Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở pháp lý của đề tài 1. Các văn bản của Nhà nước Cơ sở pháp lý của đề tài là tất cả các văn bản liên quan đến công tác bồi thường và hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất, bao gồm những văn bản chính sau: - Luật đất đai 2013; - Hiến pháp năm 2013; - Nghị định số 43/2014/NĐ - CP ngày 15/05/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật đất đai năm 2013; - Nghị định số 47/2014/NĐ - CP ngày 15/05/2014 của Chính phủ quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất; - Thông tư số 02/2015/TT-BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định chi tiết một số điều của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP và Nghị định số 44/2014/NĐ-CP ngày 15/05/2014 về đất đai của Chính phủ; - Thông tư 37/2014/TT-BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi trường Quy định chi tiết về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất; 1. Các văn bản của tỉnh Nghệ An - Quyết định 141/QĐ-UBND ngày 22/3/2015 về việc phê duyệt kế hoạch sử dụng đất năm 2015 của thành phố Vinh; - Nghị quyết 48/NQ- HĐND ngày 16/12/2015 của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh về việc thực hiện dự án trên địa bàn UBND thành phố Vinh; - Quyết định số 58/2015/QĐ- UBND ngày 13/10/2015 của UBND tỉnh Nghệ An ban hành quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Nghệ An; - Quyết định số 64/2014/QĐ-UBND ngày 23/9/2014 của UBND tỉnh Nghệ An về việc Ban hành đơn giá bồi thường cây cối, hoa màu gắn liền với đất khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Nghệ An.
5 - Quyết định số 4522/QĐ-UBND-CN ngày 25/10/2011 về việc phê duyệt Dự án Phát triển các đô thị loại vừa tại Việt Nam- tiểu dự án thành phố Vinh; - Quyết định số 3044/QĐ-UBND.ĐC ngày 18/7/2013 về việc phê duyệt giá bồi thường về cây cối, hoa màu để bồi thường GPMB xây dựng công trình nâng cấp, cải tạo Kênh Bắc đoạn 3 thuộc tiểu dự án phát triển đô thị Vinh tại xã Hưng Lộc, thành phố Vinh. - Quyết định số 162/QĐ-UBND.ĐC ngày 20/5/2014 về việc phê duyệt điều chỉnh giá đất tái định cư thực hiện dự án xây dựng công trình nâng cấp, cải tạo Kênh Bắc tại xã Hưng Lộc, thành phố Vinh. - Quyết định số 2552/QĐ-UBND.ĐTXD ngày 09/6/2014 về việc phê duyệt đơn giá bồi thường nhà cửa, vật kiến trúc phục vụ công tác bồi thường GPMB thực hiện dự án Kênh bắc 3 tại xã Hưng Lộc, thành phố Vinh. Khái quát về công tác bồi thường GPMB 1.
Khái niệm về giải phóng mặt bằng - Giải phóng mặt bằng là một khái niệm suy rộng của công tác thu hồi đất phục vụ quốc phòng an ninh và các dự án phát triển kinh tế- xã hội, bao gồm các công đoạn: từ bồi thường cho đối tượng sử dụng đất giải toả các công trình trên đất, di chuyển người dân tạo mặt bằng cho triển khai dự án đến việc hỗ trợ cho người bị thu hồi đất, tái tạo lại chỗ ở, việc làm, thu nhập, ổn định cuộc sống. Quá trình giải phóng mặt bằng bao gồm: + Thu hồi đất: Khoản 11, Điều 3, Luật Đất đai 2013 quy định: “Thu hồi đất là việc Nhà nước quyết định thu lại quyền sử dụng đất của người được Nhà nước trao quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất của người sử dụng đất vi phạm pháp luật về đất đai”[9]. + Bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước trả lại giá trị quyền sử dụng đất đối với diện tích đất bị thu hồi cho người bị thu hồi đất. Trong đó, giá trị quyền sử dụng đất là giá trị bằng tiền của quyền sử dụng đất đối với một diện tích đất xác định trong thời hạn sử dụng đất xác định [9].
6 + Hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất: Khoản 14, Điều 3, Luật Đất đai 2013 quy định “Hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước trợ giúp cho người có đất thu hồi để ổn định đời sống, sản xuất và phát triển” [9]. + TĐC khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước bố trí chỗ ở mới cho các hộ gia đình, cá nhân bị Nhà nước thu hồi đất đang ở để giao cho người khác sử dụng để xây dựng lại cuộc sống, thu nhập, cơ sở vật chất tinh thần tại đó. Đây là hoạt động nhằm giảm nhẹ các tác động xấu về kinh tế - xã hội đối với một bộ phận dân cư đã gánh chịu vì sự phát triển chung. TĐC là một bộ phận không thể tách rời và giữ vị trí rất quan trọng trong chính sách bồi thường GPMB.
Hiện nay ở nước ta khi Nhà nước thu hồi đất mà phải di chuyển chỗ ở thì người sử dụng đất được bố trí TĐC bằng một trong các hình thức sau: Bồi thường bằng nhà ở; Bồi thường bằng giao đất ở mới; Bồi thường bằng tiền để người dân tự lo chỗ ở [4]. Bản chất của công tác bồi thường GPMB - Trước tiên GPMB được tiến hành theo các dự án xây dựng, là một bộ phận không thể thiếu của dự án. GPMB bắt đầu bằng quyết định thu hồi đất của các đối tượng đang sử dụng đất và giao dịch cho các chủ dự án. Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do nhà nước thống nhất quản lý.
