Luận án: Nghiên cứu chăm sóc giáo dục con người lao động tại Hà Nội và Seoul

Luận án tiến sĩ giáo dục phân tích nghiên cứu các hình thức chăm sóc giáo dục con em người lao động trong lứa tuổi mầm non tại các, xây dựng cơ sở lý luận, kiểm chứng thực nghiệm,

Chuyên ngành

Xã Hội Học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Án Tiến Sĩ

2010

220
2
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

PHẦN MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ LAO ĐỘNG NỮ VÀ GIÁO DỤC MẦM NON TRONG BIỂN ĐỔI KINH TẾ - XÃ HỘI

1.1. Một số khái niệm công cụ

1.2. Trẻ em lứa tuổi mầm non (Trẻ em LTMN)

1.3. Chăm sóc và giáo dục trẻ em (CS-GD trẻ em)

1.4. Cơ sở giáo dục mầm non (cơ sở GDMN)

1.5. Cơ sở giáo dục mầm non tại nơi làm việc

1.6. Lao động nữ trong kinh tế xã hội

1.7. Lý thuyết giáo dục và xã hội hoá giáo dục mầm non

1.8. Lý thuyết giáo dục và giáo dục mầm non

1.9. Tiếp cận xã hội học và khoa học hữu quan với vấn đề xã hội hoá giáo dục mầm non

1.10. Quan điểm về Lao động nữ và Giáo dục mầm non trong những biến đổi kinh tế - xã hội

1.11. Quan điểm về lao động nữ của các nhà sáng lập xã hội học

1.12. Sự biến đổi nhân khẩu trong gia đình

1.13. Các chính sách giáo dục mầm non và chính sách lao động nữ

1.14. Triển vọng của chính sách GDMN theo sự biến đổi kinh tế xã hội

2. CHƯƠNG 2: CÁC HÌNH THỨC CHĂM SÓC VÀ GIÁO DỤC TRẺ EM LỨA TUỔI MẦM NON LÀ CON CÁI NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG CÁC DOANH NGHIỆP HÀ NỘI

2.1. Khái quát về tình hình chăm sóc và giáo dục trẻ em lứa tuổi mầm non Việt Nam

2.2. Thời kỳ trước đổi mới

2.3. Thời kỳ sau Đổi mới

2.4. Các hệ thống quản lý và pháp luật về sự nghiệp CS-GDMN

2.5. Những thách thức mới của một xã hội công nghiệp hóa, hiện đại hóa đối với lao động nữ và việc chăm sóc và giáo dục con cái

2.6. Vấn đề lao động nữ và vấn đề chăm sóc và giáo dục mầm non

2.7. Thực trạng thi hành các chính sách lao động nữ và chăm sóc-giáo dục con cái

2.8. Tình hình chăm sóc, giáo dục mầm non trong một số doanh nghiệp Hà Nội

2.9. Một vài nét chung về thực trạng chăm sóc, giáo dục mầm non ở khu vực công nghiệp Việt Nam

2.10. Kết quả điều tra xã hội học tại một số doanh nghiệp Hà Nội

2.11. Một số nhận xét

3. CHƯƠNG 3: CÁC HÌNH THỨC CHĂM SÓC VÀ GIÁO DỤC TRẺ EM LỨA TUỔI MẦM NON LÀ CON CÁI NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG CÁC DOANH NGHIỆP SEOUL

3.1. Khái quát về tình hình chăm sóc và giáo dục trẻ em lứa tuổi mầm non Hàn Quốc

3.2. Thời kỳ mở rộng phát triển giáo dục mầm non (1962 ~ 1987)

3.3. Thời kỳ nâng cao về chất lượng giáo dục mầm non (1988-2000)

3.4. Thời kì Phúc lợi xã hội chăm sóc và giáo dục mầm non (từ năm 2001 đến nay)

3.5. Các hệ thống quản lý và pháp luật về sự nghiệp CS-GDMN

3.6. Những thách thức mới của một xã hội Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa đối với lao động nữ và việc chăm sóc và giáo dục con cái

