Tổng quan luận án
Quyền bình đẳng trong tuyển dụng và việc làm là nội dung cơ bản của nhân quyền. Tuy nhiên, trách nhiệm chăm sóc và giáo dục con cái vẫn đè nặng lên người phụ nữ, tạo ra nhiều bất lợi trong quá trình tham gia thị trường lao động. Mối quan hệ mẹ - con chi phối trực tiếp quan hệ giới, khiến nữ công nhân chịu áp lực kép giữa gia đình và nghề nghiệp. Khi dịch vụ giáo dục mầm non thiếu sự hỗ trợ của nhà nước và xã hội, nguy cơ gián đoạn việc làm hoặc thôi việc ở lao động nữ gia tăng. Tại Việt Nam, sau khi gia nhập WTO năm 2007 và đẩy mạnh công nghiệp hoá - hiện đại hoá, số lượng lao động nữ trong các doanh nghiệp tăng nhanh. Dù thu nhập và bảo hiểm dần được chú trọng, việc chăm sóc con nhỏ của công nhân tại doanh nghiệp chưa được quan tâm tương xứng. Luận án của Lee Kye Sun (2010) giải quyết khoảng trống nghiên cứu xã hội học về mô hình giáo dục mầm non tại nơi làm việc thông qua việc so sánh thực tiễn giữa Hà Nội và Seoul.
Mục tiêu nghiên cứu là khảo sát các hình thức chăm sóc giáo dục trẻ em mầm non là con cái nữ công nhân viên chức trong doanh nghiệp tại Việt Nam và Hàn Quốc, phân tích nhân tố tác động và hiệu quả thực tế; từ đó đề xuất giải pháp cho doanh nghiệp ở Hà Nội và Seoul nhằm duy trì sản xuất bền vững, bảo đảm chế độ người lao động và thúc đẩy bình đẳng giới. Luận án thực hiện 5 nhiệm vụ: (1) Xác định cơ sở lý luận, phương pháp luận; (2) Điều tra xã hội học và thu thập tài liệu; (3) Khảo sát các hình thức chăm sóc giáo dục mầm non tại doanh nghiệp ở Hà Nội và Seoul; (4) So sánh điểm mạnh, điểm yếu ở mỗi thành phố; (5) Xây dựng giải pháp chính sách cho doanh nghiệp.
Hệ thống 4 giả thuyết nghiên cứu gồm:
- Công cuộc công nghiệp hoá – hiện đại hoá của Việt Nam và Hàn Quốc đã tác động trực tiếp đến sự biến đổi kinh tế - xã hội của mỗi nước nói chung, thành phố Hà Nội và Seoul nói riêng. Do đó cơ cấu dân số và gia đình, các yếu tố thị trường kinh tế - xã hội cũng thay đổi nhanh chóng.
- Sự biến đổi kinh tế - xã hội đã có ảnh hưởng đến hoạt động kinh tế của lao động nữ, mối quan hệ chủ thợ và hoạt động của doanh nghiệp…
- Có sự khác biệt giữa hệ thống chăm sóc giáo dục con em người lao động trong lứa tuổi mầm non tại các doanh nghiệp ở Hà Nội và Seoul.
- Việc chăm sóc giáo dục trẻ em tại doanh nghiệp sẽ mang lại lợi nhuận cho chủ doanh nghiệp vì công nhân sẽ yên tâm lao động.
