Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ Ngữ văn chuyên ngành Văn học nước ngoài (mã số 62.45) với đề tài "Nghệ thuật châm biếm trong tiểu thuyết Nho lâm ngoại sử của Ngô Kính Tử" do nghiên cứu sinh Lê Sỹ Điền thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Trần Lê Bảo tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội năm 2017.
Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, tác giả chỉ ra rằng xã hội Trung Quốc thời Mãn Thanh chứng kiến mâu thuẫn đối kháng sâu sắc giữa tập đoàn phong kiến cầm quyền và nhân dân. Nhà nước phong kiến một mặt áp dụng chính sách khoa cử nhằm ru ngủ, biến tầng lớp trí thức thành công cụ cai trị; mặt khác thẳng tay đàn áp, thiết lập các vụ "văn tự ngục" khốc liệt. Trước bối cảnh đó, Ngô Kính Tử đã từ bỏ con đường cử nghiệp, chuyển dịch điểm nhìn nghệ thuật để sáng tác bộ tiểu thuyết Nho lâm ngoại sử dài hơn 30 vạn chữ nhằm phơi bày sự tha hóa của giới nho sĩ và bản chất sâu mọt của tầng lớp quan lại. Tại Việt Nam, so với các danh tác chương hồi Minh - Thanh khác, Nho lâm ngoại sử chưa nhận được sự quan tâm nghiên cứu tương xứng; các công trình chuyên sâu về nghệ thuật châm biếm, phân loại hệ thống hình tượng biếm họa, cũng như phân tích có hệ thống các tình huống và giọng điệu châm biếm của tác phẩm vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục làm rõ.
Mục đích nghiên cứu của luận án được xác định cụ thể qua ba nội dung đánh số theo văn bản:
- Tìm hiểu nghệ thuật châm biếm trong Nho lâm ngoại sử để khẳng định loại hình châm biếm của tác phẩm, một cuốn tiểu thuyết châm biếm xã hội có tính chiến đấu bền bỉ và sức sống lâu dài trong lòng người đọc.
- Tìm hiểu thế giới nhân vật trong tác phẩm qua việc phân loại đối tượng, phân tích các mẫu hình châm biếm để thấy được thái độ, mức độ châm biếm của tác giả thể hiện qua cách miêu tả, khắc họa từng nét chân dung nhân vật, từng tầng lớp, giai cấp khác nhau trong tiểu thuyết Nho lâm ngoại sử.
- Nghiên cứu phương thức châm biếm trong Nho lâm ngoại sử từ việc phát hiện và xây dựng những tình huống châm biếm đến ngôn ngữ, giọng điệu châm biếm. Qua đó, khẳng định nghệ thuật châm biếm của Ngô Kính Tử ở chỗ ý vị châm biếm lộ ra một cách tự nhiên qua sự phát triển của tình tiết.
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là nghệ thuật châm biếm của tiểu thuyết Nho lâm ngoại sử trên ba bình diện chính: loại hình châm biếm, nghệ thuật châm biếm qua hệ thống nhân vật và phương thức châm biếm.
Phạm vi nghiên cứu tập trung vào văn bản 56 hồi của tác phẩm qua bản dịch tiếng Việt: Chuyện làng nho do Phan Võ và Nhữ Thành dịch (Nhà xuất bản Văn học, Hà Nội, 1989). Để làm nổi bật nét đặc thù của ngòi bút Ngô Kính Tử, luận án mở rộng khảo sát so sánh với các tác phẩm cùng thời hoặc cùng khuynh hướng trào phúng như Liêu Trai chí dị (Bồ Tùng Linh), Hồng Lâu Mộng (Tào Tuyết Cần), truyện ngắn của Lỗ Tấn, cùng các tác phẩm văn học Việt Nam như Việc làng, Lều chõng (Ngô Tất Tố), Số đỏ (Vũ Trọng Phụng).