3.7. Các vấn đề lao động nữ và việc chăm sóc-giáo dục mầm non trong bối cảnh kinh tế xã hội thay đổi

3.8. Những chính sách thực hiện hệ thống hỗ trợ hài hoà giữa gia đình và công việc

3.9. Tình hình chăm sóc giáo dục trẻ em lứa tuổi mầm non trong các doanh nghiệp Seoul

3.10. Một vài nét chung về thực trạng chăm sóc giáo dục trẻ em lứa tuổi mầm non khu vực công nghiệp Hàn Quốc

3.11. Tình hình các cơ sở Giáo dục mầm non tại nơi làm việc hiện nay

3.12. Kết quả điều tra xã hội học tại một số doanh nghiệp Seoul

3.13. Một số nhận xét

4. CHƯƠNG 4: BƯỚC ĐẦU SO SÁNH CÁC HÌNH THỨC CHĂM SÓC VÀ GIÁO DỤC TRẺ EM LỨA TUỔI MẦM NON LÀ CON CÁI NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG MỘT SỐ DOANH NGHIỆP Ở HÀ NỘI VÀ SEOUL

4.1. Nhận xét chung về quá trình xây dựng sự nghiệp chăm sóc và giáo dục mầm non của Việt Nam và Hàn Quốc. So sánh về khía cạnh văn hóa của phụ nữ và giáo dục con cái. So sánh về quan niệm Xã hội hóa giáo dục mầm non Việt Nam và Hàn Quốc

4.2. Xã hội hóa giáo dục mầm non Hàn Quốc

4.3. Xã hội hóa giáo dục mầm non Việt Nam

4.4. Sự tương đồng và khác biệt về Xã hội hoá giáo dục mầm non Việt Nam và Hàn Quốc

4.5. Một số so sánh về chính sách và thực tiễn sự nghiệp giáo dục mầm non ở khu vực công nghiệp

4.6. Các văn bản luật liên quan đến sự nghiệp giáo dục mầm non tại nơi làm việc

4.7. Tổ chức quản lí, chỉ đạo

4.8. Khái niệm “nhiều lao động nữ” và các loại hình cơ sở GDMN tại nơi làm việc

4.9. Về sự hỗ trợ chi phí giáo dục mầm non

4.10. So sánh nhận thức và thực trạng chăm sóc và giáo dục mầm non trong một số doanh nghiệp Hà Nội và Seoul

4.11. Nhận thức của lãnh đạo doanh nghiệp

4.12. Nhận thức của người lao động có con nhỏ

4.13. Nhận thức về những khó khăn trong việc xây dựng và quản lý cơ sở GDMN tại nơi làm việc

4.14. Mức độ hài lòng của phụ huynh khi gửi con ở cơ sở GDMN của công ty

4.15. Về chi phí GDMN

4.16. Một số nhận xét

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về nghiên cứu chăm sóc giáo dục trẻ em người lao động

Nghiên cứu về các hình thức chăm sóc giáo dục con em người lao động trong lứa tuổi mầm non tại các doanh nghiệp ở Hà Nội và Seoul là một chủ đề quan trọng. Nó không chỉ phản ánh sự phát triển của giáo dục mầm non mà còn thể hiện sự quan tâm của xã hội đối với người lao động, đặc biệt là lao động nữ. Việc chăm sóc và giáo dục trẻ em trong độ tuổi này có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của trẻ và sự ổn định của gia đình. Các doanh nghiệp cần nhận thức rõ vai trò của mình trong việc hỗ trợ người lao động thông qua các hình thức chăm sóc giáo dục mầm non.

1.1. Tình hình chăm sóc giáo dục mầm non tại Hà Nội

Tại Hà Nội, tình hình chăm sóc giáo dục trẻ em lứa tuổi mầm non đang gặp nhiều thách thức. Nhiều doanh nghiệp chưa có cơ sở giáo dục mầm non tại nơi làm việc, dẫn đến áp lực cho người lao động, đặc biệt là phụ nữ. Việc thiếu hụt các dịch vụ này không chỉ ảnh hưởng đến sự phát triển của trẻ mà còn làm giảm hiệu quả công việc của người lao động.

1.2. Tình hình chăm sóc giáo dục mầm non tại Seoul

Seoul đã có những bước tiến đáng kể trong việc phát triển các hình thức chăm sóc giáo dục trẻ em. Chính phủ Hàn Quốc đã ban hành nhiều chính sách hỗ trợ, khuyến khích các doanh nghiệp thành lập cơ sở giáo dục mầm non tại nơi làm việc. Điều này không chỉ giúp giảm bớt gánh nặng cho phụ nữ mà còn nâng cao chất lượng cuộc sống cho người lao động.

