độc hại trên hệ thống sắc ký khí ghép khối phổ phân giải cao (HRGC/HRMS).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu

Chương này tổng hợp các cơ sở lý luận về cấu trúc, độc tính và con đường lan truyền của các chất diệt cỏ nhóm phenoxy và dioxin. Trình bày chi tiết đặc điểm hóa lý của 2,4-D, 2,4,5-T và 210 đồng phân dioxin (75 PCDD và 135 PCDF), trong đó nhấn mạnh đồng phân 2,3,7,8-TCDD có hệ số độc tính TEF quy ước bằng 1. Tổng quan phân tích sâu 4 cơ chế thoái hóa sinh học, so sánh hiệu quả giữa phân hủy hiếu khí và loại clo yếm khí. Phân tích chi tiết các nhóm vi khuẩn tham gia chuỗi hô hấp loại clo thuộc ba ngành Proteobacteria, Chloroflexi, Firmicutes và cấu trúc các gene rdhA mã hóa enzyme RdhA. Đồng thời, chương 1 điểm lại các kết quả xử lý đất nhiễm chất độc hóa học tại Đà Nẵng, Biên Hòa và xác định cơ sở khoa học để lựa chọn hướng tiếp cận vi sinh kỵ khí kết hợp metagenomics.

Chương 2. Vật liệu và phương pháp nghiên cứu

Mô tả chi tiết nguồn gốc các mẫu đất thu thập từ các ngăn của lô xử lý thử nghiệm tại sân bay Đà Nẵng (lô 10 $\text{m}^3$ và 100 $\text{m}^3$) và 16 vị trí lấy mẫu đại diện ở các độ sâu khác nhau từ lô xử lý chôn lấp tích cực 3.384 $\text{m}^3$ tại sân bay Biên Hòa sau 36 tháng vận hành. Liệt kê trình tự các cặp mồi chuyên biệt sử dụng trong nested-PCR và DGGE (bao gồm mồi đặc hiệu cho vi khuẩn khử sulfate DCC305f/DSV838r, mồi cho Dehalococcoides, mồi cho gene rdhA). Thiết lập công thức nồng độ chất biến tính trong gel DGGE, quy trình giải trình tự gen thế hệ mới trên máy Roche 454 GS Junior, cũng như quy trình chiết xuất và phân tích tồn lưu hóa chất trên HPLC và HRGC/HRMS.

Chương 3. Kết quả và thảo luận

Chương 3 trình bày toàn bộ các dẫn liệu thực nghiệm thu được:

  • Đa dạng vi khuẩn loại clo trong các lô xử lý: Bằng kỹ thuật nested-PCR và DGGE, tác giả chứng minh sự hiện diện liên tục của vi khuẩn khử sulfate và vi khuẩn Dehalococcoides trong các khối đất xử lý tại cả Đà Nẵng và Biên Hòa. Phân tích cây phát sinh chủng loại cho thấy các dòng vi khuẩn khử sulfate có quan hệ gần gũi với các chi Desulfovibrio, Desulfomicrobium, và các dòng Dehalococcoides tương đồng cao với nhóm chủng chuẩn Dehalococcoides mccartyi.
  • Phân tích Metagenomics mẫu làm giàu: Phân tích mẫu vi khuẩn kỵ khí làm giàu từ 16 vị trí đất Biên Hòa trên nền đất ô nhiễm nặng bằng máy Roche 454 GS Junior (qua Newbler và MG-RAST) đã định danh được tập đoàn vi sinh vật gồm đầy đủ cả ba nhóm hô hấp loại clo. Vi khuẩn thuộc ngành Proteobacteria chiếm tỷ lệ lớn, trong đó chi Pseudomonas chiếm ưu thế vượt trội, cùng với sự hiện diện của Dehalococcoides, Dehalogenimonas, Desulfitobacterium, Desulfovibrio, Desulfococcus, Clostridium, Shewanella.
Nhóm vi sinh vật / Gene chức năng Đặc điểm ghi nhận trong mẫu làm giàu
Proteobacteria (Pseudomonas) Chiếm ưu thế lớn trong dữ liệu metagenome; tham gia đồng trao đổi chất và phân giải vòng thơm.
Chloroflexi (Dehalococcoides) Nhóm hô hấp loại clo bắt buộc; mang các trình tự gene rdhA xúc tác khử clo ở vị trí nhân thơm.
Firmicutes (Desulfitobacterium, Clostridium) Tham gia khử clo không bắt buộc và lên men sinh $\text{H}_2$ cung cấp cho Dehalococcoides.
Hệ gene chức năng phân giải Phát hiện các gene haloacid dehalogenase, benzoyl-CoA reductase, dioxygenase, hydrolase.
  • Đặc điểm sinh học của vi khuẩn khử sulfate: Quần xã vi khuẩn khử sulfate sinh trưởng tối ưu ở dải nhiệt độ 30–37°C, pH 7,0–7,5, nồng độ $\text{NaCl}$ từ 0,5–1,0% và có khả năng chống chịu tốt với dịch chiết đất chứa độc chất. Chủng vi khuẩn khử sulfate thuần khiết ký hiệu BDN10T (phân lập từ mẫu đất Đà Nẵng) được xác định về hình thái tế bào que ngắn và trình tự đoạn 16S rRNA đặc hiệu.
  • Khả năng chuyển hóa và phân hủy độc chất:
    • Tập đoàn vi khuẩn kỵ khí làm giàu từ đất Biên Hòa làm giảm 55,7% tổng độ độc TEQ trên nền đất ô nhiễm ban đầu 41.265 ng TEQ/kg đất khô sau thời gian nuôi cấy.
    • Làm giảm rõ rệt hàm lượng của 17 đồng phân PCDD/Fs độc hại (đặc biệt là 2,3,7,8-TCDD và OCDD).
    • Quần xã vi sinh vật kỵ khí chuyển hóa thành công 2,4,5-T và sản phẩm trung gian 2,4-DCP; chủng BDN10T sau khi làm sạch thể hiện khả năng phân giải và chuyển hóa 2,4,5-TCP và 2,4-DCP trong điều kiện phòng thí nghiệm.

Chương 4. Bàn luận

Tác giả phân tích và tổng hợp mối quan hệ tương hỗ giữa các nhóm vi sinh vật trong hệ sinh thái kỵ khí nhân tạo. Luận án chỉ ra rằng quá trình phân hủy các chất hữu cơ chứa clo không diễn ra đơn độc bởi một chủng riêng lẻ mà đòi hỏi sự phối hợp trao đổi chất giữa nhiều nhóm: vi khuẩn lên men tạo $\text{H}_2$ và acid hữu cơ, vi khuẩn khử sulfate điều hòa thế oxy hóa khử và tham gia loại clo không bắt buộc, vi khuẩn Dehalococcoides thực hiện cắt nguyên tử clo ở các vị trí bền vững, và Pseudomonas thực hiện biến đổi cấu trúc vòng. Cấu trúc quần xã vi sinh vật này giải thích cho hiệu quả xử lý thực địa đạt trên 99% tại lô chôn lấp tích cực Biên Hòa và cung cấp cơ sở để tối ưu hóa công nghệ sinh học xử lý đất nhiễm chất độc hóa học.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án đã công bố các phát hiện khoa học và đóng góp mới gồm:

  1. Lần đầu tiên tại Việt Nam làm giàu thành công tập đoàn vi khuẩn kỵ khí hô hấp loại clo từ đất của lô chôn lấp tích cực quy mô lớn xử lý chất diệt cỏ/dioxin. Tập đoàn vi khuẩn này quy tụ đầy đủ cả ba nhóm sinh lý: nhóm bắt buộc (Dehalococcoides, Dehalogenimonas), nhóm không bắt buộc (Desulfitobacterium, Desulfovibrio, Desulfococcus, Anaeromyxobacter) và nhóm đồng trao đổi chất (Pseudomonas, Clostridium, Shewanella), trong đó Pseudomonas chiếm ưu thế.
  2. Đánh giá định lượng khả năng phân hủy độc chất trong điều kiện thực nghiệm: tập đoàn vi khuẩn kỵ khí làm giàu làm giảm 55,7% tổng độ độc TEQ trên mẫu đất ô nhiễm rất nặng (41.265 ng TEQ/kg đất khô). Xác định được khả năng phân hủy và chuyển hóa 17 đồng phân PCDD/Fs độc hại, 2,4,5-T, 2,4-DCP bởi quần xã vi khuẩn kỵ khí và khả năng chuyển hóa chlorophenol bởi chủng vi khuẩn khử sulfate BDN10T.
  3. Lần đầu tiên áp dụng công cụ Metagenomics để giải mã cấu trúc quần xã vi khuẩn kỵ khí và hệ thống các nhóm gene chức năng (rdhA, haloacid dehalogenase, các gene mã hóa enzyme chuyển hóa hợp chất vòng thơm) từ khối đất xử lý dioxin sau 36 tháng tại sân bay Biên Hòa.

Kiến nghị của luận án nhấn mạnh việc tiếp tục hoàn thiện kỹ thuật nuôi cấy nhằm duy trì tính ổn định của tập đoàn vi khuẩn kỵ khí làm giàu, hướng tới sản xuất chế phẩm sinh học phục vụ bổ sung vào các khối ủ xử lý đất nhiễm dioxin quy mô công nghiệp.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Văn bản luận án chỉ ra một số hạn chế gắn liền với đặc thù đối tượng nghiên cứu:

  • Các vi khuẩn kỵ khí hô hấp loại clo bắt buộc như Dehalococcoides có tốc độ sinh trưởng chậm, đòi hỏi điều kiện kỵ khí nghiêm ngặt và phụ thuộc chặt chẽ vào các chất chuyển hóa trung gian từ các vi sinh vật đồng hành (như nguồn vitamin $\text{B}_{12}$, khí $\text{H}_2$), dẫn đến khó khăn trong việc tách dòng thuần khiết từng loài riêng biệt.
  • Dữ liệu biểu hiện gene chức năng (rdhA) chủ yếu được khảo sát ở mức độ định tính và định danh trình tự metagenome, chưa định lượng chi tiết mức độ phiên mã (transcriptomics) của từng bản sao gene cụ thể dưới sự cảm ứng của từng đồng phân dioxin riêng lẻ.

Hướng nghiên cứu tiếp theo được đề xuất là tối ưu hóa môi trường nuôi cấy liên tục tập đoàn vi khuẩn kỵ khí, nghiên cứu sâu cơ chế điều hòa biểu hiện các cụm gene rdhA và thử nghiệm ứng dụng tập đoàn vi sinh vật làm giàu này vào các mô hình xử lý sinh học tăng cường (bioaugmentation) ngoài hiện trường.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu chuyên khảo có giá trị ứng dụng và tham khảo đối với nhiều đối tượng:

  • Nghiên cứu sinh, học viên và giảng viên chuyên ngành Vi sinh vật học, Công nghệ sinh học và Khoa học Môi trường: Tham khảo khung phương pháp luận kết hợp giữa vi sinh truyền thống (làm giàu, phân lập kỵ khí) và sinh học phân tử hiện đại (DGGE, nested-PCR, Metagenomics 454). Các dữ liệu về trình tự mồi và quy trình phân tích gene rdhA là tài liệu thực hành có giá trị cao.
  • Các nhà khoa học trong lĩnh vực công nghệ môi trường: Tiếp cận dẫn liệu thực nghiệm chi tiết về con đường phân hủy yếm khí các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân giải (POPs) và vai trò của vi khuẩn khử sulfate.
  • Cơ quan quản lý và đơn vị xử lý môi trường (Bộ Quốc phòng, Bộ Tài nguyên và Môi trường): Cung cấp cơ sở khoa học để đánh giá, kiểm soát và tối ưu hóa các thông số vận hành (độ ẩm, dinh dưỡng, điều kiện yếm khí) tại các bãi chôn lấp tích cực tẩy độc dioxin ở Biên Hòa và các địa bàn khác.