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã tổng thuật toàn diện lịch sử nghiên cứu Nho lâm ngoại sử nói chung và nghệ thuật châm biếm của tác phẩm nói riêng từ ba nguồn tư liệu học thuật: Trung Quốc, phương Tây và Việt Nam.
Tại Trung Quốc, tiến trình nghiên cứu trải qua nhiều giai đoạn:
- Giai đoạn trước thế kỷ XX: Các nhà phê bình thời Thanh tiếp cận tác phẩm qua phương pháp bình điểm. Ngọa nhàn thảo đường đã chỉ ra thủ pháp tự sự khách quan "vẽ mây nẩy trăng" ở hồi 4, tính chất "thực hư tương sinh" ở hồi 24 và kết cấu sắp đặt chặt chẽ tựa việc xây dựng cung thất ở hồi 33; Tề Tỉnh Đường nhận xét về nghệ thuật "huyền niệm thiết trí" ở hồi 39.
- Giai đoạn đầu thế kỷ XX đến cuối những năm 1950: Lỗ Tấn trong Trung Quốc tiểu thuyết sử lược khẳng định đây là cuốn tiểu thuyết châm biếm xã hội đầu tiên đạt đỉnh cao, đồng thời ví kết cấu tác phẩm như bức tranh ghép bằng các mảnh giấy vụn nối tiếp nhau. Tào Ngu vào thập niên 1930 nhận định tác phẩm có sự sáng tạo về kết cấu cắt dọc (theo số phận) và cắt ngang (theo bề mặt cuộc sống). Mạnh Chu (1959) khảo cứu tính tư tưởng và nghệ thuật dưới góc độ xã hội học.
- Giai đoạn từ những năm 1960 đến hết thế kỷ XX: Trương Trọng Thuần (thập niên 1960) xem việc công kích khoa cử là sự phủ nhận hệ thống kiến trúc thượng tầng phong kiến. Khang Thái Quyền (1985) nghiên cứu hình tượng nghệ thuật và chủ đề tư tưởng. Âu Dương Kiện (1985) bàn về kết cấu chỉnh thể thiện - ác; Trần Mĩ Lâm (1985) chỉ ra các bất đồng về chủ đề. Sở nghiên cứu Văn học thuộc Viện Khoa học Xã hội Trung Quốc (trong Lịch sử văn học Trung Quốc, tập 2) nhận định tác phẩm có thái độ châm biếm nghiêm túc và không có nhân vật chính xuyên suốt. Hoàng Tuệ Linh (1992) nghiên cứu các mô hình tự sự nhỏ ghép nối; Chu Nguyệt Lượng (1996) bàn về bi kịch tha hóa đạo đức; Trương Cẩm Trì (1998) phân tích tư tưởng "quốc gia lý tưởng"; Ngô Chính Hiến (1998) khảo sát chế độ thi cử; Vương Hải Dương (1999) phân tích ba cấp bậc thẩm mỹ sáng tạo.
- Giai đoạn đầu thế kỷ XXI đến nay: Trương Quốc Phong khẳng định quy mô phúng thích đồ sộ của tác phẩm. Trần Mĩ Lâm (2002) bàn về tư tưởng dân chủ; Kiều Quang Huy (2004) mổ xẻ bi kịch hủ nho ở hình tượng Vương Ngọc Huy; Lê Thời Tân (2004) bảo vệ luận án tiến sĩ tại Đại học Nam Khai về kết cấu và hình thái nhân vật. Chu Kiến Hoa (2005) bàn về mâu thuẫn giữa "sĩ" và "ẩn"; Đồ Vinh (2006) nghiên cứu tâm lý sáng tác hình tượng; Triệu Ái Hoa (2006) khảo sát tư tưởng tác giả; Đới Minh Ngọc (2007) phân tích chân dung nhân vật; Diêu Khâm (2009) phê bình đạo đức tầng lớp sĩ tử; Thôi Thần (2009) phân loại 5 kiểu nhân vật nữ; Lưu Dục Như (2009) nghiên cứu lễ tục; Trương Hồng Yến (2011) bàn về điểm nhìn trần thuật; Lưu Thụy Châu (2014) khảo sát tác động của chế độ khoa cử.