Đối tượng nghiên cứu là vấn đề và hình thức chăm sóc giáo dục trẻ em mầm non nói chung, con em người lao động tại doanh nghiệp Seoul và Hà Nội nói riêng. Khách thể nghiên cứu gồm lao động nữ, lãnh đạo doanh nghiệp, cán bộ giáo dục, nhà hoạch định chính sách, cán bộ quản lý và nghiên cứu. Phạm vi thời gian tập trung từ năm 2006 đến năm 2008 tại Hà Nội và Seoul. Tiêu chí lựa chọn doanh nghiệp theo Điều 5, Nghị định 23/CP (ngày 06/11/1997): doanh nghiệp có thường xuyên trên 100 lao động nữ, tỷ lệ nữ từ 30% trở lên và có trường mầm non. Tại Hà Nội, tác giả khảo sát 3 đơn vị: Công ty May 10, Công ty Khóa Việt-Tiệp và Công ty Vina Korea với 152 lao động. Tại Seoul, luận án kế thừa dữ liệu từ công trình của Lee Kyung-suk (2002) tại 28 doanh nghiệp và 708 lao động.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tại Hàn Quốc, thập niên 1960 - 1970 ưu tiên tăng trưởng kinh tế khiến phúc lợi cho lao động nữ và việc chăm sóc trẻ em chưa được chú trọng. Sau đó, chính phủ ban hành Luật Bình đẳng nam nữ trong tuyển dụng lao động (1987) và Luật Chăm sóc và giáo dục trẻ em lứa tuổi mầm non (1991), quy định nghĩa vụ thành lập cơ sở mầm non tại nơi làm việc của chủ doanh nghiệp. Hơn hai thập niên qua, đã có hơn 130 công trình (luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ, đề án của Bộ Lao động, Bộ Bình đẳng giới, Viện nghiên cứu phát triển Giới và phụ nữ) nghiên cứu chủ đề này. Các công trình tiêu biểu gồm: Lee Kyungsuk chủ biên (2002) khảo sát 28 doanh nghiệp và 708 lao động tại Seoul; luận án tiến sĩ của Kim Taeyun (2002) về thực trạng cơ sở mầm non tại nơi làm việc; luận án của Sin Kyungmi (2000) về mức độ hài lòng và nhu cầu của lao động nữ; Kim Rijin (2000) nghiên cứu tâm lý về stress của lao động nữ trong nuôi dạy con; Na Jung (2003) nghiên cứu phương án phát triển mầm non gắn với biến đổi dân số, gia đình và kinh tế. Các tác giả thống nhất rằng việc nuôi dạy con của lao động nữ là trách nhiệm xã hội do chính phủ làm trung tâm.
Tại Việt Nam, vấn đề này chưa được nghiên cứu chuyên sâu về xã hội học và giáo dục học. Các công trình liên quan gồm: Trần Hàn Giang chủ biên (2002), "Nữ công nhân khu vực công nghiệp ngoài quốc doanh và dịch vụ trợ giúp pháp lý ở Việt Nam", gồm bài viết của Ngô Tuấn Dung (2001) về điều kiện làm việc của nữ công nhân Hà Nội và Phạm Thanh Vân về nhận thức quyền pháp lý; Dương Thị Thanh Huyền (2005), luận án tiến sĩ "Xã hội hoá giáo dục mầm non và những biện pháp thực hiện trên địa bàn Hà Nội", đề xuất liên kết liên ngành và đa dạng hóa nguồn lực.
Khoảng trống luận án giải quyết là xây dựng nghiên cứu xã hội học so sánh thực nghiệm giữa Hà Nội và Seoul về cơ sở mầm non tại nơi làm việc, khắc phục sự khan hiếm tư liệu thực chứng tại Việt Nam vốn chủ yếu dựa vào văn bản quy phạm pháp luật và báo cáo hành chính.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án vận dụng chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, phân tích sự phù hợp giữa quan hệ lao động với trình độ lực lượng sản xuất, quy định của cơ sở hạ tầng đối với kiến trúc thượng tầng và sự đan xen các thành phần kinh tế thời kỳ quá độ. Nghiên cứu kết hợp các chuyên ngành xã hội học giới, gia đình, đô thị, quản lý và lứa tuổi, cùng các lý thuyết:
- Trẻ em lứa tuổi mầm non: Việt Nam quy định từ 0 đến dưới 6 tuổi (sơ sinh 0-1,5 tuổi; nhà trẻ 1,5-3 tuổi; mẫu giáo 3-dưới 6 tuổi); Hàn Quốc quy định từ 0 đến 6 tuổi trước khi vào tiểu học.