II. Những thách thức trong chăm sóc giáo dục trẻ em người lao động

Mặc dù đã có nhiều nỗ lực trong việc phát triển các hình thức chăm sóc giáo dục trẻ em, nhưng vẫn còn nhiều thách thức cần phải giải quyết. Các vấn đề như thiếu hụt cơ sở vật chất, chất lượng giáo dục chưa đảm bảo, và sự thiếu quan tâm từ phía doanh nghiệp là những yếu tố cản trở sự phát triển của hệ thống này.

2.1. Thiếu hụt cơ sở vật chất và nguồn lực

Nhiều doanh nghiệp vẫn chưa đầu tư đủ vào cơ sở vật chất cho các cơ sở giáo dục mầm non. Điều này dẫn đến việc trẻ em không được tiếp cận với môi trường học tập an toàn và chất lượng. Việc thiếu hụt giáo viên có trình độ cũng là một vấn đề lớn.

2.2. Chất lượng giáo dục chưa đảm bảo

Chất lượng giáo dục tại các cơ sở mầm non trong doanh nghiệp thường không được đảm bảo. Nhiều chương trình giáo dục chưa được thiết kế phù hợp với nhu cầu phát triển của trẻ em, dẫn đến việc trẻ không được phát triển toàn diện.

III. Phương pháp nghiên cứu và giải pháp chính

Để giải quyết các vấn đề trong chăm sóc giáo dục trẻ em, cần có những phương pháp nghiên cứu và giải pháp cụ thể. Việc áp dụng các mô hình giáo dục tiên tiến từ các nước phát triển như Hàn Quốc có thể là một hướng đi khả thi.

3.1. Áp dụng mô hình giáo dục từ Hàn Quốc

Mô hình giáo dục mầm non tại Hàn Quốc có thể được áp dụng tại Việt Nam. Các doanh nghiệp cần học hỏi từ kinh nghiệm của Hàn Quốc trong việc xây dựng cơ sở giáo dục mầm non tại nơi làm việc, từ đó tạo ra môi trường học tập tốt cho trẻ em.

3.2. Tăng cường hợp tác giữa doanh nghiệp và chính phủ

Sự hợp tác giữa doanh nghiệp và chính phủ là rất quan trọng trong việc phát triển các hình thức chăm sóc giáo dục trẻ em. Chính phủ cần có các chính sách hỗ trợ, khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào giáo dục mầm non, từ đó tạo ra một hệ thống giáo dục bền vững.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu

Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng việc phát triển các hình thức chăm sóc giáo dục trẻ em tại các doanh nghiệp không chỉ mang lại lợi ích cho trẻ em mà còn cho chính doanh nghiệp. Các doanh nghiệp có cơ sở giáo dục mầm non tại nơi làm việc thường có tỷ lệ giữ chân nhân viên cao hơn và hiệu suất làm việc tốt hơn.

4.1. Lợi ích cho trẻ em và gia đình

Trẻ em được chăm sóc và giáo dục trong môi trường an toàn và chất lượng sẽ phát triển tốt hơn. Gia đình cũng sẽ giảm bớt gánh nặng khi có cơ sở giáo dục mầm non gần nơi làm việc.

4.2. Lợi ích cho doanh nghiệp

Doanh nghiệp có cơ sở giáo dục mầm non tại nơi làm việc sẽ thu hút được nhiều lao động chất lượng cao. Điều này không chỉ giúp nâng cao hiệu suất làm việc mà còn tạo ra hình ảnh tích cực cho doanh nghiệp trong mắt công chúng.

V. Kết luận và tương lai của nghiên cứu

Nghiên cứu về các hình thức chăm sóc giáo dục trẻ em người lao động là một lĩnh vực quan trọng và cần thiết. Tương lai của nghiên cứu này sẽ phụ thuộc vào sự quan tâm và đầu tư từ cả doanh nghiệp và chính phủ. Việc xây dựng một hệ thống giáo dục mầm non bền vững sẽ góp phần vào sự phát triển của xã hội.

