Luận Án Tiến Sĩ: Nghệ Thuật Nghịch Dị Trong Tiểu Thuyết Việt Nam Giai Đoạn 1986 - 2012

Luận án tiến sĩ khám phá nghệ thuật nghịch dị trong tiểu thuyết Việt Nam giai đoạn 1986-2012, phân tích sâu sắc các tác phẩm tiêu biểu.

Chuyên ngành

Văn học Việt Nam

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2017

167
5
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Nghệ thuật nghịch dị và sự đổi mới văn học Việt Nam từ 1986 đến 2012

Nghệ thuật nghịch dị đã trở thành một yếu tố quan trọng trong sự đổi mới của văn học Việt Nam từ năm 1986 đến 2012. Giai đoạn này đánh dấu sự chuyển mình mạnh mẽ trong tư duy sáng tạo, với việc các nhà văn khai thác nghịch dị như một công cụ để phản ánh hiện thực đa chiều và phức tạp. Nghịch dị không chỉ là thủ pháp nghệ thuật mà còn là thế giới quan, giúp nhà văn phá vỡ các khuôn mẫu cũ, tạo ra những hình tượng lệch chuẩn, đầy tính phê phán. Sự đổi mới này thể hiện qua việc thay đổi quan niệm về hiện thực, con người và thể loại, đặc biệt là trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại.

1.1. Nghịch dị từ đổi mới quan niệm về hiện thực

Nghịch dị trong tiểu thuyết Việt Nam từ 1986 đến 2012 đã thay đổi cách nhìn về hiện thực. Các nhà văn không còn bị giới hạn bởi những quy tắc truyền thống mà khai thác hiện thực qua lăng kính đa chiều, phản ánh sự hỗn loạn, mâu thuẫn của xã hội. Những tác phẩm như Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh hay Ăn mày dĩ vãng của Chu Lai đã sử dụng nghịch dị để thể hiện sự đan xen giữa cái thật và cái giả, giữa thiện và ác, tạo nên một hiện thực nghịch dị đầy ám ảnh.

1.2. Nghịch dị từ đổi mới quan niệm về con người

Con người trong tiểu thuyết Việt Nam giai đoạn này được khắc họa qua những hình tượng lệch chuẩn, biếm họa, hoặc mang tính chất nữ quyền mạnh mẽ. Nghịch dị giúp nhà văn phản ánh sự phức tạp trong tâm lý và hành vi của con người, đặc biệt trong bối cảnh xã hội đầy biến động. Những nhân vật như trong tác phẩm của Nguyễn Bình Phương hay Đặng Thân đã trở thành biểu tượng cho sự đổi mới trong cách nhìn nhận về con người.

II. Nghệ thuật nghịch dị trong tiểu thuyết Việt Nam từ 1986 đến 2012 nhìn từ hệ thống hình tượng

Nghệ thuật nghịch dị trong tiểu thuyết Việt Nam giai đoạn này được thể hiện qua hệ thống hình tượng đa dạng, từ nhân vật đến không gian và thời gian. Những hình tượng này không chỉ mang tính chất biếm họa mà còn phản ánh sự đổi mới trong tư duy sáng tạo của các nhà văn.

2.1. Kiểu hình tượng nhân vật nghịch dị

Nhân vật trong tiểu thuyết Việt Nam từ 1986 đến 2012 thường được xây dựng qua những hình tượng lệch chuẩn, biếm họa, hoặc mang tính chất nữ quyền mạnh mẽ. Những nhân vật này không chỉ phản ánh sự phức tạp trong tâm lý và hành vi mà còn trở thành biểu tượng cho sự đổi mới trong cách nhìn nhận về con người. Ví dụ, nhân vật trong tác phẩm của Nguyễn Bình Phương thường mang tính chất phân tâm học, trong khi nhân vật của Đặng Thân lại mang đậm dấu ấn hậu hiện đại.