- Emile Durkheim: Giáo dục truyền bá chuẩn mực giá trị, tạo tính đồng nhất (homogeneity) và đoàn kết xã hội; phân biệt phân công lao động bình thường với ba dạng bất bình thường (phi chuẩn mực, cưỡng bức bất công, thiếu đồng bộ).
- Talcott Parsons: Nhà trường là thiết chế xã hội hóa bậc hai, chuyển trẻ từ chuẩn mực đặc thù (particularistic standards) sang chuẩn mực phổ quát (universalistic standards) dựa trên năng lực.
- Maria Montessori (1907) với mô hình Lacasa dei Bambini tại Ý.
- G. Esping-Andersen (1999) và Viện Phát triển Phụ nữ Hàn Quốc (2004) về ba mô hình phúc lợi quốc gia: tự do chủ nghĩa, bảo thủ và dân chủ xã hội chủ nghĩa; quy luật 100 phụ nữ đi làm làm phát sinh thêm 15 loại dịch vụ xã hội.
- Karl Marx và Friedrich Engels: Luận điểm về áp bức kinh tế, giá trị sử dụng, lao động phục vụ và tác động của đại công nghiệp đến gia đình công nhân.
- Xã hội hóa giáo dục mầm non: Phân biệt xã hội hóa cá nhân (socialization) với xã hội hóa giáo dục tại Việt Nam (huy động xã hội theo phương châm EFA - AFE).
Phương pháp nghiên cứu gồm:
- Phân tích tài liệu thứ cấp từ Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Tổng cục Thống kê, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam; Bộ Bình đẳng Giới, Bộ Lao động, Viện Phát triển Nữ giới Hàn Quốc.
- Phỏng vấn sâu 33 trường hợp: 8 lãnh đạo doanh nghiệp, 8 giáo viên mầm non, 10 lao động nữ hai nước, 5 cán bộ Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam và VCCI, 2 cán bộ Tổng Liên đoàn Lao động Hàn Quốc.
- Thảo luận nhóm tập trung: 4 nhóm lãnh đạo doanh nghiệp, 1 nhóm Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, 1 nhóm Viện Chiến lược và Chương trình Giáo dục Hàn Quốc, 1 nhóm Viện Chiến lược Phát triển Chính sách Phụ nữ Hàn Quốc, 2 nhóm giáo viên mầm non hai nước.
- Điều tra bảng hỏi: Khảo sát 152 lao động có con nhỏ tại 3 công ty ở Hà Nội (May 10, Khóa Việt-Tiệp, Vina Korea). Mẫu gồm 11,8% nam, 88,2% nữ; 64,5% gia đình hạt nhân, 35,5% ở chung bố mẹ chồng; con dưới 12 tháng chiếm 12,5%, con 2-3 tuổi chiếm 26,3%, con 3-4 tuổi chiếm 42,8%, con trên 5 tuổi chiếm 18,4%; biên chế 42,8%, hợp đồng 57,2%; làm việc hành chính 74,3%, làm 2 ca 24,3%, làm 3 ca 1,3%. Dữ liệu xử lý bằng SPSS 13.0. Dữ liệu Seoul kế thừa khảo sát của Lee Kyung-suk (2002) với 28 doanh nghiệp và 708 lao động.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Cơ sở lý luận về lao động nữ và giáo dục mầm non trong biến đổi kinh tế - xã hội
Chương 1 hệ thống hóa khái niệm công cụ, lý thuyết giáo dục, xã hội hóa mầm non và biến đổi nhân khẩu. Luận án phân tích sự khác biệt về nuôi dạy trẻ qua ba mô hình phúc lợi quốc gia:
| Phân loại |
Phúc lợi tự do chủ nghĩa |
Phúc lợi chủ nghĩa bảo thủ |
Phúc lợi xã hội dân chủ chủ nghĩa |
| Mục tiêu CS-GD trẻ em |
Quan tâm đến bình diện cá nhân - xã hội |
Duy trì gia đình |
Lực lượng lao động tái sản xuất |
