Chương 1: Tổng quan về tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và thực tiễn về kinh tế bien Chương 2: Phương pháp nghiên cứu Chương 3: Thực trạng Quản lý Nhà nước về kinh tế biến tại huyện Quỳnh Lưu, Nghệ An Chương 4: Một số giải pháp hoàn thiện Quản lý Nhà nước về kinh tế biển tại huyện Quỳnh Lưu giai đoạn 2017-2020 và định hướng 2030 CHUONG 1: TONG QUAN TINH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIEN VE QUAN LÝ NHÀ NƯỚC VE KINH TE BIEN 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Kinh tế biển có vai trò rất quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và các địa phương giáp biển. Trong những năm qua, kinh tế biển được Nhà nước Việt Nam chú trọng và có định hướng là một trong những ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước. Để phát triển kinh tế biển đòi hỏi công tác quản lý Nhà nước cần được chú trọng.
Việt Nam đã có những chú trọng và có những định hướng phát triển, không chỉ là phát triển kinh tế biển mà nó còn gắn với bảo vệ, giữ vững biển đảo, bảo vệ tổ quốc. Nghệ An là một tỉnh ven biển, nằm trong khu vực tăng trưởng kinh tế khu vực, có những nét đặc trưng có một không hai về mặt phân hoá lãnh thổ, giàu có và đa dạng các nguồn tài nguyên thiên nhiên và giàu tiềm năng phát triển đa ngành. Với 20km bờ biển, huyện Quỳnh Lưu là một huyện có rất nhiều các xã giáp biển. Kinh tế biển là một trong ba ngành kinh tê mũi nhọn của vùng (kinh tế rừng và kinh tế vùng nông nghiệp).
Chính vì vậy, huyện đã quan tâm đến van dé này và đã đạt được những kết quả bước đầu. Việc nghiên cứu quản lý Nhà nước về kinh tế biển để tìm ra và khắc phục những tồn tại, hạn chế trong vấn đề quản lý Nhà nước, Từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện công tác quản lý Nhà nước về kinh tế biển tại Việt Nam nói chung và huyện Quỳnh Lưu nói riêng. Những năm gần đây, do sự phát triển nhanh, mạnh về kinh tế - xã hội thông qua việc xây dựng phát triển cảng và vận tải đường biển, phát triển nuôi trồng thủy sản, tăng trưởng nhanh du lịch, đô thị hoá dồn dập cùng với việc khai thác quá mức ở vùng ven biển, nên Quỳnh Lưu nói chung, huyện Quỳnh Lưu nói riêng đang phải đối mặt với những thách thức từ những tác động của tự nhiên, kinh tế và xã hội. Trong bối cảnh phát triển như vậy, cách tiếp cận quản lý mới - liên ngành, hệ thống và tổng hợp thông qua một khuôn khổ quản lý tổng hợp vùng bờ.
Nó sẽ đóng một vai trò quan trọng trong việc đảm bảo cho vùng bờ của tỉnh và trước hết là huyện Quỳnh Lưu tiếp tục phát triển lành mạnh và ôn định theo hướng bền vững. Đầu tiên, phải khang định rằng đã có rất nhiều các nghiên cứu, đánh giá, tong hợp về phát triển kinh tế biển tại Việt Nam. Và các nghiên cứu, đánh giá này đều nhận định rằng Đảng và Nhà nước có vai trò rất quan trọng trong phát triển kinh tế biển. Những thành quả mà kinh tế biển mang lại trong những năm qua được thể hiện ở nhiều mặt: (1) Cuộc sống của người dân được cải thiện: đời sống, văn hóa, xã hội,.được nâng cao (2) Qua nhiều năm thực hiện, kinh tế vùng biển chuyển dịch đúng hướng và phát triển khá toàn diện với đầy đủ các ngành nghề như: du lịch biển, khai thác, đánh bắt, chế biến thủy, hải sản, dịch vụ cảng.