- Nghiên cứu chuyên sâu về nghệ thuật châm biếm tại Trung Quốc: Chu Tiên Thận (1980) phân tích đoạn Phạm Tiến trúng cử trên ba phương diện (hành động - ngôn ngữ khách quan, nghệ thuật tương phản so sánh, ngôn ngữ địa phương). Lâm Nguyên Mậu (1982), Vũ Thời Dĩnh (1985), Chu Khải (2000), Lí Hiếu Kim (2001), Phó Dục Dân (2005), Cổ Vĩnh Tân (2007), Trương Nam Chương (2008), Trần Diên Hổ (2009), Vương Năng Kiệt (2009), La Cao, Triệu Hiểu Hồng (2013), Lương Nhuận Bình (2011), Lí Lệ (2011), Vương Cẩm Lượng (2013), Thư Khôn Nghiêu (2013), Lí Hoa (2013), Đổng Danh Kiệt (2014), Trương Hải Luân (2014), Lí Trí Canh (2013 - chia sĩ tử thành ba loại: hám danh hủ lậu, dựa dẫm quyền thế, và cự tuyệt công danh), Quách Diễm Hà (2015) đều làm rõ việc tác giả sử dụng các thủ pháp tương phản, cường điệu, phóng đại để khắc họa chân dung biếm họa.
Ở phương Tây, C. Hsia (1968) xếp tác phẩm vào 6 bộ tiểu thuyết cổ điển lớn của Trung Quốc; Lai Ming (1966) bàn về tính phi liên tục của cấu trúc; Henry W. Wells (1971) so sánh tầm vóc Ngô Kính Tử với Boccaccio, Cervantes, Balzac và Dickens; Lin Shuan-fu (1973) nghiên cứu nghi thức và cấu trúc tự sự; Paul S. Ropp (1974) phân tích tư tưởng phê phán chính trị - xã hội; Daniel Joseph Bauer (1988) đặt Nho lâm ngoại sử đối sánh với Tom Jones của Henry Fielding; Marston Anderson (1997) phân tích nghi thức, ký ức và dục vọng; Whitney Crothers Dilley (1998) tiếp cận tác phẩm dưới góc độ tiểu thuyết picaresque; Yang Liyu (1978) nghiên cứu nghệ thuật người kể chuyện toàn tri.
Tại Việt Nam, Nguyễn Khắc Phi (1987) khẳng định sự thống nhất của tác phẩm nằm ở chủ đề tư tưởng trung tâm; Lương Duy Thứ phân chia bốn loại nho sĩ và so sánh ngòi bút tác giả với bút pháp Xuân Thu, Sử ký và Lỗ Tấn; Phan Võ và Nhữ Thành (1989) nhận xét nghệ thuật châm biếm của tác phẩm tương đồng với phương pháp hiện thực phê phán phương Tây thế kỷ XIX; Nguyễn Huy Khánh nhận định văn phong châm biếm của Ngô Kính Tử mang sắc thái bình tĩnh, phớt lạnh; Trần Kiết Hùng chỉ ra hiệu quả châm biếm tự nhiên qua tình tiết điển hình. Đặc biệt, Lê Thời Tân qua hàng loạt công trình (2006-2016) đã vận dụng thi pháp học và tự sự học để khảo sát nguyên tắc đối đẳng, cấu trúc thể loại phiến đoạn, xung đột giữa "Đạo - thống" và "Thế - quyền", cấu trúc bộ ba nhân vật qua Luận ngữ, sách lược tự sự màn Tế đền Thái Bá, nhân vật Vương Miện, câu chuyện "tứ khách" ở hồi 55 và thủ pháp "lộn trái" hình tượng Trang Thiệu Quang.