| Trách nhiệm CS-GD trẻ em |
Toàn bộ trách nhiệm là của xã hội |
Trách nhiệm quốc gia nhằm duy trì gia đình |
Quốc gia |
| Tính chất bảo hộ trẻ |
Chính sách phúc lợi (a welfare issue) |
Chính sách gia đình |
Chính sách lao động |
| Thời điểm trợ giúp của chính phủ |
Khi gia đình gặp khó khăn |
Khi gia đình đảm nhiệm nuôi dạy trẻ |
Khi cha mẹ đồng thời nuôi con và kiếm tiền |
Biến đổi gia đình thể hiện qua việc giảm nhanh gia đình ba thế hệ; tại Hàn Quốc năm 2005, gia đình nhỏ chiếm 85%, gia đình lớn còn 6,5%. Tỷ lệ nữ tham gia kinh tế tăng: tại Việt Nam năm 2005, phụ nữ chiếm 43% dân số từ 13 tuổi trở lên có việc làm (thu nhập bằng 70% nam giới); tại Hàn Quốc tăng từ 40% (1980) lên 48,7% (2000). Gia đình cần hai lao động tại EU chiếm 62%, tại Hàn Quốc tăng từ 27,4% (1990) lên 39,5% (2002). Tác động của khủng hoảng kinh tế khiến lao động nữ dễ mất việc và phải chấp nhận công việc giản đơn (tỷ lệ nữ làm nghề giản đơn tại Hàn Quốc tăng lên 51,9% năm 2000). Đứt đoạn nghề nghiệp ở nữ giới Hàn Quốc diễn ra rõ rệt: tỷ lệ lao động tiền công của nữ đạt 71,3%, giảm xuống 44% sau khi lập gia đình và còn 33% sau khi sinh con đầu lòng.
Chương 2: Các hình thức chăm sóc và giáo dục trẻ em lứa tuổi mầm non là con cái người lao động trong các doanh nghiệp Hà Nội
Chương 2 khái quát lịch sử mầm non Việt Nam qua các giai đoạn: 1945-1965, mầm non cơ quan xí nghiệp 1956-1964, nhà trẻ xí nghiệp 1965-1986 và thời kỳ Đổi mới. Trong bối cảnh công nghiệp hóa, phụ nữ chịu gánh nặng phân công lao động gia đình và phân hóa tuyển dụng theo giới. Khảo sát 152 lao động tại 3 doanh nghiệp Hà Nội cho thấy: tại May 10 và Khóa Việt-Tiệp, cơ sở mầm non tại chỗ giúp giảm chi phí, giải tỏa áp lực đưa đón và hạn chế nghỉ việc bất thường. Ngược lại, tại Vina Korea (chưa có trường mầm non), công nhân chịu áp lực chi phí tư nhân và lệch ca kíp. Cả lao động và lãnh đạo đều khẳng định cơ sở mầm non tại nơi làm việc giúp ổn định sản xuất và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp.
Chương 3: Các hình thức chăm sóc và giáo dục trẻ em lứa tuổi mầm non là con cái người lao động trong các doanh nghiệp Seoul
Chương 3 trình bày các giai đoạn phát triển mầm non Hàn Quốc: mở rộng (1962-1987), nâng cao chất lượng (1988-2000) và phúc lợi xã hội (từ 2001). Khung pháp lý gồm Luật Bình đẳng nam nữ trong tuyển dụng lao động (1987) và Luật Chăm sóc và giáo dục trẻ em lứa tuổi mầm non (1991). Đứng trước già hóa dân số và giảm sinh, chính phủ Hàn Quốc áp dụng chính sách trợ cấp kinh phí xây dựng cơ sở, hỗ trợ lương giáo viên và giảm thuế cho doanh nghiệp. Khảo sát 28 doanh nghiệp và 708 lao động tại Seoul (Lee Kyung-suk, 2002) chỉ ra việc mở cơ sở mầm non giúp duy trì nhân lực nữ; công nhân gửi con có mức hài lòng cao nhờ an tâm và giảm chi phí; các kiến nghị tập trung vào việc mở rộng trợ cấp của chính phủ.