2.2. Hình tượng không gian và thời gian nghịch dị

Không gian và thời gian trong tiểu thuyết Việt Nam giai đoạn này cũng được khai thác qua lăng kính nghịch dị. Không gian nông thôn, thành thị, hay chiến tranh đều được tái hiện qua những góc nhìn bất thường, tạo nên cảm giác xa lạ, kỳ quái. Thời gian cũng được xóa nhòa ranh giới giữa quá khứ và hiện tại, giữa sinh thành và hủy diệt, tạo nên một thế giới nghịch dị đầy ám ảnh.

III. Nghệ thuật nghịch dị trong tiểu thuyết Việt Nam từ 1986 đến 2012 nhìn từ phương thức biểu hiện

Nghệ thuật nghịch dị trong tiểu thuyết Việt Nam giai đoạn này còn được thể hiện qua các phương thức biểu hiện như ngôn ngữ, giọng điệu và biểu tượng. Những yếu tố này không chỉ làm nổi bật tính chất nghịch dị mà còn góp phần tạo nên sự đổi mới trong phong cách sáng tạo của các nhà văn.

3.1. Ngôn ngữ nghệ thuật nghịch dị

Ngôn ngữ trong tiểu thuyết Việt Nam từ 1986 đến 2012 thường mang tính chất suồng sã, giễu nhại, hoặc mang đậm dấu ấn của ngôn ngữ mạng. Những yếu tố này không chỉ làm nổi bật tính chất nghịch dị mà còn góp phần tạo nên sự đổi mới trong phong cách sáng tạo của các nhà văn. Ví dụ, ngôn ngữ trong tác phẩm của Hồ Anh Thái thường mang tính chất trò chơi, trong khi ngôn ngữ của Nguyễn Việt Hà lại mang đậm dấu ấn tôn giáo.

3.2. Giọng điệu và biểu tượng nghịch dị

Giọng điệu trong tiểu thuyết Việt Nam giai đoạn này thường mang tính chất giễu nhại, tự trào, hoặc bất tín. Những yếu tố này không chỉ làm nổi bật tính chất nghịch dị mà còn góp phần tạo nên sự đổi mới trong phong cách sáng tạo của các nhà văn. Biểu tượng nghịch dị, như tính dục, giấc mơ, hay mê cung, cũng được khai thác để phản ánh sự phức tạp của hiện thực và tâm lý con người.

01/03/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Nghịch dị trong văn học nghệ thuật nói chung và tiểu thuyết nói riêng đã và đang được giới nghiên cứu, lí luận, phê bình và sáng tác quan tâm từ rất sớm. Có rất nhiều ý kiến bàn về vai trò của nghịch dị trong sáng tác văn chương. Khảo sát lịch sử vấn đề nghiên cứu về nghệ thuật nghịch dị trong tiểu thuyết Việt Nam từ 1986 đến 2012, chúng tôi đã xử lí một khối lượng tư liệu phong phú từ các công trình đã xuất bản, các luận án, luận văn, bài viết đăng trên các tạp chí chuyên ngành, báo viết, báo mạng. Từ đó, chúng tôi phân thành các chủ điểm sau: 1.

Nghiên cứu về nghịch dị trong văn học nước ngoài Nghiên cứu về nghịch dị trên thế giới đã có từ lâu, từ công trình nghiên cứu về Rabelais của M.Bakhtin: Sáng tác của Francois Rabelais và nền văn hóa dân gian Trung cổ và Phục hưng. Công trình được triển khai thành 7 chương.Bakhtin đã đưa ra một mô hình mĩ học nghịch dị và chứng minh một cách thuyết phục qua những sáng tác của Francois Rabelais. Đồng thời, trong công trình này, chúng ta cũng được tiếp cận với lí thuyết về chủ nghĩa hiện thực nghịch dị mà hạt nhân cơ bản là tiếng cười lưỡng trị trong nền văn hóa trào tiếu dân gian. Đặc biệt là Hình tượng thân thể nghịch dị trong tác phẩm của Rabelais và nguồn gốc của nó.

Theo đó, có một kiểu chủ nghĩa hiện thực nghịch dị trong sáng tác của Rabelais. Đặc điểm của “chủ nghĩa hiện thực nghịch dị là hạ thấp, tức chuyển vị trí của tất cả những gì cao siêu, tinh thần, lí tưởng, trừu tượng sang bình diện vật chất xác thịt” [11,51]. “Hình tượng nghịch dị thâu tóm hiện tượng ở trạng thái biến chuyển, biến hóa chưa hoàn kết. Quan hệ với thời gian, với sự biến hóa là đặc điểm không thể thiếu được ở hình tượng nghịch dị.