Trên cơ sở kế thừa các thành tựu trên, luận án xác định vị trí nghiên cứu: đi sâu giải quyết khoảng trống về việc phân loại có hệ thống các đối tượng châm biếm theo giai tầng, phân tích cơ chế tạo tiếng cười qua 3 mô hình tình huống điển hình và 3 sắc thái giọng điệu tự sự của Ngô Kính Tử.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án xây dựng khung lý thuyết dựa trên việc làm rõ khái niệm châm biếm từ góc độ ngôn ngữ học, từ nguyên học Hán - Việt và mỹ học:
- Khái niệm châm biếm và phúng thích: Phân tích từ nguyên chữ Hán cho thấy "châm" (針 - kim khâu, kim tiêm) kết hợp với "biêm" (砭 - kim bằng đá dùng châm vào da thịt trị bệnh thời cổ), nghĩa bóng là lời nói răn dạy, chỉ trích điều sai sót. Cách dùng "châm biếm" (針貶) trong tiếng Việt là sự nói chệch của "châm biêm" (針砭), tạo nghĩa tương đương với thuật ngữ "phúng thích" (諷刺) trong tiếng Hán (dùng lời bóng gió, kín đáo để chế giễu, đả kích thói hư tật xấu).
- Phạm trù mỹ học cái hài: Luận án vận dụng quan điểm của Kant (cái hài sinh ra từ mâu thuẫn giữa cái thấp hèn và cái cao cả), Hegel (sự tương phản giữa tính bất lực bên trong và vẻ ngoài huênh hoang), Tsernyshevski (sự trống rỗng vô nghĩa che đậy bằng cái vỏ có nội dung) và Belinsky (phân biệt giữa u-mua điềm tĩnh và tiếng cười châm biếm nghiêm khắc, cay độc, không thương xót). Qua đó, xác định châm biếm là cung bậc cao của cái hài, mang chức năng phủ định xã hội sâu sắc.
- Phân biệt các cấp độ gây cười: Tác giả phân định ranh giới giữa hài hước (humor - cung bậc nhẹ nhàng, thiện ý), mỉa mai (irony - giả vờ, ngầm ẩn) và châm biếm (satire - sắc sảo, phơi bày bản chất thoái hóa).
Hệ thống phương pháp nghiên cứu thực tế bao gồm:
- Phương pháp hệ thống hóa (chủ đạo): Bao quát toàn bộ văn bản 56 hồi nhằm xâu chuỗi các tuyến nhân vật, biến cố và thủ pháp thành một chỉnh thể nghệ thuật trào phúng.
- Phương pháp liên ngành: Vận dụng tri thức mỹ học, sử học xã hội thời Thanh, tâm lý học sáng tạo và văn hóa học Nho giáo.
- Phương pháp loại hình: Phân tách và mô hình hóa các nhóm nhân vật, các dạng tình huống và các sắc thái giọng điệu.
- Phương pháp phân tích văn bản: Khảo sát ngôn ngữ tự sự, chi tiết miêu tả ngoại hình, cử chỉ và đối thoại của nhân vật.
- Phương pháp so sánh: Đối chiếu thi pháp châm biếm của Ngô Kính Tử với các tác giả Trung Quốc (Liêu Trai chí dị, Hồng Lâu Mộng, Lỗ Tấn) và văn học hiện thực Việt Nam (Việc làng, Lều chõng, Số đỏ).
- Kỹ thuật bổ trợ: Thống kê, phân loại các đơn vị nhân vật, sự kiện, thủ pháp gây cười.
Nguồn tư liệu nghiên cứu trực tiếp là tác phẩm Chuyện làng nho (Phan Võ - Nhữ Thành dịch, 1989) đối chiếu với các bản văn chữ Hán, cùng hệ thống tài liệu phê bình, luận văn, luận án và bài báo khoa học xuất bản tại Trung Quốc, phương Tây và Việt Nam.