Câu hỏi thường gặp

1. Ba nhóm vi khuẩn kỵ khí tham gia hô hấp loại khử clo được xác định trong luận án gồm những chi đại diện nào?
Luận án xác định ba nhóm gồm: nhóm hô hấp loại clo bắt buộc (Dehalococcoides, Dehalogenimonas); nhóm hô hấp loại clo không bắt buộc (Desulfitobacterium, Desulfovibrio, Desulfococcus, Anaeromyxobacter); và nhóm loại clo đồng trao đổi chất (Pseudomonas, Clostridium, Shewanella), trong đó chi Pseudomonas chiếm tỷ lệ ưu thế nhất.

2. Quần xã vi khuẩn kỵ khí làm giàu từ đất Biên Hòa đạt hiệu suất khử độc bao nhiêu trên nền đất ô nhiễm?
Trong điều kiện thực nghiệm nuôi cấy trên nền đất ô nhiễm nặng có nồng độ ban đầu 41.265 ng TEQ/kg đất khô, tập đoàn vi khuẩn kỵ khí làm giàu đã phân hủy và chuyển hóa làm giảm 55,7% tổng độ độc tương đương (TEQ), đồng thời làm giảm nồng độ của cả 17 đồng phân PCDD/Fs.

3. Công cụ sinh học phân tử nào lần đầu tiên được luận án ứng dụng để phân tích mẫu đất xử lý chất diệt cỏ/dioxin tại Việt Nam?
Luận án lần đầu tiên ứng dụng công nghệ Metagenomics giải trình tự thế hệ mới trên hệ thống máy Roche 454 GS Junior, kết hợp xử lý dữ liệu bằng phần mềm Newbler và máy chủ MG-RAST để phân tích cấu trúc hệ thống vi khuẩn và các nhóm gene chức năng phân giải chất độc.

4. Chủng vi khuẩn khử sulfate thuần khiết BDN10T có nguồn gốc từ đâu và có hoạt tính gì?
Chủng BDN10T được phân lập và làm sạch từ mẫu đất của lô xử lý tại sân bay Đà Nẵng. Chủng này có tế bào hình que ngắn, thuộc nhóm vi khuẩn khử sulfate và có khả năng chuyển hóa, phân hủy các hợp chất chlorophenol như 2,4,5-TCP và 2,4-DCP.

5. Tại sao vi khuẩn Dehalococcoides giữ vai trò then chốt trong quá trình xử lý kỵ khí các hợp chất chứa clo?
Dehalococcoides là nhóm vi khuẩn hô hấp loại clo bắt buộc, mang nhiều bản sao gene rdhA mã hóa enzyme reductive dehalogenase, có khả năng khử các nguyên tử clo ở các vị trí bền vững trên khung phân tử đa vòng thơm (PCDD/Fs) và chuyển hóa hoàn toàn các hợp chất chloroethene (PCE, TCE) thành ethene không độc hại.

Kết luận

Luận án của nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Tâm Thư đã làm sáng tỏ cấu trúc đa dạng của quần xã vi khuẩn kỵ khí và hệ gene chức năng tham gia hô hấp loại clo trong các lô xử lý đất nhiễm chất diệt cỏ/dioxin tại sân bay Đà Nẵng và Biên Hòa. Bằng việc kết hợp phương pháp làm giàu vi sinh vật kỵ khí truyền thống với kỹ thuật sinh học phân tử tiên tiến và metagenomics, công trình đã xác lập thành công tập đoàn vi sinh vật bản địa có khả năng làm giảm 55,7% tổng độ độc TEQ trên nền đất ô nhiễm nặng. Các kết quả đạt được cung cấp luận cứ khoa học thực nghiệm vững chắc, khẳng định vai trò của vi khuẩn kỵ khí trong quy trình công nghệ phân hủy sinh học chất độc hữu cơ bền vững tại Việt Nam.