Cơ cấu các ngành kinh tế của huyện chuyên dịch theo hướng công nghiệp hóa và hiện đại hóa gắn với bảo vệ môi trường. (3) Phát triển bền vững kinh tế biển huyện Quỳnh Lưu nói riêng và Nghệ An nói chung gắn với quốc phòng an ninh biên giới và biển đảo. (4) Cơ sở hạ tầng kỹ thuật cảng, nhà máy chế biến đã được nâng cấp và xây mới. Các nghiên cứu Quản lý Nhà nước về kinh tế biển Trong những năm qua, nhiều tác giả với nhiều công trình khoa học nghiên cứu về công tác quản lý Nhà nước về cũng như những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhằm chống chéo trong thực hiện triển khai phát triển kinh tế.
Mỗi công trình nghiên cứu tiếp cận vấn đề trên các khía cạnh khác nhau và giải quyết được những yêu cầu, đòi hỏi khác nhau trong thực tiễn. Tiêu biểu có thể kế đến như sau: Năm 1996, Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường đã cho tiến hành đề tài cấp nhà nước KHCN 06-07 về “Nghiên cứu xây dựng phương án Quản lý tổng hợp vùng bờ Việt Nam nhằm bảo đảm an toàn sinh thái và phát triển bền vững”. Đây là dé tài đầu tiên ở nước ta liên quan tới QLTHVB đã nghiên cứu tổng quan toàn vùng bờ Việt Nam, xây dựng Hồ sơ vùng bờ cả nước, trên cơ sở đó đề xuất một Khuôn khổ hành động QLTHVB Việt Nam (đưa ra các nguyên tắc và định hướng). - Công trình nghiên cứu của Nguyễn Chu Hồi, Bùi Thị Thu Hiền: “Kế hoạch quản lý không gian và quản lý tổng hợp không gian vùng bờ biển hướng tới phát triển bền vững ở Việt Nam”.
Tác giả đã đưa ra những lý luận chung nhất về công tác quản lý không gian và quản lý tổng hợp vùng bờ biển, việc quan lý tại các địa phương tham mưu Sở Nông nghiệp củ các tỉnh nói riêng và Bộ Nông nghiệp nói chung về việc sắp xếp, bố trí hợp lý phù hợp với qui hoạch phát triển và lợi thế của vùng, phù hợp với qui hoạch phát triển của các ngành. Tuy nhiên là đơn vị trong lực lượng vũ trang nên việc đề xuất hoàn thiện thể chế khó có thể thực hiện được và việc huy động dòng tiền của ngân sách nhà nước cần có phương án chỉ tiết cụ thể với từng dự án. Nguyễn Hồng Quảng (chủ nhiệm đề tài), “Báo cdo tổng quan về da dạng sinh học biển ven bờ ở Việt Nam và Nghệ An”: các nhân tố ảnh hưởng, hiện trạng và mức độ suy giảm”. Đề tài “Đánh giá đa dạng sinh học và nguồn lợi biển ven bờ tỉnh Nghệ An: đề xuất giải pháp bảo tồn và phát triển bền vững”, Dự án Ngôn lợi ven biển vì sự phát triển bền vững (CRSD) Nghệ An, 2014: 1.