Nội dung chính theo từng chương
Bố cục phần nội dung chính của luận án được triển khai thành 4 chương cụ thể:
Chương 1: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
Chương này tập trung hệ thống hóa lịch sử tiếp nhận và nghiên cứu Nho lâm ngoại sử qua các thời kỳ lịch sử và không gian học thuật. Tác giả phân tích chi tiết các xu hướng nghiên cứu tại Trung Quốc từ lối bình điểm truyền thống của Ngọa nhàn thảo đường, Tề Tỉnh Đường đến các nghiên cứu hiện đại của Lỗ Tấn, Tào Ngu, Trương Trọng Thuần, Chu Tiên Thận, Lê Thời Tân; tổng thuật các công trình nghiên cứu phương Tây của C. Hsia, Daniel Joseph Bauer, Marston Anderson; đồng thời điểm lại các bài viết, chuyên luận của các học giả Việt Nam như Nguyễn Khắc Phi, Lương Duy Thứ, Phan Võ, Nhữ Thành, Nguyễn Huy Khánh, Lê Thời Tân. Từ việc tổng thuật, chương 1 xác lập khoảng trống khoa học và định vị hướng đi riêng của luận án.
Chương 2: Loại hình châm biếm của Nho lâm ngoại sử
Chương 2 làm sáng tỏ các tiền đề tư tưởng, văn hóa và xã hội dẫn tới sự hình thành loại hình châm biếm của tác phẩm:
- Tiền đề hình thành: Tác giả chỉ ra ảnh hưởng của truyền thống văn hóa - văn học dân tộc (thơ ca phúng dụ cổ đại, bút pháp sử ký) kết hợp với hoàn cảnh xuất thân quý tộc sa sút, sự trải nghiệm thực tế đời sống và sự thức tỉnh tư tưởng của chính Ngô Kính Tử khi đoạn tuyệt với chế độ khoa cử.
- Đặc trưng châm biếm: Ngòi bút tác giả tập trung mỉa ngầm hệ thống Nho học, chế độ thi cử bát cổ làm tha hóa nhân cách con người, đồng thời đả kích phương thức trị quốc mục ruỗng, giả tạo của tập đoàn phong kiến Mãn Thanh.
- Ý nghĩa tiếng cười: Tiếng cười trong tác phẩm mang tính chất bi hài kịch, vừa phê phán quyết liệt cái xấu, vừa bộc lộ nỗi xót xa trước sự suy đồi của nền văn hóa truyền thống.
Chương 3: Nghệ thuật châm biếm qua hệ thống nhân vật
Chương 3 khảo sát và phân loại thế giới nhân vật đồ sộ trong Nho lâm ngoại sử thành hai nhóm giai tầng xã hội lớn, qua đó chỉ ra các thủ pháp khắc họa chân dung biếm họa điển hình:
- Tầng lớp trí thức nho sĩ:
- Nhóm đỗ đạt: Bị công danh phú quý làm biến chất, trở nên ngu muội, xu phụ quyền lực và hợm hĩnh (tiêu biểu như Chu Tiến, Phạm Tiến phát điên khi đỗ cử nhân).
- Nhóm thi trượt, lỗi thời: Ôm giữ mộng công danh viển vông, hành xử gàn dở, giáo điều hoặc tha hóa thành kẻ lừa lọc, đạo đức giả (như Khuông Siêu Nhân, Vương Ngọc Huy cổ vũ con gái tuẫn tiết theo chồng).
- Tầng lớp thống trị:
- Tầng lớp vua chúa: Được phản ánh gián tiếp qua các chiếu chỉ tuyển mộ, cơ chế thi cử hình thức và chính sách cai trị dung dưỡng sự giả trá.
- Hệ thống quan lại: Hiện lên như những kẻ sâu mọt, vơ vét của cải, dốt nát về chính sự nhưng tinh vi trong thủ đoạn áp bức nhân dân (như Trương Tĩnh Trai, Thang tri huyện, Vương Huệ, Nghiêm cống sinh).
