Chương 1 TONG QUAN 1. Téng quan tia calcite Calcite là khoáng chat carbonate được xem là dang bền nhất của CaCOs, là thành phần phô biến trong đá trầm tích, như đá vôi, phần lớn được tạo thành từ vỏ của các loài sinh vật biên đã chết. Xấp xi 10% đá trầm tích là đá vôi. Calcite là khoáng vật chính trong đá hoa biến chất, xuất hiện ở các mạch khoáng trong mỏ đá ở các suối nước nóng và thường tôn tại trong hang đá như là thạch nhũ và măng đá.
Calcite cũng có thể được thấy ở trong đá núi lửa, đá xuất xứ từ manti như carbonatite, kimberlite, nhưng tồn tại ít ở peridotite. Calcite thường là thành phần chính của vỏ các loài sinh vật biên, như sinh vật phù du (gai vôi và trùng có lỗ, phần cứng của tảo đỏ). Có hơn 300 loại calcite được tìm thấy với các dang và màu sắc khác nhau. Tinh thé calcite có dạng hình thoi nhọn đến tù, dạng phẳng, lăng trụ, hoặc hình tam giác lệch.
Ngoài ra, calcite cũng tồn tại đưới dang thé sợi, hình hộp, lát mỏng, hoặc khối đặc (Hazen và Robert, 2004). Màu sắc giao động từ vàng đồng, da cam, màu quả mâm xôi, hồng diệu đến tim hoa cà, nâu, xanh da trời và thậm chí xanh lá cây. Biến thé calcite trong suốt được gọi là “Calcite quang học” hay “Spat Aixolen”; loại tinh thé có tinh chất rất đặc biệt có thé “phân đôi” hình anh do các tính lưỡng chiết quang cao. Calcite giống như các muối carbonate, phần lớn sẽ bị hòa tan trong các loại acid và giải phóng khí carbon dioxide (Sharp và ctv, 1965).
Calcite cũng có thê bị hòa tan bởi nước ngầm hoặc lắng đọng bởi nước ngầm, điều này phụ thuộc vào các yếu tố như nhiệt độ nước (ít tan hơn trong nước khi nhiệt độ tăng), độ pH và nồng độ ion hòa tan (Sharp và ctv, 1965). Khi điều kiện hòa tan thuận lợi, việc loại bỏ calcite có thé làm tăng đáng ké độ xốp và độ thấm của đá. Khi điều này tiếp tục trong một thời gian dài, sự hình thành các hang động có thể xảy ra. Calcite cũng xuất hiện như một khoáng chat dang mach trong tram tích từ suối nước nóng và trong các hang động dưới dạng nhũ đá và măng đá như hang Snowy River Caver ở Lincoln County, New Mexico (River, 2004).
Cũng có thể thấy 2 mối liên hệ chặt chẽ giữa sự phát triển của vi sinh vật và sự kết tủa của các khoáng chat này, bao gồm các hồ hình tế bào (D) và vách ngăn (E); Mặc dù những tỉnh thể này đã được rửa sạch khỏi tế bào vi khuẩn trước SEM, nhưng sự liên kết chặt chẽ giữa vi khuẩn và tỉnh thể có thể được nhìn thấy bởi sự xuất hiện và tiếp tục bám cua tế bào với tinh thể (F) (Banks và ctv, 2010). Tong quan vi khuẩn tạo kết tủa calcite Quá trình khoáng hoá do sinh học tạo nên thường được thực hiện trong môi trường mở và quá trình này thường liên quan đến cấu trúc bề mặt tế bào vi sinh vật và các hoạt động trao đôi chất dẫn đến sự gia tăng độ kiềm của môi trường, do đó tạo điều kiện cho kết tủa calcite. Trong số các hoạt động trao đôi chất này, phô biến nhất là quá trình thuỷ phân urea được xúc tác bởi các enzyme urease. Tuy nhiên việc có được tinh thé calcite nhờ vi khuẩn phải chịu anh hưởng bởi đa yếu tố khác nhau, bao gồm: (i) nồng độ calcium, (11) nồng độ carbon hoà tan, (iii) độ pH của môi trường và (iv) các vị trí tâm hoạt động có sẵn trên bề mặt vi khuẩn (De Muynck và ctv, 2010).