5.1. Tầm quan trọng của giáo dục mầm non

Giáo dục mầm non đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của trẻ em. Đầu tư vào giáo dục mầm non không chỉ là trách nhiệm của gia đình mà còn là trách nhiệm của toàn xã hội.

5.2. Hướng đi tương lai cho nghiên cứu

Nghiên cứu cần tiếp tục được mở rộng để tìm ra các giải pháp hiệu quả hơn trong việc chăm sóc giáo dục trẻ em. Sự hợp tác giữa các bên liên quan sẽ là chìa khóa để đạt được thành công trong lĩnh vực này.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

23/07/2025
Luận án tiến sĩ nghiên cứu các hình thức chăm sóc giáo dục con em người lao động trong lứa tuổi mầm non tại các doanh nghiệp ở hà nội và seoul

Trích đoạn nội dung tài liệu

PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết và lý do chọn đề tài Vấn đề giới nảy sinh từ rất lâu cùng với sự nảy sinh của con người và xã hội nhưng khoa học về giới thì rất trẻ. Các nhà nghiên cứu đã tìm ra mối quan hệ mẹ - con và chính mối quan hệ này đã chi phối sâu sắc đến mối quan hệ giới (vợ - chồng) ở nhiều xã hội, chính sự vướng bận về con cái đã khiến cho phụ nữ rất vất vả và thiệt thòi hơn so với nam giới. Phụ nữ công nhân cũng không ngoại lệ.

Trên thực tế xã hội mà tri thức là căn bản thì quyền bình đẳng trong tuyển dụng nam nữ được xem như là một trong những vấn đề trọng tâm trong viê ̣c bảo vê ̣ nhân quyền. Khi quyền bình đẳng được thực hiện, mọi người sẽ không bị phân biệt giới tính và có thể làm việc theo năng lực và nhu cầu của bản thân. Đối với lao động nữ, vấn đề càng trở nên cấp thiết. Trong suốt chiều dài lịch sử, họ đã vượt qua muôn vàn khó khăn để đến giữa thế kỷ XX mới dần khẳng định được vị thế tương xứng của mình so với nam giới.

Họ đã được coi là một lực lượng lao động không thể thiếu của toàn xã hội. Tuy nhiên, dù muốn hay không, vấn đề chăm sóc, giáo dục con cái vẫn đè nặng lên vai người phụ nữ. Ai cũng dễ dàng thấy được những thiệt thòi của họ trong việc cống hiến sức lực và tài năng cho xã hội vì gánh nặng con cái. Đồng thời, không phải ở đâu họ cũng được đối xử bình đẳng.

Ngay ở một quốc gia phát triển, vì con cái và những hệ lụy liên quan mà một số không nhỏ phụ nữ đã phải nghỉ việc, mất việc hay gián đoạn việc làm… Tình trạng này có thể xem như là đã đi chệch khá xa việc đảm bảo quyền lao động liên tục cũng như việc thực hiện bình đẳng giới. Trong tương lai, chắc chắn phụ nữ sẽ có vai trò to lớn hơn trong đội ngũ lao động chất lượng cao. Mô hình cơ sở Giáo dục mầm non từ trước tới nay vẫn gắn liền với vấn đề việc làm của phụ nữ chứ không phải của nam giời. 1 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Việc chăm sóc, giáo dục con cái ở mỗi đất nước, mỗi xã hội, mỗi thời kỳ lại có những chính sách thể hiện những quan điểm khác nhau.

Thậm chí cả một chế độ cũng được thiết lập dựa trên quan điểm mang tính lịch sử, tính triết học đó. Khi vấn đề chăm sóc, giáo dục trẻ em, nhất là trẻ em lứa tuổi mầm non không có được sự hỗ trợ từ phía quốc gia và xã hội thì tỷ lệ nghỉ việc của lao động nữ tăng lên là điều tất yếu. Có thể tình trạng nghỉ việc chưa xảy ra, họ vẫn tiếp tục công tác nhưng họ cũng sẽ rất dễ bị stress do rất nhiều các vấn đề cá nhân liên quan đến việc giáo dục, nuôi dạy con cái. Do đó, điều khó tránh khỏi là hiệu quả làm việc bị giảm sút.