Chương 4: Phương thức châm biếm trong Nho lâm ngoại sử
Chương 4 phân tích các phương thức nghệ thuật cụ thể được Ngô Kính Tử sử dụng để tổ chức văn bản tự sự và kiến tạo hiệu quả gây cười:
- Tình huống châm biếm: Tác giả phân loại và làm rõ ba kiểu tình huống chính:
- Tình huống đảo chiều, quay ngược: Sự tương phản đột ngột về vị thế xã hội và cách ứng xử trước và sau khi thi đỗ (như thái độ xỉ vả chuyển sang nịnh bợ của bố vợ Phạm Tiến).
- Tình huống cãi lộn, kiện tụng: Phơi bày bản chất tham lam, trơ trẽn của giai cấp thống trị qua các vụ tranh chấp quyền lợi đời thường.
- Tình huống mưu mô, sắp đặt: Vạch trần sự dối trá, lừa lọc của những kẻ mang danh nho sĩ nhưng thực chất là lưu manh tri thức.
- Giọng điệu châm biếm: Hệ thống hóa ba âm sắc giọng điệu trần thuật:
- Giọng điệu hài hước: Miêu tả những hành vi vụng về, kệch cỡm gây tiếng cười giải trí nhẹ nhàng.
- Giọng điệu triết lý: Những suy ngẫm kín đáo, thâm trầm về nhân tình thế thái và sự suy tàn của đạo lý.
- Giọng điệu mỉa mai: Lối trần thuật phớt lạnh, khách quan bên ngoài nhưng chứa đựng sự đả kích, châm biếm sâu cay bên trong.
Bảng tổng hợp hệ thống phân loại nhân vật, tình huống và giọng điệu châm biếm trong luận án:
| Bình diện nghệ thuật |
Phân nhóm / Kiểu loại |
Nhân vật / Biểu hiện tiêu biểu trong tác phẩm |
| Hệ thống nhân vật |
• Nho sĩ đỗ đạt |
Chu Tiến, Phạm Tiến (phát điên vì đỗ đạt, biến đổi tâm tính) |
|
• Nho sĩ thi trượt, lỗi thời |
Khuông Siêu Nhân (tha hóa), Vương Ngọc Huy (hủ nho cực đoan) |
|
• Tầng lớp quan lại thống trị |
Trương Tĩnh Trai, Vương Huệ, Nghiêm cống sinh, Thang tri huyện |
|
• Nhân vật chính diện/khí phách |
Vương Miện, Đỗ Thiếu Khanh, Thẩm Quỳnh Chi, nhóm "tứ khách" |
| Tình huống châm biếm |
• Tình huống đảo chiều, quay ngược |
Bố vợ đối đãi với Phạm Tiến trước và sau khi trúng cử nhân |
|
• Tình huống cãi lộn, kiện tụng |
Các vụ tranh chấp đất đai, kiện cáo bộc lộ lòng tham quan lại |
|
• Tình huống mưu mô, sắp đặt |
Nho sĩ giả danh danh sĩ mưu cầu lợi ích, lừa gạt bằng cấp |
| Giọng điệu nghệ thuật |
• Giọng điệu hài hước |
Tiếng cười trào lộng trước các hành vi ngô nghê, kệch cỡm |
|
• Giọng điệu triết lý |
Suy tư sâu sắc về sự suy thoái văn hóa và bi kịch kẻ sĩ |
|
• Giọng điệu mỉa mai |
Lối văn "lạnh lùng, phớt tỉnh", giấu kín thái độ người kể chuyện |
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án đã tự xác định các đóng góp mới về mặt lý luận và thực tiễn nghiên cứu văn học:
- Về mặt nhận thức chủ đề: Luận án làm sáng tỏ chân chủ đề của Nho lâm ngoại sử, khẳng định đây là tác phẩm châm biếm xã hội có sức công phá trực diện vào hệ thống khoa cử và thiết chế Nho học suy tàn thời Mãn Thanh, vượt ra khỏi giới hạn của tiểu thuyết giải trí thông thường.