Một đặc điểm liên đới khác và cũng không thể thiếu ở nó là tính hai chiều, ở nó dưới hình thức này hay hình thức khác, hiện diện cả hai cực của sự biến đổi-cả cái cũ lẫn cái mới, cả cái đang chết lẫn cái đang ra đời, cả điểm khởi đầu và kết thúc của quá trình biến hóa” [11,58]. “Hình tượng nghịch dị mang tính nước đôi và mâu thuẫn. Chúng kì dị, quái đản và xấu xí theo quan điểm của mọi thứ mĩ học cổ điển, tức là mĩ học của một sự sinh tồn và hoàn kết. Một trong những khuynh hướng chủ yếu của hình tượng nghịch dị tựu trung lại cho thấy hai thân thể trong một thân thể, một thân thể đang sinh nở, đang tiêu vong, một thân thể khác được thụ thai, đang được ấp ủ, đang được sinh hạ” [11,61].

Như vậy, theo 5 Bakhtin nghịch dị là lệch/ chống/ phá chuẩn, mà chuẩn ở đây là những gì đã trở thành chính thức, chính thống, đã xơ cứng, hoàn kết. “Trong lĩnh vực văn học, tất cả các thể loại giễu nhại đều được xây dựng trên cơ sở quan niệm nghịch dị về thân xác. Cuối cùng, cũng quan niệm thân xác ấy làm cơ sở cho lối mắng chửi, nguyền rủa, thề tục mà ý nghĩa của chúng đối với việc hiểu đúng đắn nền văn học hiện thực chủ nghĩa nghịch dị là vô cùng to lớn” [11,63]. Đây là luận điểm liên quan đến ngôn ngữ nghịch dị.

Theo Bakhtin, ngôn ngữ quảng trường suồng sã, với lối mắng chửi, nguyền rủa, thề tục là tinh thần của ngôn ngữ nghịch dị. “Trên thực tế, chính hình tượng nghịch dị giải thoát con người khỏi mọi hình thức của cái tất yếu phi nhân đã ngấm sâu vào những quan niệm chính thống về thế giới. Cái nghịch dị đã hạ uy tín của cái tất yếu, cho thấy nó như một cái tương đối và hữu hạn. Yếu tố tiếng cười và cảm quan hội giả trang làm cơ sở cho hình tượng nghịch dị đã phá vỡ chất nghiêm trang hạn hẹp ấy với mọi tham vọng đạt tới giá trị vĩnh hằng, vô điều kiện ở những quan niệm này hay quan niệm khác về cái tất yếu, nó giải phóng ý thức, tư tưởng và trí tưởng tượng con người cho những khả năng mới” [11,97].Bakhtin, thuật ngữ grotesque ra đời lần đầu tiên ở thời Phục hưng, nhưng lúc đầu nó được dùng theo nghĩa hẹp.

Người ta phát hiện ra một kiểu hoa văn, được gọi bằng tiếng Ý là lagrottesca, bắt nguồn từ chữ grotta trong tiếng Ý có nghĩa là hang, động. Theo thời gian, thuật ngữ này được mở rộng nghĩa.Bakhtin chỉ ra kiểu hình tượng nghịch dị và chủ nghĩa hiện thực nghịch dị trong sáng tác của Rabelais trên cơ sở phân tích quan niệm của các nhà mĩ học như Hegel và Vischer: “Trước hết, khi bàn về cái nghịch dị, Hegel thực chất chỉ nói đến nghệ thuật nghịch dị cổ sơ mà ông định nghĩa như một biểu hiện của trạng thái tinh thần tiền cổ điển và tiền triết học. Chủ yếu căn cứ vào nghệ thuật cổ sơ Ấn Độ, Hegel xác định ba đặc điểm ở hình tượng nghịch dị: “sự pha trộn các lĩnh vực tự nhiên khác nhau, tính phóng đại quá mức và sự gia tăng một số bộ phận cơ thể (hình tượng các thần linh Ấn Độ nhiều chân, nhiều tay). Hegel hoàn toàn không biết đến vai trò tổ chức tiếng cười trong hình tượng nghịch dị và xem xét cái nghịch dị ngoài mọi mối quan hệ với cái hài.Vischer trong vấn đề cái nghịch dị đã đi chệch hướng Hegel.