Nhà nước giao đất cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất ổn định lâu dài và cho thuê đất. Nhà nước là chủ sở hữu pháp lý duy nhất với đầy đủ ba quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt với toàn bộ quỹ đất đai trên toàn bộ lãnh thổ Việt Nam một cách toàn vẹn không bị giới hạn. Các đối tượng sử dụng đất chỉ có hai quyền chiếm hữu và sử dụng một cách hạn chế về không gian, thời gian và nội dung pháp lý. GPMB thực chất là nhà nước thu hồi hai quyền trên của các đối tượng và trao cho đối tượng sử dụng khác.
GPMB không chỉ là thay đổi chủ sử dụng đất mà còn bao hàm cả sự thay đổi mục đích sử dụng đất [10]. 7 - Giải phóng mặt bằng là quá trình thực hiện các công việc liên quan đến việc di dời nhà cửa, cây cối, các công trình xây dựng và một bộ phận dân cư trên một phần đất nhất định được quy hoạch cho việc cải tạo, mở rộng hoặc xây dựng một công trình mới. - Quá trình giải phóng mặt bằng được tính từ khi bắt đầu hình thành Hội đồng giải phóng mặt bằng đến khi giải phóng xong và giao cho chủ đầu tư mới. Đây là một quá trình đa dạng và phức tạp thể hiện sự khác nhau giữa các dự án và liên quan đến lợi ích trực tiếp của các bên tham gia và cả của xã hội.
- Công tác giải phóng mặt bằng mang tính quyết định đến tiến độ của các dự án, là khâu đầu tiên thực hiện dự án. Trong đó đền bù thiệt hại là khâu quan trọng quyết định tiến độ giải phóng mặt bằng [13]. - Theo từ điển tiếng Việt thì đền bù có nghĩa là: “trả lại đầy đủ hoặc tương xứng với mất mát hoặc sự vất vả” điều đó có nghĩa là: Không phải mọi khoản đền bù đều bằng tiền; Sự mất mát của người bị thu hồi đất không chỉ là về mặt vật chất mà nhiều trường hợp còn mất mát cả về tinh thần nhất là khi phải tái định cư; Về mặt hành chính thì đây là một quá trình không tự nguyện, có tính cưỡng chế và vẫn đòi hỏi sự “hy sinh”. Không chỉ là một sự đền bù ngang giá tuyệt đối [5].
Đảm bảo tiến độ kịp thời, chính xác Đảm bảo tiến độ nhanh chóng, kịp thời, chính xác là một yêu cầu quan trọng và cấp thiết của công tác bồi thường thiệt hại GPMB. Nó ảnh hưởng đến nhiều yếu tố khác nhau về kinh tế, chính trị, văn hoá. Công tác GPMB nếu đảm bảo đúng yêu cầu này sẽ đẩy nhanh tiến độ thi công công trình và đưa công trình vào sử dụng đúng thời gian và kế hoạch đã đề ra. Ngược lại, công tác GPMB lại diễn ra chậm do nhiều nguyên nhân sẽ ảnh hưởng đến tiến độ thi công công trình xây dựng, dự án đầu tư gây thiệt hại cho vốn tư nhân hoặc Ngân sách nhà nước.
Công tác GPMB diễn ra nhanh chóng sẽ rút ngắn thời gian thi công. Việc thi công công trình hoàn thành vượt mức về thời gian sẽ 8 mang lại nhiều lợi ích trong thời đại ngày nay. Ngoài ra còn phải đảm bảo yêu cầu chính xác. Người thực hiện công tác GPMB phải đúng thẩm quyền được giao, đúng đối tượng sẽ tránh được tình trạng “trên bảo dưới không nghe” và hạn chế được các tệ nạn tham ô, tham nhũng từ một số cán bộ thoái hoá, biến chất nhân cách [12].
Đảm bảo công bằng Trong cùng một thời điểm, theo yêu cầu tiến độ giải phóng mặt bằng, vị trí như nhau thì được bồi thường như nhau. Công bằng ở đây là đảm bảo hài hoà lợi ích của các bên có liên quan là đảm bảo lợi ích của 3 đối tượng Nhà nước, chủ đầu tư và người dân bị thu hồi đất. Quy định quyền hạn, trách nhiệm, nghĩa vụ của các bên trong công tác GPMB. Luật đất đai 1998 sửa đổi quy định “ đất đai thuộc sở hữu Nhà nước”, từ quy định này chúng ta có thể thấy được lợi ích nghiêng về phía Nhà nước, lợi ích của Nhà nước đặt lên trên nhất và Nhà nước áp đặt các biện pháp bắt buộc có liên quan đến đất đai đối với người dân sử dụng đất.
Tuy nhiên Luật đất đai 1993 và gần đây nhất là Luật đất đai 2013 đã ra đời và sửa đổi từ “ đất đai thuộc sở hữu Nhà nước” thành “ đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý” mới thấy được hết tính đầy đủ của nó. Như vậy lợi ích của Nhà nước sẽ gắn liền với lợi ích của người dân. Nhà nước có quyền áp đặt việc thu hồi đất của người dân sử dụng vào mục đích an ninh quốc phòng, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, phát triển kinh tế nên người sử dụng đất bắt buộc phải tuân thủ. Nhưng khi Nhà nước thu hồi đất, Nhà nước có trách nhiệm bồi thường giá trị quyền sử dụng đất và các tài sản hợp pháp gắn kiền với đất cho người có đất bị thu hồi.
Nhà nước ta là Nhà nước của dân, do dân và vì dân; Nhà nước đảm bảo lợi ích của nhân dân chính là đảm bảo lợi ích của mình.