- Về phương diện thi pháp nhân vật: Luận án đã tiến hành thống kê, khảo sát và thiết lập mô hình phân loại rạch ròi các tuyến nhân vật theo trục giai tầng và mức độ tha hóa, giúp người đọc nhận diện rõ cấu trúc hình tượng nghệ thuật phức hợp của tác phẩm.
- Về phương thức tự sự châm biếm: Luận án hệ thống hóa một cách đồng bộ các phương thức tạo tác tiếng cười, chứng minh sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa 3 dạng mô hình tình huống (đảo chiều, kiện tụng, mưu mô) với 3 âm sắc giọng điệu (hài hước, triết lý, mỉa mai), làm rõ nghệ thuật giấu kín thái độ của người kể chuyện theo lối "vẽ mây nẩy trăng".
- Về giá trị so sánh văn học: Luận án đặt tác phẩm vào trục so sánh với các kiệt tác cổ điển Trung Quốc và văn học hiện thực phê phán Việt Nam, góp phần khẳng định vị thế đỉnh cao của Nho lâm ngoại sử trong dòng tiểu thuyết chương hồi phương Đông.
Về mặt kiến nghị khoa học, luận án đề xuất việc vận dụng phương pháp phân tích thi pháp học và tự sự học vào việc giảng dạy, tiếp cận các tác phẩm tiểu thuyết cổ điển Trung Quốc trong chương trình đại học và sau đại học.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Về mặt hạn chế, do nguồn ngữ liệu chính dựa trên văn bản dịch tiếng Việt (Chuyện làng nho, bản dịch 1989 của Phan Võ - Nhữ Thành), luận án chưa thể bao quát toàn bộ các biến thể văn bản học chữ Hán qua các bản khắc in thời Thanh. Đồng thời, do tập trung chuyên sâu vào phương diện nghệ thuật châm biếm, một số khía cạnh thi pháp khác như không gian nghệ thuật, thời gian nghệ thuật hay thi pháp văn xuôi tự sự thuần túy chưa được khảo sát toàn diện.
Hướng nghiên cứu tiếp theo được mở ra bao gồm: mở rộng nghiên cứu văn bản học so sánh giữa bản dịch tiếng Việt và nguyên tác chữ Hán; tiếp tục khảo sát sâu hơn sự tương đồng và dị biệt trong nghệ thuật trào phúng giữa tiểu thuyết cổ điển Trung Quốc và tiểu thuyết hiện thực phê phán Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo chuyên khảo hữu ích cho nhiều đối tượng trong giới nghiên cứu và đào tạo:
- Đối với giảng viên và nghiên cứu sinh, học viên cao học: Công trình cung cấp hệ thống tư liệu tổng quan toàn diện về lịch sử nghiên cứu Nho lâm ngoại sử tại Trung Quốc, phương Tây và Việt Nam; đồng thời là một gợi ý về quy trình thao tác hóa lý thuyết cái hài và thi pháp học tự sự vào phân tích văn bản tiểu thuyết cổ điển.
- Đối với sinh viên chuyên ngành Ngữ văn, Văn học nước ngoài, Văn học so sánh: Luận án hỗ trợ việc tìm hiểu sâu sắc về tác gia Ngô Kính Tử, nghệ thuật xây dựng nhân vật biếm họa và kỹ thuật kiến tạo tình huống trào phúng.
- Phần đáng tham khảo nhất: Nội dung Chương 3 (phân loại hệ thống nhân vật) và Chương 4 (khảo sát tình huống và giọng điệu châm biếm), nơi các thao tác phân tích văn bản được thực hiện cụ thể, gắn liền với các dẫn chứng trích dẫn trực tiếp từ tác phẩm.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án phân tích nguồn gốc từ nguyên của khái niệm "châm biếm" và mối quan hệ với "phúng thích" như thế nào?