Chương 4: Bước đầu so sánh các hình thức chăm sóc và giáo dục trẻ em lứa tuổi mầm non là con cái người lao động trong một số doanh nghiệp ở Hà Nội và Seoul
Chương 4 so sánh giữa hai mô hình:
- Văn hóa và quan niệm: Xã hội hóa ở Việt Nam là huy động các nguồn lực xã hội cùng Nhà nước, còn ở Hàn Quốc là chuyển giao trách nhiệm nuôi dạy trẻ từ gia đình sang xã hội và Nhà nước.
- Pháp luật và quản lý: So sánh tiêu chuẩn xác định doanh nghiệp nhiều lao động nữ và cơ chế phân cấp quản lý giữa ngành giáo dục và ngành lao động.
- Chi phí và hỗ trợ: Phân tích dự toán chi phí xây dựng, vận hành và tỷ lệ học phí so với thu nhập hộ gia đình.
- Nhận thức và thực tiễn: Lãnh đạo và công nhân hai thành phố đều khẳng định cơ sở mầm non tại nơi làm việc nâng cao năng suất và giữ chân lao động. Tuy nhiên, doanh nghiệp Hà Nội thiếu vốn, mặt bằng và khó khăn duy trì sau cổ phần hóa, trong khi doanh nghiệp Seoul vận hành ổn định nhờ hệ thống tài trợ và khung luật pháp hoàn chỉnh của nhà nước.
Kết quả và những đóng góp mới
-
Đóng góp về lý luận:
Luận án hệ thống hóa các vấn đề xã hội học về mối quan hệ giữa lao động nữ và cơ sở giáo dục mầm non tại nơi làm việc; làm rõ sự khác biệt trong quan niệm xã hội hóa giáo dục mầm non giữa Việt Nam và Hàn Quốc. Kết quả nghiên cứu bổ sung tư liệu lý luận và thực chứng cho các chuyên ngành xã hội học lứa tuổi, xã hội học gia đình, xã hội học giới, xã hội học đô thị và xã hội học quản lý.
-
Đóng góp về thực tiễn:
Luận án cung cấp cơ sở khoa học cho các cơ quan hoạch định chính sách tại Việt Nam hoàn thiện khung pháp lý về lao động nữ, tiêu chí doanh nghiệp nhiều lao động nữ và chính sách ưu đãi cho doanh nghiệp có trường mầm non. Kết quả nghiên cứu giúp doanh nghiệp nhận thức lợi ích kinh tế lâu dài của việc mở cơ sở mầm non tại chỗ nhằm giảm biến động lao động, đồng thời đề xuất giải pháp chính sách giảm gánh nặng gia đình, bảo đảm quyền lao động liên tục cho phụ nữ và tăng năng lực cạnh tranh quốc gia.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
-
Hạn chế:
Khảo sát thực nghiệm tại Hà Nội bị giới hạn do số lượng doanh nghiệp có trường mầm non rất ít (chỉ 2-3 doanh nghiệp), dẫn đến quy mô mẫu 152 lao động tại 3 đơn vị; nguồn tư liệu thứ cấp về mầm non doanh nghiệp tại Việt Nam còn thiếu hụt; dữ liệu đối sánh tại Seoul được kế thừa từ công trình công bố năm 2002 của Lee Kyung-suk.