Ly luận Quản lý Nhà nước về kinh tế biển 1. Quản ly nhà nước: Là hoạt động chấp hành, điều hành của cơ quan hành chính nhà nước, của các cơ quan nhà nước khác và các tổ chức được nhà nước ủy quyền quản lý trên cơ sở luật định và để thi hành luật nhằm thực hiện chức năng tổ chức, quản lý, điều hành các quá trình xã hội của nhà nước. Chính sách | Luat phap Hình 1.1: Sơ đồ quan ly Nhà nước Một đặc điểm quan trọng của của quản lý hành chính nhà nước, đó là quản lý hành chính nhà nước là hoạt động mang tính quyền lực nhà nước, trước hết thể hiện ở việc các chủ thể có thẩm quyền thể hiện ý chí nhà nước thông qua phương tiện nhất định, đặc biệt quan trọng hệ thống văn bản quản lý hành chính nhà nước. Bằng việc ban hành văn bản, chủ thể quản lý hành chính nhà nước thể hiện ý chí của mình dưới dạng các chủ trương, chính sách pháp luật nhằm định hướng cho hoạt động xây dựng và áp dụng pháp luật; dưới dạng quy phạm pháp luật nhằm cụ thể hóa các quy phạm pháp luật của cơ quan quyền lực nhà nước và của cấp trên thành những quy định chỉ tiết để có thể triển khai thực hiện trong thực tiễn; đưới dang các mệnh lệnh cá biệt (văn bản chỉ đạo) nhằm áp dụng pháp luật vào thực tiễn, trực tiếp thực hiện quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia quan hệ quản lý; dưới những dạng mệnh lệnh chỉ đạo cấp dưới trong hoạt động.nhằm tổ chức thực hiện pháp luật trong thực tiễn; dưới dạng những thông tin hướng dẫn đối lập với cấp dưới nhằm đảm bảo sự thống nhất, có hệ thống của bộ máy hành chính nhà nước.
Bên cạnh đó, quyền lực nhà nước còn thể hiện trong việc các chủ thể có thẩm quyền tiến hành những hoạt động cần thiết để bảo đảm thực hiện ý chí nhà nước, như các biện pháp về tổ chức, về kinh tế, tuyên truyền giáo dục, thuyết phục cưỡng ché.Chinh những biện pháp này là sự thể hiện tập trung và rõ nét của sức mạnh nhà nước, một bộ phận tạo nên quyền lực nhà nước, nhờ đó ý chí của chủ thể quản lý hành chính nhà nước được bảo đảm thực hiện. Thứ hai, đó là hoạt động quản lý nhà nước vừa mang tính chấp hành, vừa mang tính điều hành. Tính chấp hành và điều hành của hoạt động quản lý nhà nước thể hiện trong việc những hoạt động này được tiến hành trên cơ sở pháp luật và nhằm mục đích thực hiện pháp luật, cho dù đó là hoạt động chủ động sáng tạo của chủ thé quản lý thì cũng không được vượt quá khuôn khổ pháp luật, điều hành cấp dưới, trực tiếp áp dụng pháp luật hoặc tô chức những hoạt động thực tiễn trên cơ sở quy định pháp luật nhằm hiện thực hóa pháp luật. Tính điều hành của hoạt động quản lý hành chính nhà nước thể hiện trong việc chủ thể có thẩm quyền tổ chức thực hiện pháp luật trong đời sống xã hội.
Trong quá trình đó, các chủ thể này, không chỉ tự mình thực hiện pháp luật mà quan trọng hơn cả chúng đảm nhận chức năng chi đạo nhằm vận hành hoạt động của các cơ quan, đơn vị trực thuộc theo một quy trình thống nhất; tổ chức để mọi đối tượng có liên quan thực hiện pháp luật nhằm hiện thực hóa các quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ quản lý. Như vậy, trong mỗi hoạt động quản lý hành chính nhà nước, tính chấp hành và tính điều hành luôn đan xen, Song song tồn tại, tạo nên sự đặc thù của hoạt động quản lý hành chính nhà nước, nhờ đó có thê phân biệt với hoạt động lập pháp và tư pháp: trong lập pháp, chấp hành là để xây dựng pháp luật làm cho pháp luật ngày càng hoàn thiện hơn; trong tư pháp, chấp hành là dé bảo vệ pháp luật tránh khỏi sự xâm hại; còn trong quản lý hành chính, chấp hành là dé tổ chức thực hiện pháp luật trong đời sông xã hội. Thứ ba, quản lý nhà nước là hoạt động có tính thống nhất, được tô chức chat chẽ.