Hiện nay, đối tượng có nhu cầu cấp bách về cơ sở giáo dục mầm non là lao động nữ. Đến nay, hầu như ai cũng đã nhận thức được rằng việc nuôi dạy giáo dục con cái không phải là trách nhiệm của chỉ riêng gia đình hay phụ nữ mà là trách nhiệm của cả quốc gia, xã hội, doanh nghiệp và các bậc cha mẹ. Để có được một nhận thức như thế, Hàn Quốc đã trải qua một chặng đường rất gian nan. Về mặt đường lối, Chính phủ Hàn Quốc đã phải liên tục điều chỉnh chính sách, chế độ chăm sóc, giáo dục trẻ em lứa tuổi mầm non để một mặt các cháu và cha mẹ các cháu được thụ hưởng những điều tốt đẹp nhưng mặt khác quan trọng hơn là đảm bảo bình đẳng giới.

Sự tham gia của phụ nữ vào nền kinh tế ngày càng được khẳng định và các cơ quan, các doanh nghiệp cũng như mọi địa phương, mọi người nghiêm chỉnh thực hiện pháp lệnh, nghị định để vừa “giải phóng” phụ nữ, vừa để phụ nữ đóng góp sức mình vào sự phát triển của đất nước. Từ khi bước vào Đổi mới, tốc độ phát triển của Việt Nam rất nhanh. Nhiều doanh nghiệp với nhiều loại hình ra đời và lớn mạnh nhanh chóng. Số lượng người lao động, trong đó có lao động nữ trong một số doanh nghiệp lên đến hàng nghìn.

Từ đó, nhiều vấn đề được đặt ra và đang dần được giải quyết như thu nhập, giờ giấc làm việc, bảo hiểm. của người lao động. Tuy nhiên, 2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com theo sự quan sát của chúng tôi thì việc chăm sóc con cái của người lao động lại chưa hoặc rất ít được quan tâm, đặc biệt là các cơ sở giáo dục mầm non trong các doanh nghiệp. Gần đây nhiều vụ việc nhức nhối liên quan đến buông lỏng trong việc chăm sóc, giáo dục trẻ em ở Việt Nam khiến dư luận phải giật mình.

Vì vậy, Bộ Giáo dục và Đào tạo Việt Nam đã phải sửa chữa một số điểm trong kế hoạch phát triển ngành mầm non và đặc biệt là tăng cường giám sát, quản lí lĩnh vực giáo dục quan trọng này. Chúng tôi chọn địa bàn Hà Nội và Seoul làm nơi khảo sát, nghiên cứu bởi vì cả hai thành phố đều là Thủ đô, đều là trung tâm chính trị, kinh tế và văn hóa của mỗi nước. Hà Nộị đang trên đường Hiện đại hoá - Công nghiệp hoá và từ khi Việt Nam gia nhập WTO (2007), thành phố này càng thu hút nhiều lao động từ khắp các nơi đến làm việc tại các khu công nghiệp cũng như các lĩnh vực kinh tế mới. Còn thành phố Seoul chiểm 26% tổng số dân số Hàn Quốc, là khu vực bao gồm các ngành công nghiệp lớn nhất nước.

Những gì hiện đã và đang diễn ra ở Hà Nội và Seoul đều chắc chắn là tiêu biểu cho sự phát triển ở Việt Nam và Hàn Quốc. Việc tìm hiểu các hình thức CS-GD trẻ em LTMN là con cái lao động nữ ở Hà Nội và Seoul, vì thế, mang ý nghĩa điển hình và có sức khái quát cao. Chúng tôi thiết nghĩ, với khuôn khổ, thời gian dành cho một luận án và bằng sức lực của một nghiên cứu sinh, việc khảo sát toàn bộ tình hình CS-GD trẻ em LTMN của Việt Nam rồi so sánh với Hàn Quốc là một điều rất khó khăn. Vì thế, sẽ là hợp lí khi luận án chọn Hà Nội làm địa bàn khảo sát, sau đó so sánh với Seoul.