-
Hướng nghiên cứu tiếp:
Mở rộng địa bàn khảo sát sang các khu công nghiệp tập trung ngoài Hà Nội; tăng quy mô mẫu ở doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài; nghiên cứu các mô hình liên kết mầm non cụm doanh nghiệp và cơ chế hợp tác công - tư.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo cho nghiên cứu sinh, giảng viên và nhà nghiên cứu thuộc các chuyên ngành Xã hội học, Giáo dục học, Giới và Phát triển. Công trình cung cấp luận cứ thực tiễn cho cán bộ công đoàn, cơ quan quản lý lao động và giáo dục, cùng lãnh đạo các doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động nữ. Các nội dung đáng chú ý gồm khung phân loại ba mô hình phúc lợi quốc gia (Chương 1), dữ liệu khảo sát thực nghiệm về chi phí và điều kiện làm việc của công nhân tại Hà Nội (Chương 2) và bảng so sánh chính sách hỗ trợ tài chính giữa Hà Nội và Seoul (Chương 4).
Câu hỏi thường gặp
1. Tiêu chí lựa chọn doanh nghiệp khảo sát tại Hà Nội trong luận án được xác định như thế nào?
Tiêu chí căn cứ theo Điều 5, Nghị định 23/CP (ngày 06/11/1997): doanh nghiệp có thường xuyên trên 100 lao động nữ, tỷ lệ lao động nữ đạt từ 30% trở lên so với tổng số lao động có mặt thường xuyên và có trường mầm non đang hoạt động.
2. Mẫu điều tra 152 người lao động tại Hà Nội có đặc điểm cơ cấu ra sao?
Mẫu gồm 88,2% nữ, 11,8% nam; 64,5% gia đình hạt nhân, 35,5% ở chung bố mẹ chồng; con dưới 12 tháng chiếm 12,5%, con 2-3 tuổi chiếm 26,3%, con 3-4 tuổi chiếm 42,8%, trên 5 tuổi chiếm 18,4%; 42,8% biên chế chính thức, 57,2% hợp đồng; 74,3% làm giờ hành chính, 24,3% làm 2 ca và 1,3% làm 3 ca.
3. Dữ liệu thực nghiệm tại Seoul được luận án khai thác từ nguồn nào?
Tác giả sử dụng tư liệu từ công trình của Lee Kyung-suk chủ biên (năm 2002) thuộc Bộ Lao động Hàn Quốc, điều tra xã hội học tại 28 doanh nghiệp có trường mầm non và 708 lao động có con nhỏ.
4. Chu kỳ làm việc của lao động nữ tại Hàn Quốc bị đứt đoạn ra sao?
Theo thống kê trong luận án, tỷ lệ lao động nữ hưởng lương là 71,3%, nhưng giảm xuống còn 44% sau khi lập gia đình và tiếp tục giảm xuống mức 33% sau khi sinh con đầu lòng.
5. Sự khác biệt cơ bản về quan niệm xã hội hóa giáo dục mầm non giữa hai nước là gì?
Tại Việt Nam, xã hội hóa là huy động mọi lực lượng xã hội cùng tham gia đóng góp dưới sự quản lý của Nhà nước; còn tại Hàn Quốc, đây là việc chuyển giao trách nhiệm nuôi dạy trẻ từ gia đình sang trách nhiệm công của Nhà nước và doanh nghiệp.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của Lee Kye Sun (2010) là công trình nghiên cứu xã hội học so sánh về các hình thức chăm sóc giáo dục mầm non cho con em người lao động tại doanh nghiệp ở Hà Nội và Seoul. Thông qua việc kết hợp cơ sở lý luận mác-xít, lý thuyết xã hội hóa và các mô hình phúc lợi quốc gia với khảo sát thực nghiệm tại hai thủ đô, tác giả khẳng định việc phát triển cơ sở mầm non tại nơi làm việc là giải pháp bảo đảm quyền lao động liên tục cho phụ nữ và nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh cho doanh nghiệp. Công trình làm rõ khó khăn về cơ chế, kinh phí tại Hà Nội và chỉ ra bài học kinh nghiệm từ hệ thống trợ cấp của Hàn Quốc. Kết quả nghiên cứu đóng góp cơ sở dữ liệu và khuyến nghị khoa học thiết thực nhằm hoàn thiện chính sách an sinh xã hội đối với lao động nữ trong bối cảnh công nghiệp hóa và hiện đại hóa.