Bản chất và động lực của cái nghịch dị, theo Vitcher là cái hài, cái nực cười. Cái nghịch dị là cái gì đó có hình thức kì diệu, đó là cái huyền thoại. Những định nghĩa ấy của Vischer không phải không có một độ sâu nhất định” [11,89]. Rồi ông đi đến kết luận: “Cần phải nói rằng trong suốt quá trình phát triển sau này của mĩ học, 6 triết học, cho đến tận ngày nay, cái nghịch dị vẫn chưa được thấu hiểu và đánh giá đúng mức, nó vẫn chưa có chỗ đứng trong hệ thống mĩ học” [11, 89].

Đồng thời, theo M.Bakhtin, nghịch dị phát triển từ Phục hưng, trải qua các thời đại Ánh sáng, chủ nghĩa lãng mạn, đến thế kỉ XX một lần nữa lại hồi sinh mãnh liệt. Ông dành nhiều trang để phân tích hình tượng nghịch dị của chủ nghĩa lãng mạn. Biểu hiện của hình tượng này trong chủ nghĩa lãng mạn đó là motif người điên, mặt nạ, búp bê-con rối.Bakhtin nhận định: “Sau chủ nghĩa lạng mạn, từ nửa sau thế kỉ XIX, mối quan tâm đến cái nghịch dị suy giảm rõ rệt cả trong văn học lẫn trong tư tưởng nghiên cứu văn học. Khi nhắc đến cái nghịch dị, người ta chỉ coi nó như một trong những hình thức pha trò hạ đẳng, dung tục hoặc như một hình thức nghệ thuật trào phúng đả phá các hiện tượng tiêu cực thuần túy và riêng lẻ.

Với cách hiểu như thế, toàn bộ chiều sâu và tính phổ quát của các hình tượng nghịch dị đã bị tiêu tan không còn dấu tích. Năm 1894, một công trình đồ sộ nhất về nghệ thuật nghịch dị được xuất bản, đó là cuốn Lịch sử văn chương trào phúng nghịch dị của học giả Đức Schneegans. Schneegans là đại diện triệt để nhất cho cách hiểu nghịch dị theo tinh thần trào phúng thuần túy, đó là sự phóng đại cái không được tồn tại, cái bị phủ định, mà lại phóng đại quá cái mức có thể tin được, đến nỗi trở nên huyễn hoặc. Chính nhờ cách phóng đại quá mức như thế, cái không được tồn tại sẽ bị đả phá về mặt luân lí và xã hội” [11,90].

Theo Schneegans, cái hài được chia thành ba phạm trù: cái hề (possen hait), cái trào lộng (burlesque) và cái nghịch dị (grotesque). Bakhtin đã chỉ ra sự nhầm lẫn của Schneegans trong công trình Sáng tác của Francois Rabelais và văn hóa dân gian thời Trung cổ và Phục hưng. Theo ông, tính chất quan trọng nhất của grotesque là tính lưỡng trị. “Đến thế kỉ XX, kiểu hình tượng nghịch dị một lần nữa lại hồi sinh mãnh liệt, mặc dầu từ hồi sinh cũng chưa hoàn toàn xác đáng để nói về một số dạng thức hình tượng nghịch dị hiện đại” [11,91].

“Rất đặc trưng cho hình tượng nghịch dị hiện đại là một định nghĩa như thế này về nó của Kayer: Cái nghịch dị là hình thức biểu hiện của cái vô ngã” [11,96]. Wolfgang Kayser, trong cuốn Nghịch dị trong nghệ thuật và văn học, cho rằng: “Nghịch dị là một sự biểu hiện của thế giới xa lạ và bị ghẻ lạnh, nghĩa là thế giới quen thuộc được nhìn từ một phối cảnh bất ngờ làm cho nó xa lạ (và sự xa lạ này có thể mang tính hài hước hoặc/và khiếp sợ). Nghịch dị là một trò chơi phi lý, dường như nghệ sĩ nghịch dị diễn trò nửa như vui đùa, nửa như kinh khiếp, bằng những điều thậm phi lý của sự tồn tại. Cái nghịch dị là một nỗ lực điều khiển và xua đuổi những nhân tố ma quỷ 7 trong thế giới” [128,16].