Các yêu tô nông độ calcium, nông độ carbon hoà tan, độ pH của môi trường anh hưởng trực tiếp đến vi khuẩn cũng như quá trình tạo tủa calcite nên các chủng tiềm năng cần tìm phải đáp ứng được các yếu tô này. Ngoài ra, một số vấn đề khác phải được quan tâm đến khi tuyên chọn các chúng vi khuẩn sử dụng cho các thí nghiệm gồm có: (i) Tính an toàn của các chủng vi khuẩn, những vi khuẩn được chọn sử dung phục vụ con người phải an toàn sinh học và không gây bệnh, (ii) Có khả năng tồn tại lâu dai trong môi trường và chịu được các điều kiện khắc nghiệt trong vật liệu. Chính vì vậy, hiện nay khi sàng lọc các vi khuẩn tạo tủa calcite các nhà nghiên cứu ưu tiên hướng đến những vi khuẩn có khả năng tạo bào tử, bào tử vi khuẩn có thé tồn tại hàng trăm năm dưới dạng tiềm an qua giai đoạn khắc nghiệt và khi gặp điều kiện thuận lợi sẽ nảy mam va phát triển (Anbu và ctv, 2016). Một số chủng vi khuan có khả năng tạo tủa có thé kê đến như: Bacillus sp.
CR2 được phân lập từ đất ham mỏ Urumdji, Trung Quốc dùng calcium chloride là nguồn calcium bé sung cho quá trình MICP, loài vi khuan này cho hoạt tinh urease là 432 U/mL và sản xuất ra nhiều calcite (Achal and Pan, 2014); B. pasteurii NCIM 2477 nằm trong bộ sưu tập vi sinh vật công nghiệp quốc gia, Pune, An Độ với hoạt tính urease là 18 U/mL, được phát hiện là loài sản xuất urease cao nhất và là tác nhân hiệu quả gây lắng dong calcite trên bé mat gach (Sarada va ctv, 2009); K. flava CR1 được phân lập từ đất tại mỏ quặng, Urumai, Trung Quốc (Achal và ctv, 201 1), trong nghiên cứu này cho thấy K. flava CRI đã tạo ra một lượng đáng ké urease (472 U/mL ) va đã loại bỏ 95% đồng khỏi đất bị 6 nhiễm; Ö.
megaterium SS3 phân lập từ đất đá vôi tại Andhra Pradesh, An Độ (Dhami và ctv, 2013); kết qua phân lập cho thấy vi khuan này sản xuất ra một lượng lớn urease (690 U/mL), ứng dụng B. megaterium SS3 làm xử lý bề mặt sinh học đã làm giảm 40% khả năng hấp thụ nước, giảm 31% độ xốp và tăng 18% cường độ nén của vật liệu xây dựng; Halomonas sp. SR4 được phân lập từ chất thải ở vùng mỏ, Trung Quốc, trong nghiên cứu cho thấy vi khuẩn đã tạo ra lượng urease cao gây ra sự kết tủa calcite góp phần loại bỏ 80% stronti phóng xạ có trong nước thải (Achal và ctv, 2012). Cơ chế tạo kết tua calcite của vi khuẩn Hiện tại, MICP theo sáu cơ chế khác nhau, bao gồm phân giải urea (thủy phân urea), quang hợp, khử sulphat hòa tan, khử nitrat, amon hóa các axit amin và oxy hóa metan.
Trong số sáu con đường, MICP định hướng phân giải urea là phương pháp ít phức tạp nhất và được nghiên cứu nhiều nhất đã trải qua nhiều phân tích kỹ thuật và công nghệ sinh học (Harkes va ctv, 2010), (Maheswaran và ctv 2014), (Omoregie va ctv, 2019). Quá trình hình thành kết tủa calcite nhờ vi khuẩn có thé được chia thành 4 giai đoạn: (i) thủy phân urea, (ii) sự gia tăng pH môi trường, (iii) sự hấp thụ ion Ca?" lên bề mặt, (iv) hình thành tinh thé calcite. Những chủng vi khuẩn có kha năng kết tủa qua con đường phân giải urea đặc trưng bởi khả năng tông hợp enzyme urease. Cơ chế cụ thé của từng giai đoạn được mô tả qua các phản ứng sau Enzyme ureare của vi sinh vật thuỷ phan urea dé tạo ra (CO3” ) và (NHT” ), làm tăng nồng độ pH và nồng độ (CO¿? ), sau đó cùng với (Ca?') trong môi trường tao tủa dưới dang CaCO; (Kim va ctv, 2012).