Luận án chỉ ra rằng "châm" (kim tiêm, kim khâu) kết hợp với "biêm" (kim đá trị bệnh thời cổ) tạo thành từ "châm biêm" (針砭), mang nghĩa bóng là dùng lời lẽ răn dạy, chỉ trích khuyết điểm. Người Việt Nam dùng từ "châm biếm" (針貶) là do hiện tượng nói chệch, đồng âm dị nghĩa. Khái niệm này hoàn toàn tương đương với thuật ngữ "phúng thích" (諷刺) trong tiếng Hán, đều chỉ phương thức dùng lời bóng gió, tế nhị để chế giễu, đả kích thói hư tật xấu.
2. Hệ thống nhân vật trong tác phẩm được luận án phân chia thành những nhóm cụ thể nào?
Luận án phân chia thế giới nhân vật thành hai nhóm đối tượng chính: (1) Tầng lớp trí thức nho sĩ (gồm nhóm nho sĩ đỗ đạt như Chu Tiến, Phạm Tiến và nhóm nho sĩ thi trượt, lỗi thời như Khuông Siêu Nhân, Vương Ngọc Huy); (2) Tầng lớp thống trị (gồm tầng lớp vua chúa phản ánh gián tiếp qua thiết chế và hệ thống quan lại thực thi như Trương Tĩnh Trai, Vương Huệ, Nghiêm cống sinh).
3. Ba kiểu tình huống châm biếm cơ bản được luận án khái quát là gì?
Ba kiểu tình huống gồm: tình huống đảo chiều, quay ngược (thay đổi vị thế đột ngột); tình huống cãi lộn, kiện tụng (bộc lộ bản chất vụ lợi qua va chạm xã hội); và tình huống mưu mô, sắp đặt (thủ đoạn lừa bịp của giới trí thức tha hóa).
4. Ba sắc thái giọng điệu châm biếm chính trong tiểu thuyết gồm những dạng nào?
Luận án xác định ba âm sắc giọng điệu: giọng điệu hài hước (gây cười nhẹ nhàng trước sự kệch cỡm); giọng điệu triết lý (suy ngẫm thâm trầm về sự suy đồi văn hóa); và giọng điệu mỉa mai (lối trần thuật phớt lạnh, khách quan nhưng châm biếm sâu cay).
5. Luận án và các công trình được điểm lại đánh giá như thế nào về kết cấu của Nho lâm ngoại sử?
Tác phẩm không có cốt truyện duy nhất hay nhân vật trung tâm xuyên suốt từ đầu đến cuối như tiểu thuyết truyền thống, mà được tổ chức theo kết cấu chuỗi các phiến đoạn tự sự ghép nối (như Lỗ Tấn ví với bức tranh ghép bằng mảnh giấy vụn). Sự liên kết chặt chẽ của toàn bộ tác phẩm được duy trì nhờ một chủ đề và tư tưởng trung tâm duy nhất là phơi bày sự thoái hóa của "rừng Nho" và chế độ phong kiến.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của Lê Sỹ Điền là công trình nghiên cứu chuyên sâu, có hệ thống về nghệ thuật châm biếm trong kiệt tác Nho lâm ngoại sử của Ngô Kính Tử. Bằng việc kết hợp phương pháp hệ thống hóa, loại hình học và thi pháp học tự sự, tác giả đã làm rõ bản chất loại hình châm biếm, phân loại rành mạch thế giới nhân vật và mổ xẻ cơ chế vận hành của các tình huống, giọng điệu trào phúng. Công trình góp phần khẳng định giá trị tư tưởng hiện thực cùng tầm vóc nghệ thuật của Ngô Kính Tử trong lịch sử tiểu thuyết cổ điển Trung Quốc.