Đến lí thuyết về nghịch dị của Bloom, trong cuốn Nghịch dị (The Grotesque), Bloom đã sưu tầm tất cả các bài viết về nghịch dị và chỉ ra rằng nghịch dị được thể hiện qua rất nhiều phương diện như nghịch dị trong nghệ thuật xây dựng nhân vật kiểu con người biến dạng trong Hóa thân của Kafka, hay kiểu con người méo mó nhân cách, thiểu năng trí tuệ như Anse Bunden và thi thể Addie trong Khi tôi nằm xuống của Faulkner. Hơn thế nữa, nghịch dị còn nằm ở nghệ thuật trần thuật nghịch dị. Ở bài, Nghịch dị trong Chiếc áo khoác của Gogol, James Joney đã chỉ ra không phải con người hay bóng ma là nghịch dị mà chính là ngôn từ nghệ thuật nghịch dị với sự kết hợp ngôn ngữ hiếm hoi của người kể chuyện cùng với những lời trong tương quan kết hợp, sự chơi chữ, ngôn ngữ trò chơi và những câu chuyện tán gẫu, tầm phào của thành thị. Đặc biệt, quan niệm của J.R Holt gây ấn tượng khi ông cho rằng “Mĩ học của nghịch dị là mĩ học của cái xấu đẹp đẽ.

Vì nó phá vỡ nhận thức thông thường của chúng ta về cái đẹp, cái hài hòa, cái trật tự và cái có ý nghĩa, buộc chúng ta phải tìm ra cảm giác ngoài những phạm trù quen thuộc của cái đẹp và cái đã biết” [159,189]. Theo Michael, trong bài nghiên cứu về tiểu thuyết Khi tôi nằm xuống của Faulkner, ông đồng ý với Phillip Thomson khi cho rằng nghịch dị là sự hòa trộn của cả yếu tố hài hước và sợ hãi. “Nghệ thuật nghịch dị là nghệ thuật của những nhân cách xấu (Grotesque art is art with bad manners)” [159,13]. Hơn thế nữa, nội dung của nó cũng phải bao hàm cái bất thường.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án tiến sĩ "Nghệ Thuật Nghịch Dị Trong Tiểu Thuyết Việt Nam Từ 1986 Đến 2012" là một nghiên cứu chuyên sâu về sự xuất hiện và phát triển của yếu tố nghịch dị trong văn học Việt Nam giai đoạn đổi mới. Tác phẩm không chỉ phân tích các đặc điểm nghệ thuật độc đáo mà còn khám phá cách các nhà văn sử dụng nghịch dị để phản ánh hiện thực xã hội và tâm lý con người. Đọc luận án này, độc giả sẽ hiểu rõ hơn về sự biến đổi trong tư duy sáng tạo và cách tiếp cận nghệ thuật của văn học Việt Nam hiện đại.

Để mở rộng kiến thức về nghệ thuật trong văn học, bạn có thể tham khảo thêm Luận văn thạc sĩ văn học nghệ thuật trần thuật trong truyện và tiểu thuyết của nguyên hồng trước cách mạng tháng tám, nghiên cứu về phong cách trần thuật đặc sắc của Nguyên Hồng. Ngoài ra, Luận văn kết cấu và nghệ thuật xây dựng nhân vật trong một số tiểu thuyết mạc ngôn sẽ giúp bạn khám phá cách xây dựng nhân vật trong tiểu thuyết hiện đại. Cuối cùng, Luận văn thạc sĩ văn học một vài đặc điểm nghệ thuật tiểu thuyết milan kundera mang đến góc nhìn so sánh với văn học thế giới, làm phong phú thêm hiểu biết của bạn về nghệ thuật tiểu thuyết.