-78% của vi khuẩn COOH + NEG (PT 1) NH2COOH + HO — NH; + H2COs (PT 2) Hai sản phẩm NH3 và HạCO› tiếp tục được cân bang trong nước tạo dạng bicarbonate, ammonium và ion hydroxide (PT 3 va 4). Tiếp theo, phản ứng thuận nghịch này sẽ tạo kết tủa với các ion kim loại. Sự hình thành NH¡” làm tăng pH cục bộ đồng thời phản ứng tiếp tục xảy ra tạo kết tủa calcite (Kim và ctv, 2012). Kết tủa calcite được diễn ra ở bề mặt tế bào vi khuẩn nếu dat đủ cả hai nồng độ Ca?" và CO3* trong dung dich.
Ca?" + tế bào vi khuẩn tế bao- Ca?" (PT 6) Ca?! + COs? > CaCO (PT 7) > Cl —>NH,CI CO(NH;); Substrate Hình 1. Mô hình tóm tắt vai trò của vi khuân phân giải urea trong quá trình kết tủa calcite khi có nồng độ ion Ca?! (Al-Thawadi, 2008). Các quá trình liên quan đến sự kết tủa calcite là: (A) thủy phân urea (PT 1, 2 & 3), (B) tăng độ kiềm (PT 4), (C) sự hap phụ bê mặt của các ion Ca”` (PT 5,6) và ( D) sự tạo mâm và sự lớn lên của tinh thé (PT 7). EPS là viét tat của extra-polysaccharide trong trường hợp có sự hiện điện của EPS bao quanh các tê bào phân giải urea.
; Hoạt động sản sinh enzyme urease của hau hét các vi khuan đêu liên quan đên các gen ureA, ureB và ureC, các gen nằm gần nhau và được sắp xếp từ nhỏ đến lớn (Mobley và ctv, 1995). Tuy nhiên, cấu trúc urease của vi khuẩn Helicobacter pylori lại khá độc đáo, chỉ bao gồm hai đơn vi con; mã hóa bởi gen wreA và gen ureB (Akada và ctv, 2000). Ngoài các gen cấu trúc, các loài vi khuẩn khác nhau, chang hạn như Proteus mirabilis, Klebsiella aerogenes, Bacillus sp. ngoại trừ Bacillus subtilis, đã thém cac gen phu lién quan đến việc lắp ráp vị trí hoạt động phụ thuộc niken của enzym trong hệ thống operon của chúng.
Trong trường hợp của Bacillus subtilis, câu trúc tô chức của operon urease bao gồm ba gen cấu trúc wreABC (Wray va ctv, 1997). Các gen phụ bên cạnh operon có thé suy đoán rằng các gen đó nam trong một operon độc lập ở nơi khác trong bộ gen. Gen điều hòa duy nhất của operon urease được xác định cho đến nay là ureR, được tìm thấy trong operon của Proteus mirabilis. Urease từ vi sinh vật này được tạo ra bởi sự hiện điện của urease và người ta đã chứng minh rằng urease là một chất hoạt hóa tích cực liên kết với chất xúc tiễn của urea (Nicholson và ctv, 1993).
Vai trò của MICP Sửa chữa vết nứt Levrel và ctv (1999) là nhóm nghiên cứu đầu tiên sửa chữa vết nứt bằng phương pháp sinh học. Tác giả đã sử dụng chủng Bacillus cereus đê hàn gắn vết nứt trên mẫu đá Tuffeau. Gần đây nhất, Jongvivatsakul và ctv (2019) đã sử dung Bacillus sphaericus (LMG 22257) theo phương pháp nhỏ giọt dé tiến hành han gắn các vết nứt trên những mẫu vữa. Kết quả sau 20 ngày cho thấy LMG 22257 giúp giảm §5% diện tích vết nứt so với mẫu đối chứng.
Phương pháp nhỏ giọt lên bề mặt sẽ không đảm bảo rằng kết tủa được hình thành từ sâu bên trong vết nứt mà có thể chỉ xuất hiện ở bề mặt.