Nghiên cứu, so sánh việc CS-GD trẻ em LTMN giữa Hà Nội và Seoul của chúng tôi cũng sẽ đưa ra nhiều thông tin thú vị và quan trọng vì Việt Nam và Hàn Quốc là hai nước cùng ở châu Á nhưng có hai chế độ chính trị và trình độ phát triển khác nhau. Kinh nghiệm của hai nước sẽ được lý giải trên 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com phương diện khoa học và thực tiễn. Hy vọng luận án này sẽ tìm ra một phương án giảm bớt gánh nặng nuôi dạy con cái và hỗ trợ cho người phụ nữ để họ vừa đảm bảo việc cơ quan vừa đảm bảo được cuộc sống gia đình, thông qua việc thiết lập hệ thống và cải cách thể chế giáo dục mầm non tại nơi làm việc, đảm bảo quyền lao động liên tục cho lao động nữ. Chúng tôi cũng hy vọng kết quả nghiên cứu sẽ góp phần vào việc xoá bỏ sự phân biệt đối xử lao động trong tuyển dụng, tạo điều kiện thuận lợi cho nhân lực có tay nghề, từ đó góp phần vào việc sử dụng nguồn nhân lực nữ một cách có hiệu quả và nâng cao sức cạnh tranh của quốc gia.

Bằng tất cả những điều như vừa trình bày ở trên, chúng tôi nghĩ rằng triển khai việc “Nghiên cứu các hình thức chăm sóc, giáo dục con em người lao động trong lứa tuổi mầm non tại các doanh nghiệp” là quan trọng và cần thiết. Tổng quan tình hình nghiên cứu 2. Hàn Quốc Ở Hàn Quốc, thập kỷ 60-70, mối quan tâm lớn nhất là phát triển kinh tế, do đó đông đảo lao động nữ đã rất tích cực tham gia vào mọi lĩnh vực của nền kinh tế. Tuy nhiên, phúc lợi cho người lao động, đặc biệt là lao động nữ cũng như con cái của họ thì chưa được quan tâm đúng mức.

Mặt trái của sự phát triển kinh tế là vấn đề gia đình và lao động nữ. Để bảo vệ các bà mẹ và để phụ nữ vừa làm việc trong gia đình vừa làm việc trong công sở, chính phủ đã ban hành hai bộ luật liên quan đến lao động nữ là Luật Bình đẳng nam nữ trong tuyển dụng lao động (năm 1987) và Luật Chăm sóc và giáo dục trẻ em lứa tuổi mầm non (năm 1991). Trong hai luật này có quy định các chủ doanh nghiệp có nghĩa vụ phải thành lập các cơ sở giáo dục mầm non tại nơi làm việc. 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Hai thập kỷ gần đây, vấn đề này đã được giới nghiên cứu (trong các Bộ, Viện, các Đại học, kể cả Đa ̣i ho ̣c Quân sự.) quan tâm nhiều.

Cho đến thời điểm này, đã có hơn 130 luận án tiến sĩ và luận văn thạc sĩ, đề án của các Bộ Lao động và Bộ Bình đẳng giới, các Viện nghiên cứu phát triển Giới và phụ nữ v. đề cập đến GDMN tại nơi làm việc. Cụ thể, trong thời gian đầu thập kỷ 90, các nghiên cứu hướng đến vấn đề “Tình hình lao động nữ và viê ̣c chăm sóc con cái của lao động nữ”, vấn đề “Nhu cầu lao động nữ và việc chăm sóc giáo dục con”, đặc biệt là làm rõ “Khái niệm về cơ sở GDMN tại nơi làm việc”… Các nghiên cứu này nhấn mạnh đến những khái niệm mới và cung cấp hiện trạng thị trường lao động Hàn Quốc trong quá trình Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá. Họ cũng xác định nội dung và phạm vi của khái niêm hỗ trợ cơ sở GDMN tại nơi làm việc là trách nhiệm của chủ doanh nghiệp và chính phủ.

Hơn nữa, chính phủ phải nhận thức được rằng sự nghiệp chăm sóc giáo dục con cái của lao động nữ là một loại phúc lợi xã hội để phát triển đất nước. Đến những năm 2000, chính sách về việc thành lập cơ sở GDMN tại nơi làm việc đã hoàn chỉnh. Do vậy các nghiên cứu chủ yếu hướng tới những vấn đề thuộc chiều sâu như “Phương án đẩy mạnh dịch vụ cơ sở GDMN tại nơi làm việc” và “Các phương pháp chất lượng GDMN tại nơi làm việc” v.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